Hoạt động quản lý NHà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài - Pdf 26

Lời nói đầu
Từ Đại hội Đảng VI (1986), thực hiện chủ trơng đờng lối đổi mới, mở cửa
nền kinh tế theo phơng châm Đa phơng hóa, đa dang hóa các quan hệ chính trị,
kinh tế, đối ngoại, kết hợp chặt chẽ giữa việc khai thác có hiệu các nguồn lực trong n-
ớc là chính với việc huy động tối đa các nguồn lực bên ngoài, Đảng và Nhà nớc ta
đã đặc biệt quan tâm đến hoạt động đến đầu t trực tiếp nớc ngoài. Việc ban hành
Luật đầu t nớc ngoài đầu tiên (29/12/1987) với những quy định thông thoáng hấp
dẫn nh một luồng gió mới thổi vào nền kinh tế Việt nam lúc đó đang trong tình
trạng khủng hoảng trầm trọng, các nhà đầu t nớc ngoài bắt đầu chọn Việt Nam
làm điểm dừng chân của mình. Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động đầu t
trực tiếp nớc ngoài, nhằm cải thiện tốt hơn môi trờng đầu t, khuyến khích và tạo
điều kiện cho các nhà đầu t nớc ngoài, năm 1990 và năm 1992, Luật đầu t nớc
ngoài đã 2 lần đợc sửa đổi, bổ sung và đến năm 1996, để phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế- xã hội, tình hình xu thế đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam,
Luật đầu t nớc ngoài mới đã đợc quốc hội thông qua ngày 12/11/1996.
Qua 10 năm thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu t trực tiếp
nớc ngoài dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, Việt Nam đã tiến những bớc dài
trên bớc đờng hội nhập vào nền kinh tế thế giới và thúc đầy phát triển nền kinh tế
trong nớc với tốc độ tăng GDP hàng năm vào loại cao trên thế giới (8,5 - 9%), dự
định tốc độ này dự tính sẽ đợc duy trì vào năm 1998.
Đánh giá các động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, một yếu tố không
thể phủ nhận đợc đó là vai trò quan trọng của đầu t trực tiếp nớc ngoài. Đầu t trực
tiếp nớc ngoài không chỉ góp phần để nền kinh tế đạt đợc tốc độ tăng trởng cao
trong những năm qua mà còn là điều kiện cơ sở cần thiết cho cả quá trình phát triển
trong những năm tiếp theo (Trả lời phỏng vấn Báo Đầu t của cựu Thủ tớng Võ
Văn Kiệt ). Hiểu đợc điều đó càng không thể không khẳng định công lao to lớn
của Đảng và Nhà nớc ta. Vấn đề quản lý Nhà nớc đối với đầu t trực tiếp nớc ngoài
đã và đang là một vấn đề đợc quan tâm, nhiều hội thảo xung quanh đầu t trực tiếp
1
và quản lý Nhà nớc về đầu t đã đợc tổ chức, thu hút nhiều nhà kinh tế Việt Nam và
thế giới, các nhà đầu t nớc ngoài.

