Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoàn bài chuyên đề là do em tự viết, không sao chép các tài
liệu khác. Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Hải Yến
SV:Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
CHƯƠNG I 3
- Quy định của luật chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc hoàn thiện hồ sơ dự thầu (HSDT) nhằm thống
nhất phương pháp đánh giá và việc lựa chọn nhà thầu đạt được mục tiêu quản lý của Nhà nước đối
với các dự án đầu tư xây dựng 57
Số lượng 98
Công suất 98
Thiết bị cốp pha trượt 98
Thiết bị thi công đường 98
Thiết bị thi công cầu 99
Thiết bị khác 100
Các thiết bị phòng kỹ thuật 101
HCM 104
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG I 3
- Quy định của luật chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc hoàn thiện hồ sơ dự thầu (HSDT) nhằm thống
nhất phương pháp đánh giá và việc lựa chọn nhà thầu đạt được mục tiêu quản lý của Nhà nước đối
nói riêng trong thời buổi hiện nay.
Ngoài ra,trong thời gian thực tập tại Tổng công ty xâu dựng công trình giao
thông 4 em nhận thấy tồn tại một số vấn đề lớn ở tổng công ty hiện nay là làm thế
nào để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng , khẳng định
được vị thế và thương hiệu trên thị trường xây dựng trong và ngoài nước.Chính vì
vậy mà mà em quyết định chọn đề tài : “ Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu
thầu xây dựng của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 – CIENCO4 “ để
trình trong chuyên đề tốt nghiệp.
Kết cấu đề tài ngoài phần mở đầu , kết luận, chuyên đề gồm ba phần :
Chương 1 : Đấu thầu và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh
đấu thầu xây dựng.
Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 4.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
xây dựng của tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4.
Hoàn thành chuyên đề này, em xin cảm ơn sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của
TS Bùi Đức Tuân cùng với các cô chú và anh chị trong phòng kinh doanh của tổng
công ty xây dựng công trình giao thông 4.
Em xin chân thành cảm ơn !
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I
ĐẤU THẦU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
thầu; Cạnh tranh giữa các nhà thầu. Có thể hình dung đấu thầu là một cuộc mua
bán, trong đó bên mua là chủ đầu tư và bên bán là các nhà thầu. Tuy nhiên, không
giống như các hoạt động mua bán thông thường khác, tính chất hàng hoá của sản phẩm
xây dựng thể hiện không rõ do việc tiêu thụ diễn ra trước khi có sản phẩm và thực hiện
theo dự toán (chứ không phải giá thực tế). Theo lí thuyết hành vi thì người mua luôn cố
gắng để mua được hàng hoá với mức giá thấp nhất ở chất lượng nhất định, còn người
bán lại cố gắng bán được mặt hàng đó ở mức giá cao nhất có thể. Do đó, nẩy sinh tính
cạnh tranh trong hoạt động kinh tế này. Và kết quả là thông qua việc tổ chức hoạt động
cạnh tranh sẽ hình thành giá thầu hay giá dự toán công trình.
Đấu thầu còn là cách thức để xét hiệu quả kinh tế trong việc lựa chon đơn vị
thi công xây dựng (các nhà thầu). Cách thức nàysẽ so sánh, đánh giá giữa các nhà
thầu theo một quy trình và căn cứ vào một hệ thống các tiêu chuẩn nhất định. Kết
quả cuối cùng sẽ tìm ra được một nhà thầu đáp ứng tốt các yêu cầu về công trình
của chủ đầu tư.
Vậy có thể nói hình thức đấu thầu được hình thành trong nền kinh tế thị
trường vì bản chất của nó là một hoạt động mang tính cạnh tranh, và nó sẽ chỉ phát
huy được giá trị riêng có của nó khi được đặt trong một nền kinh tế thị trường phát
triển.
