BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
VŨ BÁ MẠNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP- ÁP DỤNG CHO
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP THÀNH AN 96 LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP THÀNH AN 96 Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Mã chuyên ngành: 60.58.03.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hùng
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn trường Đại học Thủy lợi trong suốt thời gian
nghiên cứu vừa qua, đã được trang bị thêm những kiến thức cần thiết về các vấn đề
kinh tế - kỹ thuật. Cùng sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô trong trường đã giúp
tác giả hoàn thiện mình hơn về trình độ chuyên môn.
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo PGS.TS Phạm Hùng đã
trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Học viên
Vũ Bá Mạnh
MỤC LỤC:
PHẦN MỞ ĐẦU 1
2.1.1 Lịch sử ra đời 30
2.1.2 Quá trình phát triển 30
2.2 Những đặc điểm ảnh hưởng đến khả năng thắng thầu của Công ty Cổ phần
Xây lắp Thành An 96 33
2.2.1 Đặc điểm cơ cấu lao động 33
2.2.2 Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý thuộc công ty 38
2.2.3 Đặc điểm về máy móc thiết bị và công nghệ xây dựng 42
2.2.4. Đặc điểm về tài chính 47
2.2.5 Đặc điểm về chất lượng công trình 50
2.2.6 Đặc điểm về tiến độ thi công công trình 52
2.3 Tình hình đấu thầu xây lắp của Công ty cổ phần xây lắp Thành An 96
trong giai đoạn 2007-2012 53
2.4 Phân tích thực trạng dự thầu xây lắp của Công ty cổ phần xây lắp Thành
An 96 trong giai đoạn 2007-:-2012 63
2.4.1 Quy trình thực hiện hoạt động đấu thầu của Công ty CPXL Thành An 96 63
2.4.2 Công tác lập hồ sơ dự thầu của Công ty cổ phần xây lắp Thành An 96 65
2.4.3 Những kết quả đạt được về công tác quản lý đấu thầu của công ty trong
thời gian vừa qua 72
2.5 Nguyên nhân những tồn tại hạn chế trong cạnh tranh dự thầu xây lắp của
Công ty cổ phần xây lắp Thành An 96 73
2.5.1 Những tồn tại, hạn chế của công ty 73
2.5.2 Nguyên nhân chủ quan 74
2.5.3 Nguyên nhân khách quan 76
Kết luận chương 2 78
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM TĂNG KHẢ NĂNG THẮNG THẦU TRONG ĐẤU THẦU XÂY
LẮP Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP THÀNH AN 96 79
3.1 Định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây lắp
Thành An 96 trong thời gian tới 79
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 16
Hình 2.1: Biểu đồ tỷ trọng cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật của Công ty 38
Hình 2.2: Sơ đồ Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty 40
Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ đấu thầu theo số lượng 60
Hình 2.4: Biểu đồ tỷ lệ đấu thầu theo giá trị 61
Hình 2.5: Biểu đồ so sánh số công trình tham dự thầu với số lượng công trình
trúng thầu qua các năm của Công ty 62
Hình 2.6: Biểu đồ giá trị trung bình của các công trình trúng thầu của Công ty
giai đoạn 2007-2012 63
Bảng 3.9: Kết quả đánh giá tiến độ thi công 95
Bảng 3.10: Kết quả đánh giá thiết bị thi công 96
Bảng 3.11: Kết quả đánh giá nhân sự chủ chốt 96
Bảng 3.12: Kết quả mở thầu của các nhà thầu 97
Bảng 3.13: Kết quả tổng hợp đánh giá về kỹ thuật 97
KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
QH : Quốc hội
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Cùng với sự chuyển đổi kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa là mở cửa nền kinh tế, chấp nhận sự
cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước cũng như trên trường quốc tế. Trong lĩnh
vực xây dựng cơ bản cũng vậy, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng ngày
càng trở nên gay gắt. Khác với các ngành khác, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
xây dựng lại được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức đấu thầu do chủ đầu tư tổ
chức. Vì vậy, đấu thầu là một hình thức cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng.