dàng. Chẳng hạn, hiểu một cách đơn giản là một bàn tay bao giờ cũng có ngón
dài, ngón ngắn, vì vậy mà trên thế giới luôn xuất hiện những nớc giàu, nớc nghèo.
Khi có sự cách biệt về khả năng kinh tế, về tài chính giữa các nớc thì lúc
này các nớc phát triển bắt đầu xảy ra tình trạng d thừa vốn, công nghệ và lợi nhuận
giảm. Còn các nớc chậm phát triển lại rơi vào tình trạng thiếu vốn, thiếu công
nghệ mới, thiếu kinh nghiệm quản lý. Vì vậy để tránh tình trạng ứ đọng vốn, công
nghệ của họ ra nớc ngoài nhằm mục đích sinh lời và kéo dài tuổi thọ của công
nghệ. Trong khi đó các nớc đang phát triển mới chỉ có đợc công nhân dồi dào và
nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú cha đợc khai thác triệt để do cha có vốn
và công nghệ thích hợp để khai thác tốt hai nguồn lực này, đây là một môi trờng
đầu t đầy triển vọng của các nhà đầu t nớc ngoài trong quá trình tìm kiếm cơ hội
đầu t nhằm làm tăng lợi nhuận cho mình trong hoạt động đầu t nớc ngoài. Hơn nữa
do các nớc phát triển rất dồi dào sản phẩm công nghệ cao, có chất lợng tốt, mẫu
mã đa dạng phong phú, bao bì đẹp, đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng cao cho nên
tính cạnh tranh trên thị trờng giữa các sản phẩm hết sức gay gắt. Sự cạnh tranh này
nhiều lúc không cân sức vì trên thị trờng nếu chúng ta chỉ nhìn vào sản phẩm thì
không thể biết đối thủ cạnh tranh mạnh hay yếu, mà phải nhìn vào chiến lợc kinh
doanh của đối thủ cạnh tranh thì mới biết đợc. Vì vậy, để tránh rủi ro trên thị trờng
nội địa thì buộc các doanh nghiệp phải tiến hành đầu t ra nớc ngoài. Hình thức đầu
t ra nớc ngoài bên cạnh việc hạn chế rủi ro thì nó còn nhằm tăng vòng quay của
vốn, tận dụng đợc công nghệ hạng 2 ở trong nớc (nớc phát triển).
Trong quá trình đầu t, các nhà đầu t cố gắng hạ thấp chi phí để đạt đợc lợi
nhuận cao nhất. Muốn làm đợc điều đó buộc họ phải đầu t ra nớc ngoài để mở
rộng cơ hội tối đa hoá lợi nhuận khi đầu t vào những nớc chậm phát triển họ tiết
3
kiệm đợc rất nhiều chi phí nh chi phí đổi mới công nghệ, chi phí thanh lý công
nghệ, chi phí lao động chất xám, chi phí lao động phổ thông, trong khi đó lại đợc u
đãi về thuế (thuế doanh thu, thuế xuất khẩu....). Đồng thời lợi nhuận còn đợc đảm
bảo bởi các chính sách kinh tế của các nớc nhận đầu t.
Với bao lý do trên thì quá trình đầu t nớc ngoài thực chất là quá trình di

hữu. Synthia day, Wallacc, một chuyên gia Mỹ nghiên cứu về công ty xuyên quốc
gia viết:
Đầu t nớc ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay
giành đợc quyền sở hữu đáng kể trong một hãng (công ty) ở nớc ngoài hay sự gia
tăng khối lợng của một khoản đầu t nớc ngoài nhằm đạt đợc quyền sở hữu đáng
kể.
Các nhà kinh tế Việt Nam, khi nghiên cứu FDI thờng đi theo cách tiếp cận
nguồn vốn, coi FDI là một trong các nguồn vốn nớc ngoài, bên cạnh các nguồn
vốn nh: Tài trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ chức phi Chính
phủ (NGOs) tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
Mỗi khái niệm, mỗi cách tiếp cận đều có điểm mạnh và điểm yếu của nó,
nhng dù sao cách hiểu nào đi chăng nữa cũng phần nào giúp chúng ta hiểu đợc về
FDI.
1.2. Khái niệm quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài
Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động. Sự
phát triển không ngừng sản xuất xã hội về quy mô trình độ khoa học và công
nghệ, về các quan hệ phân công và hợp tác trên phạm vi quốc tế, sự phát triển rất
cao của nền kinh tế thị trờng đợc quốc tế hoá nhanh chóng đã thúc đẩy mạnh mẽ
xu hớng nâng cao vai trò quản lý với t cách là một chức năng xã hội đặc biệt.
Từ khi xuất hiện Nhà nớc thì bộ phận quan hệ quản lý quan trọng nhất,- tức
là phần quản lý xã hội quan trọng nhất- do Nhà nớc đảm nhận. Tất nhiên, chúng ta
cần thấy rằng, quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng không chỉ do
Nhà nớc với t cách là tổ chức chính trị quyền lực đặc biệt thực hiện mà còn do các
bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị thực hiện nh giai cấp, chính đảng,
cơ quan xã hội.... và ở dới góc độ khác là hộ gia đình, tổ hợp tác hay doanh nghiệp
t nhân.
Quản lý Nhà nớc ở đây không phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là
Nhà nớc, mà là sự quản lý có tính chất Nhà nớc, do Nhà nớc thực hiện thông qua
bộ máy các cơ quan Nhà nớc, trên cơ sở quyền lực Nhà nớc nhằm thực hiện các
chức năng và nhiệm vụ của mình.

