Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài viết của em là viết văn phong của mình, không sao
chép, dữ liệu trung thực, tin cậy và có nguồn gốc rõ ràng. Bài viết có sử dụng tư
liệu của một số các trang web và giáo trình của khoa kinh tế và thương mại
quốc tế. Ngoài ra, có sử dụng một số sách tham khảo để bổ sung cho bài chuyên
đề được hoàn chỉnh.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Ký và ghi rõ họ tên
Phạm Đại Huynh
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
KMG
DVGNHH
PL
HBL
MBL
FCL
LCL
D/O
C/O
Khải minh Global
Dịch vụ giao nhận hàng hóa
cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời
gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi
phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Trong bối cảnh của toàn cầu hóa, nhất là khi Việt Nam là thành viên của
Tổ chức Thương mại thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các
đối thủ mới (các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công
nghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt trong
điều kiện mới (thị trường toàn cầu với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định
chế thương mại và luật pháp quốc tế). Nói cách khác, các doanh nghiệp Việt
Nam đang phải đối mặt với những thách thức thật sự to lớn.
Khải Minh Global được biết đến là một công ty khá mới trong lĩnh vực vận tải
hàng hóa quốc tế như vận tải hàng không, vận tải biển và vận tải đường bộ. Những
khó khăn trong bước đầu tham gia vào thị trường là không thể tránh khỏi và việc luôn
luôn tìm ra những ưu điểm, yếu điểm của công ty để phát triển công ty trở thành một
trong những công ty có thương hiệu lớn mạnh trong nước và quốc tế là quan trọng, là
cấp thiết. Trong các lĩnh vực hoạt động của công ty, vận tải biển được coi là yếu tố
góp phần lớn nhất vào thành công của công ty. Vì vậy em chọn đề tài nghiên cứu là
“Nâng cao sức cạnh tranh dịch vụ giao nhận hàng hóa đường biển ở công ty
TNHH Toàn Cầu Khải Minh ( KMG ) ”
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi
Chuyên đề tập trung nghiên cứu nâng cao sức cạnh tranh dịch vụ giao nhận
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
hàng hóa trong vận tải đường biển ở công ty TNHH Toàn Cầu Khải Minh.
Phạm vi : nghiên cứu sức cạnh tranh DVDNHH trong vận tải biển giai
đoạn 2008 -2011 và tầm nhìn chiến lược đến năm 2020.
3. Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh
DVGNHH trong vận tải biển của KMG
bằng các hợp đồng trọn gói "từ cửa tới cửa" (door to door) và thực hiện các dịch
vụ khác liên quan đến hàng hoá nói trên, như việc gom hàng, chia hàng lẻ, làm
thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá và giao hàng
hoá đó cho người chuyên chở để chuyển tiếp đến nơi quy định.
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
− Thực hiện các dịch vụ tư vấn về vấn đề giao nhận, vận tải kho hàng và
các vấn đề khác có liên quan theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước.
− Nhận ủy thác xuất nhập khẩu hoặc kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp hàng
hoá trên cơ sở giấy phép xuất nhập khẩu của Bộ thương mại cấp cho Công ty.
− Tiến hành làm các dịch vụ giao nhận, vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu,
hàng hoá quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam và ngược lại bằng các phương tiện
chuyên chở của mình hoặc thông qua phương tiện của người khác.
− Làm đại lý cho các hãng tàu nước ngoài và làm công tác phục vụ cho tàu
biển của nước ngoài vào cảng Việt Nam.
− Liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước trong lĩnh vực
vận chuyển, giao nhận, kho bãi, thuê tàu
Với các chức năng trên, KMG phải thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau :
− Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của
Công ty theo quy chế hiện hành nhằm thực hiện mục đích và chức năng đã nêu
của Công ty.
− Bảo đảm việc bảo toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn, bảo
đảm trang trải về tài chính, sử dụng hợp lý theo đúng chế độ, sử dụng có hiệu
quả các nguồn vốn, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách đối với nhà nước.
− Mua sắm, xây dựng, bổ sung và thường xuyên cải tiến, hoàn thiện, nâng
cấp các phương tiện vật chất kỹ thuật của Công ty.
− Thông qua các liên doanh, liên kết trong và ngoài nước để thực hiện
việc giao nhận, chuyên chở hàng hoá bằng các phương thức tiên tiến, hợp lý, an
hàng tại kho khách hàng, luôn sẵn sàng tư vấn cho khách hàng cách gia cố chèn
lót hàng hóa đảm bảo vận chuyển an toàn nhất và với giá cước tải thấp nhất.