Là một đất nước đang phát triển nhu cầu đầu tư xây dựng ở nước ta rất lớn bao
gồm đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, điện lực, xây dựng công nghiệp,
dân dụng…với tổng mức vốn đầu tư hàng năm cho lĩnh vực này chiếm tỷ lệ không nhỏ
trong GDP đã tạo ra nhiều cơ hội cạnh tranh cho các doanh nghiệp xây dựng. Để thực
hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản một cách hiệu quả, hệ thống cần thiết phải tạo
ra một môi trường cạnh tranh tốt cho các doanh nghiệp xây dựng. Trên thực tế, đấu
thầu là hình thức cạnh tranh tạo ra môi trường tốt nhất.
Tuy nhiên hoạt động đấu thầu ở nước ta vào những năm gần đây trở nên phổ biến
trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế xã hội. Đấu thầu xây lắp là hình tổ chức kinh
doanh có hiệu qủa nhất đối với cả chủ đầu tư cũng như đối với các doanh nghiệp tham
gia đấu thầu, đồng thời đấu thầu cũng mang lại lợi ích lớn cho xã hội.
Để giành thắng lợi trong đấu thầu xây lắp đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng
được triển khai trong thời gian gần đây của Công ty Cổ phần Xây lắp Thành An 96
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
5.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Luận văn góp phần hệ thống hóa những cơ sở lý luận cơ bản về đấu thầu xây
dựng công trình, những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của công tác này.
Những nghiên cứu chuyên sâu về nâng cao năng lực cạnh tranh trong công tác đấu
thầu của Công ty Cổ phần Xây lắp Thành An 96 là những tài liệu góp phần hoàn thiện
hơn lý luận này.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Kết quả phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường công tác đấu thầu,
nâng cao năng lực cạnh tranh trong công tác đấu thầu, những ý nghĩa thiết thực, hữu
ích có thể vận dụng vào công tác đấu thầu của Công ty Cổ phần Xây lắp Thành An 96.
6. Kết quả dự kiến đạt được:
Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra, luận văn cần phải giải quyết được
những kết quả sau đây:
- Những vấn đề lý luận chung về đấu thầu xây lắp và sức cạnh tranh trong đấu thầu
xây lắp;
- Phân tích thực trạng công tác đấu thầu của Công ty Cổ phần Xây lắp Thành An 96 3
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường đấu thầu Công ty Cổ phần Xây lắp Thành
An 96, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong công tác đấu thầu, sử vốn ngân sách
của nhà nước.
7. Nội dung của luận văn:
Chương 1: Những vấn đề về đấu thầu xây lắp và sức cạnh tranh trong đấu thầu
về xây lắp
Chương 2: Thực trạng đấu thầu và thắng thầu của Công ty Cổ phần Xây lắp
Thành An 96 trong giai đoạn 2007-2012
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm tăng khả năng thắng thầu
1.1 Vấn đề cơ bản về đấu thầu xây lắp
1.1.1 Những khái niệm cơ bản về đấu thầu
1.1.1.1 Khái niệm và thực chất của đấu thầu.
Theo định nghĩa về thuật ngữ “đấu thầu” trong Quy chế đấu thầu của Việt Nam:
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu
trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu. Kết quả của sự lựa chọn là có một hợp đồng
được ký kết với các điều khoản quy định chi tiết trách nhiệm của hai bên. Một bên là
nhà thầu phải thực các nhiệm vụ như nêu trong chào hàng (có thể là một dịch vụ tư
vấn, cung cấp một loại hàng hoá hoặc chịu trách nhiệm xây dựng một công trình ),
còn Bên mời thầu sẽ có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán tiền.
Theo Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc
hội đã nêu rõ nội dung của một số thuật ngữ về đấu thầu:
Đấu thầu: là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu
để thực hiện gói thầu thuộc các dự án trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng,
minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Đấu thầu xây lắp: là đấu thầu các công việc có liên quan đến xây dựng công
trình và các hạng mục công trình nhằm lựa chọn ra nhà thầu xây lắp có thể đáp ứng
được yêu cầu kỹ thuật của công việc với mức chi phí hợp lý nhất. Là cuộc cạnh tranh
công khai giữa các nhà thầu với cùng một điều kiện nhằm dành được công trình xây
dựng do chủ đầu tư mời thầu, xét thầu theo quy định đấu thầu của Nhà nước.