Là hoạt động mang tính chất chủ quan của con ngời nhng quản lý Nhà nớc
về đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang tính tổ chức và sáng tạo cao. Đặc trng này
xuất phát trực tiếp từ bản chất mặt điều hành của quản lý Nhà nớc. Tính chủ động
sáng tạo thể hiện ở hoạt động xây dựng pháp luật theo thẩm quyền, đặc biệt có thể
cả những văn bản chứa đựng các quy phạm tiên phát điều chỉnh quan hệ mới phát
sinh cha ổn định và cha đợc luật điều chỉnh. Tính chủ động sáng tạo đợc quy định
bởi chính sự phức tạp, phong phú và đa dạng của các hoạt động đầu t trực tiếp. Đầu
t trực tiếp luôn biến động và phát triển không ngừng, đòi hỏi phải có sự phối hợp
kịp thời giữa các cơ quan chức năng trong việc vận dụng pháp luật một cách sáng
tạo để giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và triển
6
khai dự án. Tất nhiên, trong mọi trờng hợp không thể "chủ động, sáng tạo" ngoài
phạm vi khuôn khổ thẩm quyền luật định.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang tính dới luật. Tính
dới luật thể hiện ở chỗ bản thân hoạt động quản lý là hoạt động chấp hành và điều
hành trên cơ sở các quy định của Luật đầu t nớc ngoài và các đạo luật có liên quan.
Quyết định đợc ban hành của các cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phải
phù hợp với các quyết định của luật và các văn bản của cơ quan Nhà nớc cấp trên.
Quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là hoạt động đợc sự bảo đảm về phơng
diện tỏ chức- bộ máy và cơ sở vật chất đó là hệ thống các cơ quan nhiều về số lợng
và biên chế, phức tạp về tổ chức- cơ cấu với nhiều chức năng, nhiệm vụ và phong
phú về hình thức, đa dạng về phơng pháp hoạt động.
Vì đầu t trực tiếp nớc ngoài có mối quan hệ với chính trị cho nên quản lý
Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng mang tính chính trị. Hoạt động quản lý
kinh tế của Nhà nớc nói chung- trong đó có lĩnh vực đầu t trực tiếp- là một trong
những kênh thực hiện quyền lực Nhà nớc.
Một địa điểm nữa của quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài là tính
chuyên nghiệp và liên tục. Đầu t trực tiếp trong giai đoạn phát triển thứ ba của nền
kinh tế thế giới có tính chất tập trung cao và gắn chặt với buôn bán quốc tế và
chuyển giao công nghệ. Vì vậy, hoạt động quản lý đầu t trực tiếp phải là hoạt động

hình kinh tế mới phối hợp năng động giữa thị trờng và sự can thiệp của Nhà nớc
trong giải quyết các vấn đề kinh tế. Học thuyết này đợc phát triển hoàn chỉnh với
đỉnh cao là công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học đợc giải Nôbel về kinh tế
ngời Mỹ là A.SamuelSon. Học thuyết nền kinh tế hỗn hợp dã tìm kiếm đợc con đ-
ờng thứ ba nằm giữa mô hình kinh tế thị trờng tự do với "bàn tay vô hình" của thị
trờng và nền kinh tế kế hoạch tập trung mệnh lệnh (The command economy) với
"bàn tay hữu hình" của Nhà nớc.
Mô hình kinh tế hỗn hợp đang đợc áp dụng có hiệu quả ở hầu hết các quốc
gia có nền kinh tế thị trờng phát triển, tuy mức độ hỗn hợp của mỗi nớc có khác
nhau. Nhà nớc cần can thiệp vào các hoạt động trong nền kinh tế thị trờng ở những
chừng mực và phơng pháp nhất định là đúng đắn và cần thiết khách quan. Lý do
của sự can thiệp này nhằm khắc phục nhanh chóng và kịp thời các khuyết tật cố
hữu của thị trờng, phân bổ các nguồn lực kinh tế hợp lý, hớng các hoạt động kinh
tế- đầu t vào quỹ đạo với hiệu quả cao nhất.
Vấn đề đổi mới theo hớng nâng cao vai trò quản lý về kinh tế nói chung và
đầu t trực tiếp nớc ngoài nói riêng là một xu thế khách quan đối với tất cả các quốc
gia không phân biệt chế độ chính trị, văn hoá, xã hội, xu hớng quốc tế hoá đời
sống kinh tế đòi hỏi Nhà nớc bằng mọi biện pháp có thể can thiệp vào quá trình
đầu t trực tiếp nớc ngoài để cho nền kinh tế phát triển đúng hớng và sâu xa hơn là
do chính sự tồn tại của chế độ Nhà nớc đó. Nh vậy, muốn tồn tại và phát triển,
không có quốc gia nào đứng ngoài đời sống kinh tế quốc tế và cũng kông có nền
kinh tế thị trờng nào thuần khiết mà không có sự điều tiết của Nhà nớc.
Cơng lĩnh Đại hội VII đã chỉ rõ: ".... Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí,
quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân nhà nớc phải có đủ quyền lực, đủ khả
8
năng định ra luật pháp, tổ chức và quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp
luật.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài là bộ phận của quản lý Nhà n-
ớc về kinh tế. Nó chịu sự tác động và chi phối của cơ chế quản lý và phơng pháp
quản lý. Một khi Nhà nớc trực tiếp tiến hành quản lý nền sản xuất xã hội, điều tiết