– Đại lý hàng hải : nhận làm đại lý hàng hải cho các hãng tàu trong nước
và ngoài nước có nhu cầu cập cảng tại hai cảng lớn Hải Phòng và Sài Gòn. Thủ
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
tục đại lý nhanh gọn, tàu được thu xếp làm hảng và xếp dỡ trong thời gian
nhanh nhất đảm bảo mang lại hiệu quả kinh doanh tối ưu cho tàu.
– Kinh doanh khai thác bãi Container: Công ty đang tổ chức kinh doanh
khai thác bãi chứa container rỗng tại 2 kho: Vietfrach và Nam Phát tại Hải
Phòng, với vị trí thuận lợi nằm trong địa phận gần cảng trung chuyển hàng hóa
trong nước và quốc tế tại phía Bắc. Tại bãi luôn có 02 xe nâng/ hạ container
hoạt động với tần suất cao và liên tục 24h/24h, có phần mềm hỗ trợ khách hàng
theo dõi container và PTI container lạnh… cho các khách hàng có nhu cầu sử
dụng dịch vụ. Hiện nay, Công ty đã được một số hãng tàu lớn tin tưởng sử dụng
dịch vụ như HANJIN, MASSAN, APL, HEUNG-A, KMTC…
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị của công ty
( Nguồn : Phòng logistics - công ty KMG)
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
6
GIÁM ĐỐC
GIÁM ĐỐC
CHI NHÁNH HẢI
PHÒNG
CHI NHÁNH HẢI
PHÒNG
CHI NHÁNH
HỒ CHÍ MINH
CHI NHÁNH
mang tính chiến lược – Thay mặt cho nhân viên công ty ký kết các hợp đồng kinh
doanh với đối tác– Giám sát mọi hoạt động của công ty – Tuyển mộ, tuyển chọn
nguồn nhân lực- Theo dõi tình hình thực hiện hoạt động kinh doanh của công ty và
báo cáo kết quả kinh doanh hoạt động của công ty – Quyết định các vấn đề lớn, các
vướng mắc phát sinh đối với các khách hàng lớn hay quen thuộc.
+ Hai phó giám đốc XNK: Phụ trách các công việc liên quan đến dịch vụ
hàng xuất nhập khẩu của công ty – Báo cáo giám đốc tình hình thực hiện và kết
quả đạt được của phòng dịch vụ xuất nhập khẩu.
+ Phó giám đốc tài chính: Phụ trách các vấn đề liên quan đến tình hình tài
chính của công ty – Báo cáo giám đốc tình hình tài chính của công ty trong từng
thời kỳ, từng giai đoạn.
+ Phòng Sales và Marketing: có nhiệm vụ đưa ra các chiến lược Marketing
phù hợp – Tìm kiếm khách hàng – Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ giao nhận
với khách hàng – Thông báo với giám đốc tình hình khách hàng lớn, khách
hàng tiềm năng của công ty.
+ Phòng kế toán: ghi lại các khoản chi tiêu về : giá vốn hàng bán, doanh
thu, lợi nhuận của công ty,đưa ra bản báo cáo tài chính cho từng quý, từng lĩnh
vực hoạt động của công ty – Thay mặt cho công ty thực hiện nghĩa vụ thuế của
nhà nước.
+ Phòng xuất: có nhiệm vụ chuẩn bị quy trình cho việc xuất khẩu hàng
hóa. Cụ thể là: vận chuyển hàng hóa xuất khẩu bằng đường biển, đường không
và nội địa – Lựa chọn tuyến đường vận tải thích hợp – Lên lịch tàu, chuyến bay
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
– Đóng gói hàng hóa – Thanh toán phí và các khoản chi phí khác – Nhận
vận đơn đã xếp hàng – Chuyên chở hàng hóa lên phương tiện vận tải như đã lên
lịch sang bên nước ngoài hay nơi xếp hàng.
+ Phòng nhập khẩu: Có nhiệm vụ chuẩn bị quy trình nhận hàng từ cảng
hay sân bay về kho cho Khách hàng. Cụ thể là : Thông báo hàng đến cho khách
luật thương mại 1997 thì khái niệm dịch vụ logistics mới chính thức thừa nhận.
Luật Thương mại năm 2005 ra đời với nhiều thay đổi đáng kể đáp ứng được
nhu cầu của quá trình hội nhập kinh tế thế giới với hàng loạt các quy định thể
hiện sự tiến bộ trong nhận thức của các nhà làm luật trong việc thừa nhận dịch
vụ logistics trong đó bao gồm cả giao nhận vận tải là một dịch vụ thương mại.