Sau nhiều thập kỷ thực hiện hình thức giao thầu xây dựng nói chung, xây
dựng công trình giao thông (XDCTGT) nói riêng và theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung, lần đầu tiên tại Việt Nam áp dụng hình thức đấu thầu theo Quyết định
183/TTg ngày 16 tháng 4 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Hội
đồng xét thầu quốc gia và sau đó là nhiều lần chỉnh sửa quy chế đầu thầu, đã đánh
dấu một bước ngoặt lớn của việc thực hiện quá trình chuyển đổi tổ chức và quản lý
xây dựng. Từ đó, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cũng bắt đầu
bước vào một thời kỳ mới của sự phát triển, đó là thời kỳ cạnh tranh trong đấu thầu
các công trình xây dựng.
Theo quy định tại mục 2 điều 4 chương 1 luật đấu thầu được quốc hội nước
công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì:
“Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu bên mời thầu để
nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp
luật về đấu thầu. Về phía các nhà thầu thì nhà thầu là tổ chức, cá nhân có đủ tư
cách hợp lệ theo quy định tại Điều 7, Điều 8 của Luật Đấu thầu để tham gia vào quá
trình lựa chọn nhà thầu của BMT.
Về đối tượng hàng hóa tham gia đấu thầu xây dựng. Hàng hóa trong đấu thầu
xây dựng là các dự án xây lắp,cung ứng hàng hóa, tư vấn về thiết kế, giám sát, đầu
tư v.v… tính chất hàng hoá của sản phẩm xây dựng thể hiện không rõ do việc tiêu
thụ diễn ra trước khi có sản phẩm và thực hiện theo dự toán (chứ không phải giá
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
thực tế). Các nhà thầu cạnh tranh với nhau để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh trong
đấu thầu tuyển chọn tư vấn thiết kế, đấu thầu mua sắm hàng hóa, thiết bị, đấu thầu
xây lắp, đấu thầu thực hiên lựa chọn đối tác thực hiện dự án v.v… Hàng hóa ban
đầu được đem ra thị trường chưa được định giá rõ ràng các chủ đầu tư và các nhà
thầu sẽ dựa trên các thông số về yêu cầu kinh tế - kỹ thuật của dự án để định ước giá
trước và thông qua hoạt động đấu thầu để xác định giá cả cụ thể cho các loại hàng
hóa này và điều kiện để hoàn tất việc mua bán. Tính cạnh tranh giữa các chủ đầu tư
(người mua) với các nhà thầu (người bán) và giữa các nhà thầu với nhau sẽ hình
thành nên giá thầu đảm bảo tính kinh tế - kĩ thuật nhất nhằm bán được sản phẩm
của mình.
2. Các nguyên tắc, hình thức và phương thức đấu thầu xây dựng
2.1. Các hình thức tổ chức đấu thầu.
Về hình thức tổ chức đấu thầu. Việc lựa chọn nhà thầu có thể được thực hiện
theo hai hình thức chủ yếu là đấu thầu rông rãi và đấu thầu hạn chế.
Đấu thầu rộng rãi là hình thức không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia.
Bên mời thầu phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và
ghi rõ các điều kiện, thời gian dự thầu. Đối với những gói thầu lớn, phức tạp về
công nghệ bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển để lựa chọn nhà thầu có đủ tư các
Đấu thầu hai giai đoạn.
Các trường hộ áp dụng.
- Các gói thầu mua sắm và xây lắp có giá trị từ 500 tỷ đồng trở lên.
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị
toàn bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp.
- Các dựa án thực hiện theo hợp đồng chìa khóa trao tay.
Quy trình đấu thầu hai giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ trình bày các đề suất kỹ
thuật và phương án tài chính cho bên mời thầu. Sau đó bên mời thầu sẽ xem xét và
đánh giá thảo luận cụ thể với từng nhà thầu nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu
chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ đấu thầu chính thức.
- Giai đoạn 2: Bên mời thầu mới các nhà thầu đã tham gia giai đoạn 1 nộp hồ
sơ dự thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã được bổ sung theo yêu cầu chung của
dự án và đề xuất chi tiết về tài chính với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện , điều
kiện thực hiện hợp đồng , giá dự thầu.
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
2.3. Nguyên tắc đấu thầu.
Về nguyên tắc đấu thầu. Đấu thầu xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc mua
bán đặc thù đó là nguyên tắc công bằng, bí mật, công khai, có đủ năng lực và trình
độ, đảm bảo các cơ sở pháp lý.