nớc ta. Đổi mới và thực hiện cơ chế quản lý về đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nhà nớc
9
ta thực hiện sự tác động mang tính quyền lực vào các quan hệ đầu t trực tiếp theo
những hình thức và phơng pháp nhất định để đạt đợc mục tiêu sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra.
1.3. Chức năng và các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t
nớc ngoài
1.3.1. Các chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu
t nớc ngoài
Dới trạng thái "động", quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là một loại hoạt
động có những nội dung và hình thức biểu hiện sinh động. Nội dung của quản lý
Nhà nớc về đầu t nớc ngoài gồm các yếu tố: Mục đích, nhiệm vụ, chức năng và ph-
ơng pháp quản lý. Trong phần này, ta đi vào nghiên cứu yếu tố quan trọng nhất đó
là chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Sự cần thiết khách quan của
việc nghiên cứu các chức năng này thể hiện ở chỗ các mục đích và nhiệm vụ quản
lý đạt đợc là nhờ chức năng quản lý. Vì vậy, có thể coi chức năng quản lý nh là
một phơng tiện thực hiện nhiệm vụ quản lý.
Trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài quản lý Nhà nớc mang nhiều chức năng
khác nhau, các chức năng này vừa có mối liên hệ chặt chẽ, vừa có tính độc lập t-
ơng đối do quá trình hợp tác, phân công và chuyên môn hoá cao.
Số lợng, phân loại các chức năng quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phụ
thuộc vào mục đích nghiên cứu và giác độ tiếp cận vấn đề.
ở đây, có thể phân loại các chức năng quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc
ngoài thành nhóm các chức năng cơ bản và nhóm các chức năng không cơ bản.
Những chức năng cơ bản của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là:
Chức năng dự báo: là hoạt động dựa trên các cơ sở các thông tin
chính xác và kết luận khoa học, nghiên cứu và dự báo các quá trình, đặc điểm, xu
hớng phát triển của đầu t trực tiếp. Tính chất và động thái của tình hình đầu t trực
tiếp diễn ra hết sức phức tạp, theo nhiều chu trình. Dự báo là điều kiện không thể
thiếu đợc trong việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu t, việc tiến hành các nội

quản lý về đầu t nớc ngoài.
Tóm lại, các chức năng cơ bản của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc
ngoài không tồn tại độc lập mà tác động qua lại với nhau. Chỉ có thể quản lý tốt
các hoạt động đầu t nớc ngoài khi các chức năng quản lý nêu trên một cách đồng
bộ và thống nhất.
1.3.2. Các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t n-
ớc ngoài
Nhiệm vụ của hoạt động quản lý là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa
hoạt động chủ quan và thực tiễn khách quan. Trong quá trình quản lý- với t cách
đại diện cho quyền lực công, cho lợi ích quốc gia- mỗi viên chức trong các cơ quan
quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phải có t duy và hành động khoa học, nghiêm
chỉnh chấp hành hoạt động công vụ. Với tính chất phức tạp của đầu t nớc ngoài,
11
mọi quyết định quản lý ra đời từ sự chủ quan duy ý chí hay nóng vội đều đi tới thất
bại.
Thuật ngữ "Nguyên tắc" có nguồn gốc từ tiếng La tinh "principiuim"
(nguyên lý) và có nghĩa là những t tởng đầu tiên t tởng chỉ đạo trong khoa học,
hiện tợng, quá trình. Nguyên tắc đó đợc áp dụng để nghiên cứu pháp luật nói
chung và các chế định của nó nói riêng. Nguyên tắc- nh Ph.Anghen viết- không
phải là "Chân lý tuyệt đối" mà thợng đế đã ban cho con ngời, nhng cũng phải thừa
nhận rằng, nguyên tắc không phải là bản thân thực tiễn quản lý. Ông viết tiếp:
"Nguyên tắc chính là kết quả đợc rút ra từ quá trình nghiên cứu sự phát triển của tự
nhiên và lịch sử".
Trong lĩnh vực quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, nguyên tắc quản lý Nhà
nớc về đầu t nớc ngoài là những t tởng chỉ đạo, làm nền tảng cho quá trình tổ chức
và thực hiện các chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài.
Đầu t nớc ngoài- hoạt động kinh tế mới mẻ hoàn toàn cha có tỷ lệ- do đó
quản lý về đầu t nớc ngoài đòi hỏi phải nắm vững chính sách, pháp luật, đồng thời
phải tìm tòi, sáng tạo những nội dung và hình thức quản lý mới đã đợc thực tiễn
thừa nhận.