Đây là một tiền đề quan trọng và là cơ sở pháp lý đề phát triển ngành công
nghiệp giao nhận hàng hóa quốc tế tại Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đã có quy định số 125/ NĐ-CP ngày 29/10/2003 về
vận tải đa phương thức. Vận tải đa phương thức ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở
việc đảm nhận công đoạn đầu và cuối của quá trình vận tải, tức là Việt Nam
mới chỉ thực hiện giao hàng tới địa chỉ cuối cùng nằm sâu trong nội địa đối với
hàng nhập khẩu hoặc tiến hành gom hàng, tổ chức vận chuyển ra cảng và làm
thủ tục xuất khẩu. Như vậy, thực chất hoạt động vận tải đa phương thức ở Việt
Nam vẫn phải tuân theo các quy tắc quốc tế về vận tải đa phương thức. Đồng
thời, trên các tuyến vận tải nội địa, các tổ chức kinh doanh vận tải đa phương
thức cũng phải chấp hành luật giao thông đường bộ, sử dụng toa xe phải chấp
hành luật đường sắt. Riêng đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn tham gia
tiền hành cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam thì cũng cần phải chủ ý tới
nghị định số 10/2001/NĐ- CP ngày 19/03/2001 của Chính phủ về điều kiện
kinh doanh dịch vụ hàng hải. Khi Việt Nam tham gia tổ chức thương mại WTO
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
thì trong lĩnh vực vận tải, Việt Nam cam kết thực hiện quy định về dịch vụ đại
lý và vận tải hàng hóa bao gồm cả dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế. Theo
cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ, các công ty vận tải biển
nước ngoài (cung cấp cả dịch vụ giao nhận) có quyền thành lập liên doanh ở
Việt Nam với vốn góp không quá 51% kể từ khi Việt Nam giao nhập WTO và
được phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 7 năm kể từ khi gia
nhập để thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động giao nhận vận tải của chính
nghĩa là phải tháp kẹp chì, muốn tháo kẹp chì phải có sự đồng ý của hải quan…
đồng nghĩa với việc sẽ phát sinh chi phí và giảm tính linh hoạt trong vận tải
hàng hóa.
Về cơ sở hạ tầng giao thông đường sắt: được xây dựng từ thời kì Pháp
thuộc nên giờ đây đã lỗi thời không đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa
nhanh. Ngoài ra chưa có các tuyến đường sắt nối với cảng biển trừ cảng Hải
Phòng, cũng như các khu công nghiệp lớn. Cảng Cái Lân đã xây xong 4 bến đầu
tiên nhưng cũng chưa có tuyến đường sắt nào nối đoạn đường dài 4 km từ Hạ
Long đến cảng Cái Lân.
Mức độ cạnh tranh trong ngành DVGNHH vận tải quốc tế
Sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trong nước trong các lĩnh vực về dịch
vụ vận tải, dịch vụ vận tải đa phương thức. Bởi vì, hiện nay ở Việt Nam ngày
càng xuất hiện nhiều các công ty hoạt động trong lĩnh vực giao nhận hàng hóa.
Theo ước tính cứ có 800 doanh nghiệp giao nhận vận tải thì có 600 doanh
nghiệp tham gia hoạt động logistics ( thông kê 2009). Sự ra đời của hàng loạt
các công ty hoạt động giao nhận cho thấy sự phát triển nhanh chóng và hoạt
động hiệu quả của ngành này nhưng đồng nghĩa với sự cạnh tranh khốc liệt sẽ
diễn ra. Nếu Vinafco không tìm cho mình một chiến lược thích hợp thì cũng có
thế bị mất thị phần trong ngành logistics này.
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
Sự cạnh tranh có thể phân chia ra thành ba nhóm cơ bản sau :
•Nhóm thứ nhất: các công ty nhà nước và công ty được cổ phần hóa như:
vietfrach, viettrans… Các công ty có ưu thế về tiềm lực kinh tế mạnh, điều kiện
cơ sở vật chất dồi dào và khá đầy đủ,
• Nhóm thứ hai : các công ty có vốn 100% của nước ngoài hoặc các công
ty liên doanh như Nippon, Kônoke…Đây là những công ty có thương hiệu lớn,
hệ thống mạng lưới khắp toàn cầu và tiềm lực tài chính vững vàng.
• Nhóm thứ ba : các công ty vừa và nhỏ với vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng.