Nguyên tắc công bằng trong đấu thầu thể hiện ở chỗ quyền bình đẳng giữa
các chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu. Các nhà thầu được đảm bảo đối xử bình
đẳng trong việc tiếp cận thông tin từ chủ đầu tư, bình đẳng trong việc trình bày các
giải pháp kinh tế - kỹ thuật của mình trước chủ đầu tư, trong quá trình thực hiện các
thủ tục tham gia đấu thầu .
Nguyên tắc bí mật thể hiện ở chỗ các chủ thể tham gia đấu thầu bao gồm
chủ đầu tư và các nhà thầu phải giữ bí mật về các thông số trong đó hồ sơ dự thầu
xây dựng trong đấu thầu là quá trình doanh nghiệp đưa ra những giải pháp về kỹ
thuật, trang bị máy móc thiết vị, nhân lực, tiến độ thi công, giá bỏ thầu, ưu thế về
kinh nghiệm thi công v.v thể hiện tính ưu việt của mình so với các nhà thầu khác
nhằm thỏa mãn các yêu cầu của bên mời thầu trong việc thực hiện dự án. Theo
nghĩa rộng thì cạnh tranh trong đấu thầuxây dựng là sự ganh đua quyết liệt giữa các
doanh nghiệp trong qua trình tìm kiếm thông tin, đưa ra các giải pháp về kỹ thuật,
ưu thế về kinh nghiệm, điều kiện thực hiện dự án và giá bỏ thầu v.v…để đảm bảo
trúng thầu và thực hiện các cam kết theo hợp đồng ký kết với chủ đầu tư. Thường
thì hoạt động cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng được hiểu theo nghĩa rộng và có
ba đặc điểm cơ bản sau.
3.1. Chủ thể cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Các chủ thể cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng có cùng mục tiêu theo đuổi đó
là phải dành lợi thế tương đối về phía mình. Như đã phân tích ở trên thì quan hệ
cạnh tranh trong đấu thầu diễn ra giữa chủ đầu tư với các nhà hầu và giữa các nhà
thầu với nhau. Xét trên mối quan hệ cạnh tranh giữa chủ đầu tư và nhà thầu thì chủ
đầu tư luôn mong muốn mình mua được công trình xây dựng có chất lượng cao,
thời gian thi công ngắn, chi phí hợp lý. Còn về phía nhà thầu trong quan hệ này thì
mong muốn bán được công trình có giá cao với chi phí hợp lý và có lợi nhất trong
hạn độ đảm bảo các qui chuẩn của xây dựng. Trong quan hệ cạnh tranh giữa các
nhà thầu với nhau thì mỗi nhà thầu đều muốn bán được sản phẩm của mình bằng
cách nâng cao các lợi thế cạnh tranh của mình như nâng cao các giải pháp kỹ thuật ,
giá cả hay thỏa thuận với chủ đầu tư.
3.2. Đối tượng cạnh tranh.
Đối tượng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng chính là các tiêu chí tạo nên lợi
thế so sánh giữa các nhà thầu với nhau, hay chính là các tiêu chí mà chủ đầu tư
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
dùng để đánh giá để lựa chọn nhà thầu. Trên thực tế thì có rất nhiều tiêu chí để nhà
Cạnh tranh theo chiều rộng là hình thức cạnh tranh với lập trường đa dạng
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
hóa các công trình xây dựng mà doanh nghiệp đang kinh doanh.Hình thức này phải
thực hiện dựa trên cơ sở nguồn lực hiện có, cải tiến các phương thức thanh toán và
điều kiện thi công trong hợp đổng nhận thầu, nâng cao năng lực xây dựng hồ sơ dự
thầu, đẩy mạnh maketing về doanh nghiệp, đổi mới công tác tổ chức thi công….
Cạnh tranh theo chiều sâu là sự đầu tư của doanh nhiệp thông qua việc
nâng cấp thiết bị thi công, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đầu tư nghiên
cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào thi công. Thực chất nó là sự cạnh tranh giữa
các nhà thầu thông qua việc nghiên cứu nâng cao hàm lượng kỹ thuật của các công
trình nói riêng và của các nhà thầu nói chung.