ớc, của các cơ quan đơn vị, tổ chức và đối với công dân.
Pháp chế là phơng thức để tổ chức, trật tự hoá đời sống xã hội phù hợp với
ý chí của giai cấp cầm quyền. Nếu nh ý chí của giai cấp thống trị đợc đa lên thành
luật, xuất phát từ nhu cầu và điều kiện xã hội thực tại của giai cấp đó thì pháp chế
là việc đa ý chí đó vào cuộc sống, trở thành hiện thực và có đợc sức mạnh vật chất.
Dới góc độ quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, đây là nguyên tắc của mọi
nguyên tắc, nó đòi hỏi tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nớc về đầu t
nớc ngoài phải đợc pháp luật điều chỉnh chặt chẽ và pháp luật đó phải đợc tuân thủ
nghiêm chỉnh.
Cơ sở nguyên tắc này là điều 12/hiến pháp 1992: "Nhà nớc quản lý xã hội
bằng pháp luật và không ngừng tăng cờng pháp chế XHCN..."
Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi việc tổ chức cac cơ quan Nhà nớc thực hiện
chức năng quản lý về đầu t nớc ngoài phải trên cơ sở các văn bản pháp luật và vấn
đề then chốt tiếp theo là những cơ quan này phải thực hiện đúng các chức năng,
nhiệm vụ của mình.
Để thực hiện những đòi hỏi về tính thống nhất của pháp chế, cơ quan quản
lý Nhà nớc về đầu t khi ban hành quyết định quản lý và thực hiện hành vi quản lý
không đợc vợt quá thẩm quyền theo luật định. Nguyên tắc pháp chế đợc thể hiện
tại nhiều quy định trong cac văn bản pháp luật về đầu t nớc ngoài. Điều 1-Luật đầu
t nớc ngoài quy định: "Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến
khích các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ
quyền và tuân thủ pháp luật của Việt Nam".
13
Khoản 1, điều 5 nghị định 12/CP quy định:"Trong hoạt động đầu t tại Việt
Nam, các đối tợng tham gia hợp tác đầu t... phải tuân thủ các quy định của Luật
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, các quy định của nghị định này và các quy định
khác có liên quan của pháp luật Việt Nam".
Mọi hoạt động đầu t bất hợp pháp hay hoạt động cản trở đầu t hợp pháp đều
bị xử lý theo pháp luật. Theo điều 63 Luật đầu t nớc ngoài thì: "Nhà đầu t nớc
ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài các bên tham gia hoạt động hợp tác

"một cửa" trong quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài:
Để cải cách công tác quản lý Nhà nớc, góp phần cải thiện môi trờng đầu t
thì nguyên tắc "một cửa" vừa là công cụ hữu hiệu vừa là mục tiêu cần đạt đến. Để
thực hiện nguyên tắc này trớc hết phải phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan
chức năng và mối quan hệ phối hợp giữa chúng trong quản lý đầu t nớc ngoài.
Nguyên tắc "một cửa" nhằm kịp thời xử lý các phát sinh trong quá trình đầu
t, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu t nớc ngoài tiến hành các hoạt
động đầu t ở Việt Nam. Nguyên tắc này không cho phép việc can thiệp chồng chéo
của nhiều cơ quan trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài nhằm thu hút đầu t nớc ngoài và
bảo vệ đợc lợi ích của Nhà nớc Việt Nam. Do đó, quản lý Nhà nớc về đầu t nớc
ngoài phải đợc tập trung vào một đầu mối, một cơ quan. Điều đó phù hợp với một
luận điểm quan trọng của khoa học quản lý là: "Mỗi việc cần đợc giải quyết dứt
điểm ở một cấp" và "Mỗi ngời cần phải làm công việc của chính mình". Đành
rằng, trong đầu t nớc ngoài- một lĩnh vực còn hết sức phức tạp và mới mẻ- quản lý
Nhà nớc cần có sự phối hợp tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành, nhng đối với các
nhà đầu t nớc ngoài thì việc bắt họ: "Đi vái chín phơng" rõ ràng là mâu thuẫn với
chủ trơng của Nhà nớc ta là: "Trải chiếu hoa mời các nhà đầu t nớc ngoài"
Quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài theo nguyên tắc "một cửa" cần đợc đặt
trong công cuộc kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nớc về kinh tế. Bộ máy quản lý
Nhà nớc phải phù hợp với cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý mới. Chính cơ cấu kinh
tế quyết định phơng thức quản lý và hình thức, quy mô của bộ máy quản lý. Cần
khắc phục quan điểm sai lầm "Đặt ngời rồi tìm việc", xây dựng "bộ máy vì bộ
máy". Điều đó có nghĩa là tổ chức bộ máy quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài cần
xem xét tới các đặc điểm và quy luật của hoạt động đầu t, của pháp luật về đầu t
cùng quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung.
Nguyên tắc "một cửa" giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp trung ơng và địa
phơng trong quản lý đầu t nớc ngoài. Trong hệ thống bộ máy quản lý, Trung ơng
là cấp chủ đạo vì hiệu quả của đầu t nớc ngoài cần đợc xem xét đánh giá ở tầm vĩ
mô. Phân cấp quản lý Nhà nớc là sự phân cấp về các hoạt động quản lý Nhà nớc
giữa Trung ơng và địa phơng chứ không có nghĩa là tách kinh tế địa phơng khỏi