1.1.1.2 Các khái niệm liên quan khác.
Hồ sơ mời thầu: là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu
hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà thầu chuẩn
bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu
trúng thầu là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng.
Hồ sơ dự thầu: là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời
thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu.
Giá gói thầu: là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ
sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành.
thầu trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu. Bên mời thầu tổng hợp quá trình lựa chọn
nhà thầu và báo cáo chủ đầu tư về kết quả sơ tuyển, kết quả lựa chọn nhà thầu. Từ đó
chủ đầu tư sẽ thương thảo, hoàn thiện hợp đồng trên cơ sở kết quả lựa chọn nhà thầu
được duyệt và chuẩn bị nội dung hợp đồng để ký kết hợp đồng. Trong quá trình đấu
thầu nguyên tắc phải bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng trong quá trình đấu
thầu. Ngoài ra bên mời thầu phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bên liên
quan nếu thiệt hại đó do lỗi của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Bên mời thầu phải cung cấp các thông tin cho tờ báo về đấu thầu và
trang
thông tin điện tử về đấu thầu và bảo mật các tài liệu về đấu thầu.
Bên nhà thầu: Tham gia đấu thầu với tư cách là nhà thầu độc lập hoặc nhà thầu
liên danh, có quyền yêu cầu bên mời thầu làm rõ hồ sơ mời thầu và thực hiện các cam
kết theo hợp đồng với chủ đầu tư, cam kết với nhà thầu phụ (nếu có). Nhà thầu có 6
quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trong đấu thầu, tuân thủ các quy định của pháp luật
về đấu thầu, bảo đảm trung thực, chính xác trong quá trình tham gia đấu thầu. Ngoài ra
Nhà thầu phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bên liên quan nếu
thiệt hại đó do lỗi của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Tư vấn: là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kinh nghiệm chuyên
môn cho Bên mời thầu trong việc xem xét, quyết định, kiểm tra quá trình chuẩn bị và
thực hiện dự án.
Gói thầu: là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án được phân chia
theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dự án, có quy mô hợp lý và đảo bảo tính
đồng bộ của dự án. Trong trường hợp mua sắm, gói thầu có thể là một hoặc một số loại
đồ dùng, trang thiết bị hoặc phương tiện. Gói thầu được thực hiện theo một hoặc nhiều
hợp đồng (khi gói thầu được chia thành nhiều phần).
1.1.2 Trình tự thực hiện đấu thầu xây lắp.
1.1.2.1 Bước 1: Chuẩn bị đấu thầu:
- Các điều kiện tham gia dự thầu;
- Thời gian, địa điểm nhận hồ sơ mời thầu;
+ Lập hồ sơ mời thầu:
Việc lập hồ sơ mời thầu phải dựa trên các quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu
tư, Báo cáo Nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo đầu tư, kế hoạch đấu thầu được duyệt,
thiết kế kỹ thuật kèm theo dự toán hoặc tổng dự toán được duyệt (đối với đấu thầu xây
lắp) các quy định khác có liên quan (thuế, tiền lương, ưu đãi trong nước ).
Hồ sơ mời thầu phải đảm bảo sự đầy đủ, chính xác, rõ ràng, khách quan và phù
hợp với các căn cứ nêu trên. Vì vậy trong trường hợp Bên mời thầu không đủ năng lực
thì cần sử dụng các tổ chức, cá nhân đủ năng lực, trình độ chuyên môn về gói thầu, am
hiểu các quy định về đấu thầu để xây dựng Hồ sơ mời thầu.
Đặc biệt trong Hồ sơ mời thầu cần đưa ra tiêu chuẩn đánh giá, các điều kiện tiên
quyết bác bỏ Hồ sơ dự thầu, các sắc thuế. Đây sẽ là cơ sở để đánh giá, xếp hạng các
HSDT
Nội dung hồ sơ mời thầu bao gồm:
- Thư mời thầu;
- Mẫu đơn dự thầu;
- Chỉ dẩn đối với nhà thầu ;
- Các điều kiện ưu đãi (nếu có);
- Các loại thuế theo quy định của pháp luật;
- Hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bản tiêu lượng và chỉ dẩn kỹ thuật;
- Tiến độ thi công;
- Tiêu chuẩn đánh giá(bao gồm cả phương pháp và cách thức quy đổi về cùng mặt 8
bằng để xác định giá đánh giá);
- Điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng;
- Mẫu bảo lãnh dự thầu;
- Mẫu thoã thuận hợp đồng;
9
giá các Hồ sơ dự thầu trong đấu thầu dịch vụ tư vấn, đấu thầu lựa chọn đối tác, đánh
giá Hồ sơ dự sơ tuyển, đánh giá về mặt kỹ thuật đối với các gói thầu mua sắm hàng
hoá và xây lắp. Trong trường hợp cần thiết thang điểm sẽ gồm bậc 1, 2, 3 hoặc 4.