Tuy nhiên trên thực tế, các doanh nghiệp xây dựng thường dùng cả hai
phương thức này để phân tán rủi ro đồng thời có thể linh hoạt hỗ trợ lẫn nhau để
phát triển nhanh và ổn định.
II. Năng lực đấu thầu và tiêu chí đánh giá năng lực đấu thầu trong lĩnh
vực xây dựng các công trình giao thông
1. Năng lực đấu thầu
Khái niệm về năng lực đấu thầu.
Theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng.
2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp xây
dựng:
2.1. Năng lực tài chính của doanh nghiệp xây dựng.
Năng lực tài chính của doanh nhiệp xây dựng là một tiêu chí đóng vai trò
quan trọng, cho thấy khả năng thực hiện dự án, và được đánh giá bằng các tiêu chí
sau đây:
Tỉ số vay nợ trên tổng tài sản.
nghiệp (như nợ và các khoản phải trả) bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp,
như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho. Nó cho phép hình dung ra chu kì
hoạt động của công ty xem có hiệu quả không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành
tiền mặt có tốt không.
Khả năng thanh toán hiện hành =
Tài sản lưu động x 100 (%)
Nợ ngắn hạn
Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng lớn. Nếu hệ số
này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ
của mình khi tới hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình
hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất
nhiều cách để huy động thêm vốn.
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Khả năng thanh toán nhanh.
Thực tế hiện này công thức tính khả năng thanh toá nhanh đã có vài thay đổi
để phản ánh được chính xác hơn khả năng trả nợ ngay của một doanh nghiệp. Nhìn
chung hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất. Tuy nhiên giống như hệ số thanh toán nợ
ngắn hạn, độ lớn của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn
thanh toán các món nợ trong kỳ.
Khả năng thanh toán nhanh =
Tiền + Các khoản tương đương tiền
Nợ tới hạn + Nợ quá hạn
Khả năng thanh toán tức thời.
Khả năng thanh toán tức thời =
Tiền mặt
Nợ ngắn hạn
2.2. Số lượng công trình trúng thầu:
Σ Gtt
x100%
Σ Gdt
Với P2 là tỷ lệ trúng thầu theo giá trị công trình.
Gtt là giá trị công trình trúng thầu.
Gdt là giá trị công trình dự thầu.
2.5. Chỉ tiêu về lợi nhuận của DN:
Lợi nhuận là mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói
chung, sau đây là hai hệ số cơ bản thường được dùng để đánh giá tiêu chí này.
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu =
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn
sản xuất kinh doanh
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn sản xuất kinh doanh
2.6. Chỉ tiêu về chất lượng thi công công trình:
Chất lượng công trình là tổng hợp các đặc tính theo yêu cầu của quy trình
xây dựng và người sử dụng. Trong lĩnh vực xây dựng, chất lượng công trình biểu
hiện ở công năng sử dụng, độ an toàn, tuổi thọ, tính kinh tế, tính kỹ thuật và mỹ
thuật của công trình. Với sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật như hiện
nay thì cạnh tranh thông qua chất lượng công trình giao thông là rất gay gắt và
không có giới hạn.
Các doanh nghiệp tham gia đấu thầu xây dựng hiện nay không ngừng
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiên cứu để ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao các giải
Với K
G
là hệ số cạnh tranh về giá của nhà thầu.
GA là giá gói thầu
Gi là giá dự thầu của nhà thầu thứ i.
Để đặt được giá thầu hợp lý thì trên thực tế cần phải cân nhắc dựa trên nhiều
yếu tố khác như là:
Môi trường tự nhiên, các điều kiện kinh tế xã hội nơi thực hiện dự án như là
đường giao thông, điện, nước, trình độ dân trí, khả năng kha thác vật tư tại chỗ v.v….
Đặc thù yêu cầu kinh tế - kỹ thuật của dự án.
Tiến độ thực hiện dự án
Khả năng đảm bảo tiến độ theo quy định đã cam kết.
Khả năng rút ngắn tiến độ thi công
Tính hợp lý về tiến độ thực hiện công trình liên quan.