những "con hổ" kinh tế nữa, bởi không thể có gì đảm bảo rằng những u đãi về thuế
không thể không bị sửa đổi bởi các nhà hoạch định chính sách. Về bản chất, bất kỳ
quốc gia nào đi nữa cũng không thể duy trì lâu dài hai hệ thống thuế có tính chất
phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế trong nớc và khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
Điều quan trọng mà chính các nhà đầu t than phiền rằng, sự phiền phức về thủ tục
kèm theo những chi phí của nó còn lớn hơn nhiều lần những u đãi về thuế mà họ đ-
ợc hởng. Đối với các nhà đầu t quốc tế, thời gian còn quan trọng hơn vàng bạc, vì
vậy kéo dài sự chờ đợi các phán quyết của cơ quan quản lý chức năng sẽ làm tuột
mất các cơ hội đầu t gây nên sức ép tâm lý rất lớn đối với các nhà đầu t.
Điều các nhà đầu t mong muốn chúng ta có thể làm đợc và cần phải làm đ-
ợc đó là cải cách mạnh mẽ thủ tục đầu t theo hớng đơn giản hơn, nhanh chóng hơn.
16
Điều 59 Luật ĐTNN đã quy định rã ràng các giấy tờ, tài liệu cần thiết mà
nhà đầu t phải gửi cho cơ quan cấp phép đầu t, tạo điều kiện cho cơ quan chức
năng nhanh chóng quyết định việc nâng cấp giấy phép và nhà đầu t sớm đa dự án
vào thực hiện. Luật đầu t nớc ngoài tại điều 60 đã quy định cụ thể: Thời gian cấp
giấy phép đầu t: "Cơ quan cấp giấy phép đầu t xem xét đơn và thông báo quyết
định cho nhà đầu t chậm nhất trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp
lệ".
Nguyên tắc này với việc đơn giản hoá rõ ràng các thủ tục đầu t, rút ngắn
thời gian cấp giấy phép đầu t và các loại giấy phép khác tại nhiều điều khoản của
Luật đầu t nớc ngoài, các điều 47, 67, 85 nghị định 12/CP, trong các thông t
03/BKH-QLDA của Bộ Kế hoạch và Đầu t 15/03/1997, thông t 01/BXD-CSXD
ngày 15/04/1997 của Bộ Xây dựng, nghị định 36/CP 24/04/1997, thông t 679/TT-
ĐC ngày 12/05/1997 của Tổng cục Địa chính.
Điều 62- Luật ĐTNN quy định: "Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng có trách nhiệm giải quyết
các thủ tục liên quan đến việc triển khai dự án đầu t trong thời gian 30 ngày kể từ
ngày nhận đợc hồ sơ hợp lệ".
. Nguyên tắc bảo đảm và khuyến khích các hoạt động đầu t nớc ngoài.