- Phương pháp sử dụng giá đánh giá.
Tiêu chuẩn đánh giá dựa trên cơ sở giá đánh giá được sử dụng cho việc đánh giá
Hồ sơ dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp. Đầu tiên cần dùng thang
điểm để đánh giá về mặt kỹ thuật của các Hồ sơ dự thầu. Chỉ những Hồ sơ dự thầu đạt
tối thiểu 70% tổng số điểm kỹ thuật (tuỳ thuộc yêu cầu mua sắm của gói thầu mà trong
tiêu chuẩn đánh giá sẽ quy định mức yêu cầu cao hơn 70%) mới được xác định giá
đánh giá.
Việc xác định giá đánh giá phải được xuất phát từ giá dự thầu của nhà thầu, sau đó
tiến hành sửa lỗi (bao gồm lỗi số học và lỗi khác), hiệu chỉnh sai lệch (so với Hồ sơ
mời thầu và so giữa các phần của Hồ sơ dự thầu ) và cuối cùng mới xác định giá đánh
giá để xếp hạng nhà thầu. Quy chế còn quy định không được sử dụng giá xét thầu, giá
sàn trong quá trình đánh giá các Hồ sơ dự thầu.
Tiêu chuẩn đánh giá tổng quát cần được đưa vào trong Hồ sơ mời thầu và do vậy
được duyệt cùng Hồ sơ mời thầu. Trong trường hợp tiêu chuẩn đánh giá tổng quát này
còn chưa thật đầy đủ , chưa chi tiết thì cần xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chi tiết nhưng
phải được phê duyệt trước thời điểm mở thầu để làm cơ sở tiến hành đánh giá Hồ sơ
dự thầu.
1.1.2.3 Bước 3: Xét thầu:
Việc xét thầu phải căn cứ vào các nội dung yêu cầu trong Hồ sơ mời thầu và tiêu
chuẩn đánh giá đã được duyệt. Một cách tổng quát , việc đánh giá tiến hành theo trình
tự:
+ Đánh giá sơ bộ các Hồ sơ dự thầu:
Mục đích của việc đánh giá sơ bộ là để loại bỏ các Hồ sơ dự thầu không phù hợp
về mặt hành chính pháp lý và căn cứ theo các điều kiện tiên quyết nêu trong Hồ sơ
mời thầu.
- Kết qủa đánh giá xếp hạng các Hồ sơ dự thầu .
- Kiến nghị trúng thầu (nêu rõ tên nhà thầu , giá trúng thầu và loại hợp đồng cũng
như thời gian thực hiện hợp đồng).
1.1.2.4 Bước 4: Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu .
Theo Quy chế, để có căn cứ cho việc quyết định trúng thầu, bên cạnh báo cáo đấu
thầu của Bên mời thầu, còn có Báo cáo thẩm định kết quả đấu thầu của cơ quan chức
năng được giao nhiệm vụ này. Trong trường hợp kết quả gói thầu do Thủ tướng Chính
phủ xem xét thì cơ quan thẩm định kết quả đấu thầu là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đối
với gói thầu mà kết quả đấu thầu thuộc quyền thẩm định của Địa phương thì cơ quan
thẩm định kết quả đấu thầu là các Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Nội dung thẩm định kết quả đấu thầu gồm các vấn đề sau:
- Kiểm tra những căn cứ pháp lý đối với gói thầu như: Quyết định đầu tư, kế hoạch
đấu thầu được duyệt, các quyết định phê duyệt Hồ sơ mời thầu , Tiêu chuẩn đánh giá,
quyết định thành lập tổ chuyên gia đấu thầu và những văn bản liên quan khác.