đi vào ổn định thì mới được mở rộng diện tích hai kho chứa hàng ở Hải Phòng
và có thêm xe tải hạng 3.5 tấn. Dựa vào quy trình làm việc như trên có thể thấy
KMG sử dụng vốn một cách triệt nhưng xuất phát điểm của KMG còn thấp nên
cơ hội để nâng cao cạnh tranh là ít hơn so với nhiều doanh nghiệp mạnh về tiềm
lực vật chất. Bất kỳ một doanh nghiệp cũng vậy đặc biệt là doanh nghiệp
logistics thì việc đầu tư vào cơ sở vật chất chiếm một tỉ trọng không nhỏ trong
việc giữ chân khách hàng. Nếu như không có đủ cơ sở vật chất để phục vụ
khách hàng mà phải đi thuê ngoài thì chi phí đầu vào sẽ tăng dẫn tới giá bán cho
khách cũng phải cao hơn để san sẻ cho phần chi phí thuê ngoài đó. Khi việc
mua bán có bên thứ ba xuất hiện, nếu không thận trọng sẽ bị rò rỉ thông tin và
khách hàng sẽ chuyển hướng đi thẳng và doanh nghiệp sẽ mất khách hàng.
Nguồn nhân lực
So với mặt bằng chung trong các doanh nghiệp Việt Nam, đội ngũ quản lý
của KMG rất trẻ và nhiệt tình, ham học hỏi và có tâm huyết với nghề, có tinh
thần trách nhiệm với công việc, gắn bó với công ty và có tình thần đoàn kết để
tạo nên một tập thể thống nhất.
Hoạt động giao nhận là một hoạt động có sự sâu chuỗi của nhiều các hoạt
động đơn lẻ. Một ví dụ đơn giản là việc xuất khẩu hàng sang bên Trung Quốc
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
bằng đường biển sẽ bao gồm những công việc tối thiểu: mở tờ khai hải quan,
sắp xếp lịch trình chuyến đi của tàu, vận chuyển hàng từ nhà máy đến cảng Hải
Phòng, làm thủ tục xuất hàng…Do đó, đòi hỏi sự làm việc tập thể của từng bộ
phận, nếu một trong các bộ phận không hợp tác, hay gặp trục trặc sẽ ảnh hưởng
nghiêm trọng đến việc xuất hàng ra nước ngoài. Điều này, vô cùng cần thiết có
một đội ngũ quản lý nắm bắt về nghiệp vụ, hiểu biết về một quy trình thực hiện
việc xuất nhập khẩu hàng hóa.
Trình độ quản lý
Công ty KMG là công ty có quy mô nhỏ với 5 phòng ban chủ chốt của
tranh với nhau để có thể đứng vững và phát triển. Có thể kể vài cái tên đã từng
có truyền thống xây dựng và phát triển từ khá lâu mà KMG phải đối mặt như:
Sotrans, Transimex, Vosa, Vietrans, Vinatrans…Một số các forwarder trong
nước có áp lực cạnh tranh đối với KMG là rất lớn như:
− Vinantrans : Là một Công ty Nhà nước được hình thành từ những năm
70. Trong cơ chế bao cấp Công ty này đảm nhận hầu hết các dịch vụ giao nhận
trong nước và ngay từ những năm đó, Công ty đã là đại lý cho rất nhiều hãng ở
nước ngoài. Hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu là hoạt động kinh
doanh chính của Công ty. Do đó, Vinantrans đã có một bề dày kinh nghiệm
trong lĩnh vực giao nhận hàng hóa nói chung và giao nhận hàng không nói
riêng. Những lợi thế của Công ty.
+ Cơ sở vật kỹ thuật của Công ty rất hiện đại, có thể nói là tương đương
với những hãng giao nhận lớn trên thế giới.
+ Đội ngũ cán bộ lành nghề, có nhiều kinh nghiệm.
+ Có mối quan hệ rất tốt với các nhà đương cục hải quan, thuế, kiểm
định…) và các hãng vận tải.
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
+ Có rất nhiều chi nhánh, trụ sở chính đặt trong thành phố Hồ Chí Minh,
chi nhánh tại Hà Nội, Đà Năng, Huế…
Có thể nói Viantrans là đối thủ rất lớn đối với KMG trên thị trường giao
nhận hiện nay, nhất là đối với một doanh nghiệp còn trẻ như KMG
− Vietrans: Là một Công ty Nhà nước, có trụ sở tại Hà Nội, Bộ thương
mại , hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, tự chủ tài chính. Đây là một tổ
chức giao nhận đầu tiên tại Việt Nam theo quyết định số 554/BNT ngày
13/8/1970 của Bộ Ngoại Thương. Năm 1993, quyết định số 337/TCCB ngày
3/3/1993 của Bộ Thương mại, Vietrans chính thức được thành lập.
Thế mạnh của vietrans là :
+ Có các chi nhánh ở khắp các tỉnh thành trong cả nước.