việc chuyển giao nhanh công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến, thực tế cho thấy
rằng, trong các năm vừa qua, tuycó hạn chế đợc việc du nhập công nghệ cũ, nhng
việc thu hút công nghệ cao còn rất chậm. Điều 37, nghị định 12/CP quy định:
"Chính phủ nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi và
bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ để thực
hiện dự án đầu t tại Việt Nam; khuyến khích và u đãi đối với chuyển giao nhanh
công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến".
"Trong trờng hợp nhà đầu t áp dụng tiêu chuẩn môi trờng tiên tiến của quốc
tế trong quá trình xây dựng và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thì chỉ cần đăng
ký với cơ quan quản lý Nhà nớc về công nghệ và môi trờng". (Khoản 3, điều 39,
nghị định 12/CP).
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc thu hút
các công ty xuyên quốc gia, các công ty lớn vào các dự án sử dụng kỹ thuật tiên
tiến, công nghệ cao. Do vậy, để đảm bảo an toàn cho các hoạt động đầu t. Điều 1-
Luật ĐTNN đã ghi nhận cam kết của nhà nớc Việt Nam về vấn đề sở hữu công
nghiệp- Điều 21 của Luật tiếp tục khẳng định: "Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm các lợi ích hợp pháp
của nhà đầu t nớc ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam".
Để các nhà đầu t nhận thấy rằng việc đầu t bảo đảm an toàn và có lợi nhuận
cao thì nội dung các quy phạm pháp luật về ĐTNN phải chứa đựng các biện pháp
bảo đảm đầu t. Thật vậy, để tăng cờng thu hút đầu t nớc ngoài, xuyên suốt các định
chế pháp lý về đầu t nớc ngoài, nguyên tắc:"Khuyến khích và bảo đảm đầu t nớc
ngoài luôn đợc đề cập tới".
18
Nhà đầu t nớc ngoài đợc bảo đảm đối xử công bằng và thoả đáng (điều 20),
trong quá trình đầu t, vốn và tài sản hợp pháp không bị trng dụng hoặc tịch thu
bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài không bị quốc
hữu hoá (điều 21-Luật ĐTNN).
Trong trờng hợp do thay đổi quy định của Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích của
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh

phát triển kinh tế; vừa mở cửa ra bên ngoài, nhằm tranh thủ mọi nguồn lực quốc tế
nhng không coi nhẹ đầu t cho sản xuất trong nớc; mở cửa cho bên ngoài nhng
không quên những biện pháp "che chắn" cần thiết để bảo hộ sản xuất trong nớc,
bảo đảm an ninh quốc phòng, đẩy mạnh xuất khẩu và tham gia phân công lao
động quốc tế trong khu vực và thế giới một cách có lợi nhất.
+ Công tác quản lý Nhà nớc phải nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà nớc
ta trong hợp tác đầu t với nớc ngoài là thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản
lý của các công ty nớc ngoài, tạo việc làm cho ngời lao động, góp phần khai thác
có hiệu quả mọi tiềm năng đất nớc phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
+ Quản lý Nhà nớc nhằm bảo đảm cho các hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài tuân thủ pháp luật Việt Nam, giữ vững độc lập, chủ quyền của Việt Nam,
đồng thời tôn trọng quyền của các nhà đầu t, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, các
bên cùng có lợi.
1.4.2. Bộ máy quản lý Nhà nớc về ĐTNN
a/ Chính phủ:
Theo điều 55 của Luật ĐTNN tại Việt Nam ban hành ngày 23/11/96 (Luật
ĐT 96), Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nớc về ĐTNN, quy định việc cấp giấy
phép đầu t của Bộ Kế hoạch và Đầu t cho UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung
ơng có đủ điều kiện, quy định việc cấp giấy phép đầu t đối với dự án đầu t vào Khu
Công nghiệp, Khu chế xuất.
Thủ tớng Chính phủ có đủ thẩm quyền xét duyệt, quyết định các dự án đầu
t nhóm A (theo điều 93, Nghị định 12/CP ban hành ngày 18/02/97). Danh mục các
dự án thuộc nhóm A cũng đợc quy định trong điều 93 Nghị định 12/CP.
b/ Bộ Kế hoạch và Đầu t (MPI):
+ Ban hành thông t hớng dẫn doanh nghiệp triển khai thực hiện giấy phép:
thông t số 03 BKH-QLDA ngày 15/03/97 "hớng dẫn thủ tục triển khai thực hiện dự
án đầu t tại Việt Nam", cụ thể hoá Luật ĐTNN năm 1996, Nghị định 12/CP và
Nghị định 10/CP.
20