Kinh nghiệm của nhà thầu: đây là yếu tố rất có trọng lượng khi xem xét
và lựa chọn nhà thầu của các chủ đầu tư. Vì qua kinh nghiệm và uy tín các chủ đầu
tư có thể tin tưởng về chất lượng công trình cũng như những cam kết đặt ra sẽ được
tuân thủ và hoàn thành đúng yêu cầu. Uy tín của nhà thầu được thể hiện ở uy tín về
thương hiệu, uy tín về năng lực thi công, về năng lực tài chính, chất lượng cán bộ
quản lý, kỹ sư và công nhân v.v… Xây dựng thương hiệu uy tín là chiến lược mang
tính sống còn của một doanh nghiệp xây dựng.
3. Các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh trong
đấu thầu xây dựng.
3.1. Nhân tố chủ quan của doanh nghiệp:
3.1.1. Khả năng tài chính.
Nhà thầu có khả năng về tài chính không chỉ tạo được vị thế tương đối hơn
các nhà thầu khác trong công tác đấu thầu mà còn tác động tích cực tới hiệu quả sản
xuất kinh doanh của bản than doanh nghiệp mình.
Từ góc nhìn của chủ đầu tư thì khả năng tài chính của nhà thầu sẽ tạo được
sự tin tưởng về nhiều mặt như khả năng thực hiện dự án, các giải pháp kỹ thuật sẽ
Cán bộ cấp trung gian: trong doanh nghiệp xây dựng cán bộ cấp trung
gian là các đội trưởng thi công, kỹ sư trưởng, trưởng các phòng ban. Họ là những
người tiếp nhận kế hoạch từ cấp trên và lãnh đạo cấp dưới để hoàn thành nhiệm vụ
theo đúng kế hoạch đó. Vai trò của họ cũng rất quan trọng bởi họ là nhân tố tác
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
17
Chuyên đề tốt nghiệp
động lớn đến quá trình thực hiện dự án, đảm bảo tiến đô thực hiện dựa án, đáp ứng
đúng yêu cầu kỹ thuật và an toàn lao động.
Cán bộ cấp cơ sở: là những nhà quản trị cấp cuối cùng trong cơ cấu tổ
chức của doanh nghiệp (thường là đốc công, tổ trưởng, trưởng ca). Với vai trò này
họ có nhiệm vụ là hướng dẫn, đôn đốc, chỉ đạo công nhân thực hiện các công việc
cụ thể nhằm hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do doanh nghiệp đặt ra, trực tiếp điều
phối lực lượng nhân công, máy móc công trình. Công việc của họ có ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng, tiến độ thi công, đề suất kiến nghị kịp thời, đưa ra giải pháp phù
hợp nhằm đẩy nhanh tiến độ và bảo đảm chất lượng công trình. Đồng thời, do đặc thù
công việc phải thường xuyên tiếp xúc với công nhân nên đây là cầu nối quan trọng
giữa công nhân với cán bộ cấp cao với nhau, nhằm tạo điều kiện cho cán bộ có thể
hiểu và tạo điều kiện cho công nhân yên tâm phát huy được tinh thần làm việc cũng
như là kênh để công nhân có thể phản ánh và góp ý với cán bộ cấp trên.
Công nhân: đây là đối tượng mà chủ đầu tư thường chú ý rất nhiều bởi họ
là lực lượng lao động trực tiếp của doanh nghiệp thực hiện công trình trong gói thầu.
Họ là nhân công kỹ thuật, kỹ thuật viên trên công trường, đội ngũ lao đông lành nghề
có kinh nghiệm. Khi tham gia đấu thầu, việc huy động, xắp xếp đội ngũ công nhân có
tay nghề, có kinh nghiệm chuyên môn và cơ cấu hợp lý là một lợi thế lớn của doanh
nghiệp. Do đó, để tạo sự phát triển ổn đinh lâu dài cho doanh nhiệp thì việc đào tạo,
tuyển dụng và chăm lo đời sống của người lao động là rất quan trọng.
3.1.3. Kỹ thuật hồ sơ và đặt giá dự thầu
Kỹ thuật hồ sơ dự thầu là bước đầu của quá trình tham gia dự thầu, nhà
chưa cao hoặc mới gia nhập và thị trường…
3.1.4. Năng lực áp dụng máy móc thiết bị và ứng dụng khoa học công
nghệ hiện đại.
Máy móc thiết bị của doanh nghiệp xây dựng là thước đo trình độ kỹ thuật,
thể hiện năng lực thi công của doanh nghiệp và được phản ánh dưới dạng tài sản cố
định của công ty. Vì vậy nó rất có trọng lượng trong các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh
tranh của doanh nghiệp trong công tác đấu thầu. Đánh giá năng lực áp cụng máy
móc thiết bị và khả năng ứng dụng khoa hoạc kỹ thuật thường đánh giá trên các
khía cạnh sau:
Tính đồng bộ của máy móc thiết bị thể hiện ở sự phù hợp giữa:
Các loại máy móc thi công với nhau
Giữa máy móc và công nghệ áp dụng
Tính phức tạp của sản phẩm do công nghệ đó tạo ra.
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ biểu hiện ở công nghệ sản xuất, năm
sản xuất, hãng sản xuất, thời gian sử dụng và công suất.
Khả năng đổi mới máy móc công nghệ. Tiêu chí này đóng vai trò quan
trọng trong việc xem xét đánh giá năng lực máy móc thiết bị, nó đòi hỏi nhà thầu
phải đầu tư nghiên cứu và mua sắm, đổi mới máy móc công nghệ. Việc này không
chỉ làm tăng năng lực thi công của doanh nghiệp mà còn tạo nên uy tín kinh doanh,
nâng cao hiệu quả kinh tế của công tác thi công công trình.
Tính hiệu quả trong sử dụng vận hành máy móc thiết bị. Biểu hiện ở khả
năng làm chủ và khai thác hiệu quả máy móc với chi phí thấp và khấu hao hợp lý.
3.1.5. Năng lực về kinh nghiệm thi công.
Năng lực thi công thể hiện chủ yếu ở tiến độ thi công công trình và các giải
pháp kỹ thuật được đưa ra. Về kỹ thuật thì đã được bàn ở phần trên. Còn về tiến độ
thi công nhằm giảm thiểu chi phí, nâng cao năng lực đấu thầu.
Có hai hình thức liên danh – liên kết diễn ra trên nguyên tắc bình đẳng đó là:
Liên danh – liên kết các đối tượng tham gia dự thầu.
Liên danh – liên kết thành các tập đoàn xây dựng.
3.1.7. Khả năng Marketing của doanh nghiệp.
Xét về bản chất thì đấu thầu vẫn là một hoạt động mua bán, do đó yếu tố
marketing cũng đóng vai trò không nhỏ đến sự thành công của doanh nghiệp trong
quá trình diễn ra hoạt động này trên bối cảnh nền kinh tế thị trường.
Hoạt động quảng cáo thiếp thị trong đấu thầu nhằm xây dựng hình ảnh của
công ty, quảng bá được sản phẩm mà doanh nghiệp đang bán thông. Cụ thể là nhóm
thực hiện marketing trong doanh nghiệp sẽ mời chào những giải pháp công nghệ,
tiềm lực tài chính cũng như các lợi thế cạnh tranh khác nhằm thu hút sự chú ý của
chủ đầu tư. Còn sau khi hoàn thành dự án, nhiều doanh nghiệp hiện nay còn thực
hiện các dịch vụ sữa chữa, bảo dưỡng định kỳ, bảo hành bảo lãnh công trình…
nhằm tạo sự hài lòng cho khách hàng và gây dựng uy tín cũng như niềm tin vào
công ty.
Hoạt động quảng cáo, tiếp thị đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác, tính kịp
thời của thông tin về doanh nghiệp cũng như thị trường, thường xuyên tìm hiểu, tiếp
xúc với các chủ dự án, bạn hàng, đối tác với các cơ quan truyền thông nhằm tuyên
truyền, quảng cáo về doanh nghiệp mình. Đây là một công việc rất khó khăn nhưng
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
21
Chuyên đề tốt nghiệp
đạt được tiêu chí này thì doanh nhiệp sẽ có vị thế rất lâu dài.
SV: Nguyễn Hải Yến
Lơp: Kế hoạch B
22