Tiêu chí
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng
cộng
Khối
lượng
Thay
đổi (%)
Khối
lượng
Thay
đổi (%)
Khối
lượng
Thay
đổi (%)
Đường
Biển
42,430 22.37 64,527 34.02 82,685 43.60 189,642
Đường
không
15,854 18.06 26,536 30.23 45,385 51.70 87,775
Đường
bộ
47,819 25.65 62,476 33.51 76,135 40.83 186,430
Tổngcộng
( lô hàng)
106,103 153,539 204,205
( Nguồn : Phòng kế toán – Công ty KMG)
Nếu phân loại theo phương thức vận tải thì hiện nay có 6 loại phương thức
2
được xây dựng theo tiêu chuẩn chất lượng cao và được chia theo từng
khu vực chuyên dùng phù hợp với điều kiện bảo quản, xếp dỡ, vận chuyển từng
loại hàng hóa, phục vụ trong cho quá trình gom hàng và khai thác hàng.
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Văn Lợi
Ngoài ra, ở Hà Nội cũng có hai kho nhỏ ở Minh Khai và cảng Phà Đen (đường
Bạch Đằng – Chi cục Hải Quan Gia Công) dùng để lưu trữ hàng hóa trong
những trường hợp cần thiết.
* Phương thức hoạt động giao nhận bằng đường không
Hoạt động giao nhận bằng đường không tuy không phải là một con số to lớn
nhưng có đóng góp đáng kể vào doanh thu hàng năm của công ty. Do tính chất đặc
thù của việc giao nhận này là hàng hóa vận chuyển thường nhỏ, khối lượng ít, giả cả
cao nên chỉ có một lượng hàng hóa nhỏ cho việc luân chuyển dịch vụ bằng đường
không. Hàng năm chỉ có vận chuyển khoảng trung bình 3,500 lô hàng mỗi năm đến
năm 2010 do hoạt động XNK phát triển làm khối lượng vận chuyển bằng đường
không cũng tăng lên đáng kể khoảng 1,500 lô hàng.
Mặc dù hàng năm vận tải đường không chỉ vận chuyển được một số lượng
hàng khiêm tốn nhưng so sánh tổng thể giữa doanh thu thu được từ đường hàng
không lại quả là một con số không nhỏ. Theo báo cáo mới nhất của công ty tính
đến hết năm 2010 thì doanh thu giữa giao nhận đường không chiếm khoảng
22.22 % so với tổng doanh thu của ba phương thức giao nhận trên, trong đó
đường biển chiếm khoảng 40.49%. So với một số công ty giao nhận lâu khác
như, Đông Nam Logistics, Safi, Indotrans, Maxpeed… thì khối lượng giao nhận
KMG vượt trội hơn hẳn. Nhìn vào bảng trên, khối lượng hàng hóa giao nhận
bằng đường không là một con số nhỏ, bởi vì cũng do việc chuyên chở bằng
đường không của Việt Nam chưa thật sự phát triển và gần như Việt Nam cũng
chưa có nhiều điều kiện để phát triển loại hình dịch vụ giao nhận này.
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
hàng mà đến năm 2009 đã lên tới hơn 56 nghìn lô hàng và đến năm 2010 tăng
vượt bậc lên hẳn là hơn 62 nghìn lô hàng, đủ có thể cho thấy KMG đã đầu tư
vào cơ sở vật chất cho sự chuyên chở hàng hóa tốt và chất lượng như thế nào.
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh đường biển của công ty
Bảng 2.2 : Bảng kết quả kinh doanh đường biển của KMG 2008-2010
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Đường biển ( tỷ đồng) 0,823 1,251 1,589
Tổng Doanh thu ( tỷ đồng) 2,863 4,208 5,476
Tỉ lệ % 28.74% 29.72% 29.01%
(Nguồn: phòng kế toán – công ty KMG)
Nhìn vào bảng doanh thu của đường biển so với tổng doanh thu của công
ty thì doanh thu của đường biển tăng đồng đều qua mỗi năm và tỉ lệ so với
doanh thu luôn giữ được mức ổn định. Năm 2008, công ty mới bước đầu thành
lập, doanh thu hoạt động của vận tải biển chủ yếu là các hàng chỉ định từ đại lý
xuất nhập về, cho nên công ty vẫn ở thế bị động. Sang đến năm 2009, mô hình
công ty bắt đầu ổn định và đi vào hoạt động, doanh số cũng như doanh thu tăng
lên vì có thêm lượng hàng từ phòng sales tìm kiếm và các hàng hóa do các bên
SV : Phạm Đại Huynh Lớp KDQT48B
21