khuyến khích các bên đi đến thống nhất bằng thơng lợng. Nhng nếu thơng lợng
không đi đến kết quả thì có thể nhờ MPI hoà giải trớc khi đa tranh chấp ra xét xử
bằng toà án hay trọng tài... Ban hoà giải sẽ bao gồm một ngời Việt Nam, một ngời
nớc ngoài và một ngời của MPI, trong đó ngời đại diện của MPI là trởng ban.
+ Phân tích hiệu quả kinh tế- xã hội của hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài.
21
+ Kiến nghị Nhà nớc ban hành pháp luật và các chính sách về đầu t trực tiếp
nớc ngoài.
c) UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ơng:
Quyền hạn và trách nhiệm của UBND đối với quản lý hoạt động đầu t trực
tiếp nớc ngoài đợc quy định chi tiết trong Luật ĐTNN năm 1996 và Nghị định
12/CP.
+ Lập và công bố danh mục dự án thu hút ĐTNN tại địa phơng căn cứ vào
quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội đã đợc phê duyệt; tổ chức vận động và xúc
tiến đầu t.
+ Tham gia thẩm định dự án đầu t nớc ngoài tại địa phơng.
+ Tiếp nhận, thẩm định và cấp giấy phép cho các dự án đầu t nớc ngoài tại
địa phơng theo sự phân cấp của Chính phủ.
+ Giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến hình thành, triển khai, thực
hiện dự đầu t thuộc thẩm quyền.
+ Quản lý Nhà nớc trên địa bàn lãnh thổ đối với hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp
tác kinh doanh.
+ Kiểm tra, thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh (theo điều 58 Luật ĐTNN
1996).
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài trên địa bàn lãnh thổ.
Việc thẩm định và cấp giấy phép đầu t thuộc thẩm quyền của UBND cấp
tỉnh đợc quy định tại điều 100 Nghị định 12/CP. Thủ tớng Chính phủ ra quyết định

bị phục vụ sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra.
Hiện nay Chính phủ đang đơn giản hoá chế độ cấp giấy phép bằng cách bỏ dần
giấy phép xuất- nhập khẩu chuyến và thay thế bằng kế hoạch xuất- nhập khẩu của
doanh nghiệp từ đầu năm.
+ Kiểm soát việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài
Các nhà đầu t bỏ vốn vào Việt Nam với hy vọng thâm nhập, chiếm lĩnh thị trờng
Việt Nam. Để bảo đảm thị trờng trong nớc, bảo vệ các doanh nghiệp trong nớc,
Chính phủ quy định tỷ lệ xuất khẩu, tiêu thụ trong nớc nhất định đối với những
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cũng nh những loại sản phẩm sản xuất ra bởi
23
hợp đồng hợp tác kinh doanh. Nhng nhiều khi trên thực tế, tỷ lệ này bị vi phạm
nghiêm trọng.
+ Giải quyết các phát sinh trong xuất- nhập khẩu của doanh nghiệp.
f/ Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng:
+ Kiểm tra việc thực hiện các tiêu chuẩn vệ sinh môi trờng.
Căn cứ vào tính chất hoạt động, trình độ công nghệ và mức độ tác động môi trờng,
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng công bố danh mục các dự án phải lập báo
cáo đánh giá tác động môi trờng. Báo cáo này phải đợc Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trờng hoặc Sở Khoa học Công nghệ và Môi trờng thẩm định và cấp chứng
nhận, đối với dự án ngoài danh mục, tức là không phải lập báo cáo đánh giá tác
động môi trờng thì nhà đầu t vẫn phải giải trình các nhân tố có thể gây ảnh hởng
tới môi trờng, nên các biện pháp xử lý và cam kết bảo vệ môi trờng.
Khi doanh nghiệp đi vào hoạt động Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng
sẽ giám sát theo dõi để cấp chứng nhận môi trờng. Đồng thời hàng năm doanh
nghiệp vẫn bị kiểm tra định kỳ về các tiêu chuẩn vệ sinh môi trờng.
+ Hớng dẫn, kiểm tra việc ký kết và thực hiện hoạt động chuyển giao công
nghệ.
+ Phối hợp các Bộ chuyên ngành khoa học kỹ thuật, đánh giá trình độ khoa
học và công nghệ sử dụng trong doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài (theo quy

i/ Bộ Nội vụ:
+ Quản lý trật tự an toàn xã hội.
+ Kiểm tra thị thực nhập cảnh, xuất cảnh, đăng ký lu trú và quản lý hộ tịch,
hộ khẩu của ngời nớc ngoài.
+ Kiểm tra các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài các bên tham gia hợp
đồng hợp tác kinh doanh có vi phạm những quy định về kinh tế không.
j/ Ngân hàng Nhà nớc:
+ Hớng dẫn các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thực hiện chế độ quản
lý ngoại hối của Việt Nam.
+ Hớng dẫn, kiểm tra các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài mở và sử
dụng tài khoản ngân hàng trong và ngoài nớc (Điều 71 Nghị định 12/CP).
+ Cân đối và bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
theo quy định của Nhà nớc.
+ Hớng dẫn và theo dõi các tổ chức hoặc cá nhân nớc ngoài chuyển ra nớc
ngoài nhữn khoản lợi nhuận, thu nhập phát sinh ở Việt Nam, tiền gốc và lãi của
25

Trích đoạn Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động FDI Nguyên nhân khách quan: Về Hải quan:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status