- Kiểm tra quy trình đấu thầu đã được thực hiện: Thời gian phát hành Hồ sơ mời 11
thầu , thời gian dành cho nhà thầu chuẩn bị Hồ sơ dự thầu , thời gian mở thầu, thời
gian đánh giá Hồ sơ dự thầu .
- Kiểm tra các kết quả đánh giá Hồ sơ dự thầu của Tổ chuyên gia, các ý kiến bảo
lưu, mức độ phù hợp và chính xác của việc đánh giá so với tiêu chuẩn đánh giá đã
duyệt.
- Làm rõ những nội dung cần thiết trong báo cáo đấu thầu của Bên mời thầu .
Điều quan trọng là công việc thẩm định kết quả đấu thầu không phải là việc đánh
giá lại các Hồ sơ dự thầu . Kết quả của việc thẩm định là có một báo cáo thẩm định kết
quả đấu thầu để trình người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền xem xét quyết
định. Trong báo cáo này, cơ quan thẩm định phải khái quát được toàn bộ quá trình đấu
thầu, nêu những mặt đạt được cũng như những tồn tại, cần lưu ý. Đặc biệt trong một số
trường hợp khi cơ quan thẩm định đưa ra một số ý kiến khác với đề nghị của Bên mời
hoặc cấp có thẩm quyền xem xét quyết định để mời nhà thầu xếp thứ hai vào hoàn
thiện hợp đồng.
Những hợp đồng thuộc gói thầu do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kết quả hoặc
các hợp đồng với nhà thầu nước ngoài thì nội dung hợp đồng sau khi được hoàn thiện
phải được người hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
1.1.2.7 Bước 7: Ký hợp đồng:
Đây là công việc cuối cùng giữa Bên mời thầu và nhà thầu trúng thầu để chính
thức hoá những quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi bên trong quá trình thực
hiện gói thầu. Theo Quy chế thì Bên mời thầu phải nhận được bảo lãnh thực hiện hợp
đồng của nhà thầu trước khi ký hợp đồng. Nhà thầu có thể yêu cầu Ngân hàng cấp bảo
lãnh khi đã có quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu do Bên mời thầu công bố. Tuy
nhiên trong trường hợp nếu ngân hàng đưa ra yêu cầu chỉ cấp bảo lãnh khi hợp đồng
đã ký thì Bên mời thầu cần báo cáo người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền cho
phép ký hợp đồng trước, nhưng để có hiệu lực thì phải có bảo lãnh thực hiện hợp đồng
được nộp.
Sau khi ký hợp đồng, quy trình đấu thầu cho một gói thầu được coi là kết thúc.
1.1.3 Các điều kiện của doanh nghiệp xây dựng khi tham gia đấu thầu.
1.1.3.1 Có giấy phép kinh doanh hoặc đăng ký ngành nghề
Đây là các giấy tờ có tính chất pháp lý của nhà thầu được các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chứng nhận cho nhà thầu được quyền hoạt động trên thị trường về
những ngành nghề kinh doanh mà nhà thầu đăng ký trong thời gian nhất định được ghi
trong 2 loại giấy tờ trên.
Khi xin giấy phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh hành nghề thì các cơ quan
nhà nước cử đoàn thanh tra đi kiểm tra. Nếu đảm bảo đúng quy cách, tiêu chuẩn, năng
lực thì nhà thầu đủ tư cách pháp lý để tham gia đấu thầu những ngành nghề mình đăng
ký.
1.1.3.2 Đủ năng lực kỹ thuật, tài chính đáp ứng yêu cầu trong hồ sơ mời thầu
Đây là điều kiện có tính chất cụ thể, thực tế hơn, điều kiện bao gồm:
- Đủ năng lực kỹ thuật: Doanh nghiệp phải có đủ máy móc, thiết bị, công nghệ để
thi công công trình, điều này được nêu trong hồ sơ mời thầu. Về năng lực máy móc
thị trường định hướng XHCN (sau Đại hội Đảng VI năm 1986). Vì vậy, các khái niệm về
cạnh tranh còn được nhận thức rất khác nhau.
Có thể hiểu đơn giản cạnh tranh là sự ganh đua giữa hai hoặc một nhóm người mà
sự nâng cao vị thế của một người sẽ làm giảm vị thế của những người còn lại.
Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là “sự ganh đua giữa các
doanh nghiệp trong việc giành một yếu tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế
của mình trên thị trường”. Người ta có thể hình dung điều kiện để xuất hiện cạnh tranh
trong nền kinh tế là: tồn tại một thị trường với tối thiểu hai thành viên là bên cung hoặc
bên cầu và mức độ đạt mục tiêu của thành viên này sẽ ảnh hưởng đến mức độ đạt mục
tiêu của thành viên khác. Cạnh tranh có thể mang lại lợi ích cho doanh nghiệp này và thiệt
hại cho doanh nghiệp khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác
động tích cực. Nó thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng nỗ lực giảm chi phí cá biệt, 14
tiến tới giảm chi phí xã hội để sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ có giá rẻ hơn, chất lượng
tốt hơn. Nó giúp cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn và được quyền đặt ra các
điều kiện ngày càng cao về sản phẩm, dịch vụ và thái độ phục vụ của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh là thải loại những thành viên yếu
kém, duy trì và phát triển những thành viên tốt nhất. Thông qua đó, hỗ trợ đắc lực cho quá
trình phát triển toàn xã hội. Như vậy, cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của
mỗi doanh nghiệp. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế của doanh nghiệp gây thiệt hại
cho người tiêu dùng hay người cạnh tranh khác.
1.2.1.2 Khái niệm khả năng cạnh tranh trong đấu thấu xây dựng.
Trong đấu thầu xây dựng thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là thị
phần của doanh nghiệp xây dựng, doanh thu, lợi nhuận từ hoạt động đấu thầu, năng
lực tài chính của doanh nghiệp, nguồn nhân lực có trình độ cao có kinh nghiệm,
phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp.
Những yếu tố trên tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh có nghĩa là tạo cho
doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn đối thủ cạnh
nhất định mà chưa chỉ ra được sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này trong suốt quá
trình sản xuất kinh doanh tham gia nhiều công trình khác nhau và đối thủ cạnh tranh ở
mỗi cuộc đấu thầu có thể khác nhau. Việc xác định nhiều chiến lược cạnh tranh của mỗi
doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn. Do vậy ta có thể hiểu cạnh tranh theo một nghĩa rộng hơn.
+ Hiểu theo nghĩa rộng: Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự đấu tranh gay
gắt và quyết liệt giữa các doanh nghiệp xây dựng kể từ khi bắt đầu tìm kiếm thông tin, đưa
ra các giải pháp tham gia đấu thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng cho tới khi hoàn thành
công trình bàn giao theo yêu cầu của chủ đầu tư. Như vậy cạnh tranh trong đấu thầu xây
dựng là một quá trình diễn ra liên tục không ngừng mục đích của cạnh tranh và kết quả
của cạnh tranh là thắng thầu, được chọn thi công công trình. Các doanh nghiệp luôn tìm
kiếm thông tin về các chủ đầu tư, về các nhà thầu khác, về tình hình tài chính, giá cả, về
tình hình phát triển khoa học công nghệ để đưa ra các chiến lược cạnh tranh đúng đắn
trong các cuộc đấu thầu. Trong quá trình cạnh tranh này doanh nghiệp nào nắm bắt được
thông tin sớm nhất thì sẽ chủ động đưa ra giải pháp phù hợp nhất, sẽ nâng cao được khả
năng trúng thầu. Vấn đề quan hệ giữa doanh nghiệp với chủ đầu tư và các mối quan hệ
khác sẽ tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi nó sẽ tạo ra
“những con đường tắt” nhưng chắc chắn để đi đến thắng thầu.
Theo cách hiểu này, một loạt vấn đề mà nhà thầu phải quan tâm giải quyết: từ khâu
tìm kiếm thông tin, đấu thầu, thi công và bàn giao công trình. Các giai đoạn này không
diễn ra tuần tự mà xen kẽ nhau. Bởi cùng một lúc doanh nghiệp có thể tham gia nhiều
cuộc đấu thầu. Do vậy, doanh nghiệp phải có kế hoạch, chiến lược, giải pháp thực hiện
các công việc đó. Ta có thể dùng sơ đồ sau để diễn tả quá trình cạnh tranh trong đấu thầu
xây lắp.
Hình 1.1: Sơ đồ quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng