Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
1
Th.S: Nguyễn Duy Đạt SVTH: Mai Thị Bích Phượng
Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH MAY MẶC XUẤT KHẨU
VIT GARMENT
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty
Công ty TNHH may mặc xuất khẩu Vit-garment là công ty 100% vốn nước
ngoài, do tập đoàn Vit- Corperation thuộc cộng hoà liên bang Nga đầu tư theo giấy
phép số 13/GP/VP ngày 07/02/2001 với tổng vốn đầu tư là 7 triệu USD trên diện
tích 38.000m2 tại km 8 đưòng Thăng Long Nội Bài.
Từ ngày 01/03/2002, công ty thực hiện công tác đền bù và giải phóng mặt
bằng tại km 8 đưòng Thăng Long Nội Bài. Đây là vị trí đất thuận lợi cho việc giao
dịch, vận chuyển hàng từ sân bay Nội Bài, cảng Hải Phòng và các tỉnh lân cận khác
về công ty và ngược lại.
Từ tháng 04/2002 tiến hành công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mua
sắm máy móc, trang thiết bị.
Đến tháng 01/2004 hoàn thiện công tác xây dựng gồm: 03 xí nghiệp may,
01 xí nghiệp giặt mài với tổng diện tích nhà xưởng lên đến 22.000m2, có hệ thống
phụ trợ đầy đủ và toàn bộ máy móc thiết bị được nhập từ nước ngoài để trang bị đầy
đủ và đồng bộ cho các xí nghiệp và thu hút hàng ngàn lao động vào làm việc tại
công ty.
Từ tháng 01/2004 đến tháng 03/2004 thực hiện tuyển dụng lao động và đào
tạo công nhân may và thích ứng với dây truyền sản xuất của công ty.
Đến tháng 04/2004, công ty bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi mới
bắt tay vào sản xuất kinh doanh, công ty đã gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng cũng có
rất nhiều thuận lợi từ vị trí địa lý, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại đã giúp công tu
nhanh chóng đi vào ổn định sản xuất
Kông (North bay, Chico).
1.3. Cơ cấu tổ chức của bộ máy Công ty TNHH may mặc xuất khẩu Vit-
garment.
Hiện nay bộ máy của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng.
3
Th.S: Nguyễn Duy Đạt SVTH: Mai Thị Bích Phượng
Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
Sơ đồ Error! No text of specified style in document 1. Mô hình tổ chức quản lý
công ty TNHH may mặc xuất khẩu Vit – Garment
1.4. Đội ngũ nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty1.4.1 Đội ngũ nhân
lực
Công ty hiện nay có khoảng 5000 đội ngũ công nhân lành nghề và dày dặn
kinh nghiệm làm việc trong các bộ may công nghiệp và thêu, mài, nhuộm đã gắn bó
với doanh nghiệp lâu năm. Đội ngũ công nhân được đào tạo bài bản từng khâu một
để tạo thành một dây truyền khép kín, và được phân thành các bộ phận khác nhau,
mỗi bộ phận lại phân thành các tổ để thực hiện các khâu khác nhau.
Đội ngũ nhân viên kỹ thuật được đào tạo chuyên nghiệp, thường xuyên
nghiên cứu cải tiến mẫu mã mới và áp dụng phương pháp công nghệ tiên tiến vào
sản xuất nhằm không ngừng phát triển sản xuất của công ty.
Với đội ngũ quản lý giỏi cùng các nhân viên trong các bộ phận được tuyển
chọn chuyên nghiệp đã giúp công ty hoạt động có hiệu quả. Trong đó có nhóm kinh
doanh xuất nhập khẩu giúp lãnh đạo công ty xây dựng các phương hướng kinh
doanh, tìm kiếm đối tác, tạo mối quan hệ tốt với các đối tác và giải quyết các thủ tục
pháp lý về hải quan.
4
Th.S: Nguyễn Duy Đạt SVTH: Mai Thị Bích Phượng
Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
1.4.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Được sự đầu tư của tập đoàn Vit - corperation thuộc cộng hòa liên bang Nga
nên ngay từ khi mới thành lập công đã có quy mô lớn và cơ sở vật chất kỹ thuật tiên
Cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu may mặc Việt Nam do điều kiện còn
hạn chế về kỹ thuật và vốn công ty chủ yếu sản xuất, gia công hàng may mặc xuất
khẩu, sản phẩm được sản xuất theo kiểu hàng loạt. Công ty tiến hành gia công ở các
khâu may, giặt, in, phun, thêu cát và nhuộm.
Trong quá trình sản xuất được kết hợp giữa thủ công và cơ giới hoá. (ví dụ ở
khâu thiết kế, vẽ sơ đồ được lập trình và vẽ trên máy tính, in ra và sau đó sao lại
bằng thủ công trên bìa cứng giao cho phân xưởng cắt sản xuất sản phẩm, xưởng cắt
chủ yếu cắt bằng máy).
Công ty Vit Garment khác với những công ty gia công khác ở trong nước là
công ty không chỉ gia công ở khâu may, giặt, mài mà công ty còn gia công ở cả
khâu nhuộm. Quy trình sản xuất của công ty là một dây chuyền liên hoàn, công
nhân thực hiên theo từng khâu, từng bộ phận một, đi từ khâu nhập nguyên liệu vào,
rải sơ đồ cắt may, rải dây chuyển cho các bộ phận may, may, ráp thành phẩm, sau
đó giặt mài, và nhuộm, sấy sau đó đóng gói. Chúng ta có thể nhận thấy tất cả những
khâu này đều phát sinh ra bụi và các chất gây ô nhiễm môi trường, bụi trong phân
xưởng may và các công đoạn trong quá trình may chủ yếu là bụi hữu cơ có thành
phần phức . Ngoài ra, dù công ty đã có có hệ thống lọc nước thài, nhưng vì lượng
hàng giặt nhuộm quá lớn nên vẫn ảnh hưởng đến nguồn nước thải ra.
Các sản phẩm của công ty chủ yếu là: Quần bò, Kaki, T - shirt, Jacket - thể
thao, Quần âu, Áo nỉ, váy, áo sơmi nam - nữ v.v. Giặt, mài: 1 triệu sản
phẩm/tháng.
2.2. Thị trường xuất khẩu của công ty
Từ nhiều năm nay trong lĩnh vực gia công, công ty TNHH may mặc xuất
khẩu VIT GARMENT được biết đến là một công ty làm ăn có kinh nghiệm và có
mối quan hệ với nhiều khách hàng trên thế giới. Công ty đã xuất khẩu được nhiều
mặt hàng vào các thị trường chính như: Nhật Bản, Hàn Quốc,EU, Mỹ, Đài Loan,
Hồng Kông Tuy nhiên xâm nhập vào mỗi thị trường khác nhau đòi hỏi công ty
phải có những đáp ứng phù hợp với từng thị trường đó.
BẢNG 2.1: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU
THỊ 2009 2010 2011 2012
Hàn Quốc,
Đài Loan
856,1 22,5 1176,6 21,0 938,1 14,4 1018,1 13,3
EU 913,2 24,0 1336,4 23,9 1517,0 23,2 2012,1 26,3
KHÁC 284,3 7,5 536,9 9,6 961,1 14,7 209,5 2,7
TỔNG
KIM
NGẠCH
3810 100 5597 100 6528,3 100 7658,1 100
Nguồn: báo cáo tổng kết của công ty VIT GARMENT 2009 - 2012
BIỂU ĐỒ 2.1: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU
Nguồn: Tổng hợp từ bảng số liệu cơ cấu thị trường gia công xuất khẩu
Thị trường Nhật bản
Đây là thị trường chiếm thị phần lớn nhất đa số các năm đều chiếm tỷ phần
trong khoảng trên dưới 50% công ty đã có những bạn hàng lớn tại đây. Nhưng công
ty cũng gặp phải những đối thủ cạnh tranh lớn đó là hàng dệt may Trung Quốc hiện
đang tràn ngập thị trường. Trung Quốc chiếm gần 90% tổng trị giá hàng dệt may
nhập khẩu vào Nhật trong khi đó, Việt Nam chỉ chiếm 3-5%.
Để cạnh tranh với hàng Trung Quốc giành lại một phần thị trường Nhật Bản,
không chỉ công ty mà các doanh nghiệp may mặc xuất khẩu cần phải cố gắng rất
nhiều đặc biệt là khâu quản lý chất lượng bởi tại thị trường này yêu cầu về chất
lượng sản phẩm là rất cao; bên cạnh đó là các yêu cầu về mẫu mã kiểu dáng sản
phẩm phải phù hợp với các phong tục tập quán của đất nước và con người cũng là
yếu tố mà các doanh nghiệp xuất khẩu may mặc phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ trước
khi xâm nhập vào thị trường này.
7
Th.S: Nguyễn Duy Đạt SVTH: Mai Thị Bích Phượng
Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
Hàn Quốc Đài Loan và Hồng Kông
Đây là 3 quốc gia thuộc Châu Á nên họ cũng mang những đặc điểm của
Th.S: Nguyễn Duy Đạt SVTH: Mai Thị Bích Phượng
Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
biện pháp quan trọng để giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người lao đông. Nó
cũng tạo điều kiện phát triển ngành hàng may mặc của công ty, tạo cho công ty cơ
hội xâm nhập vào thị trường các nước phát triển, góp phần mở rộng hoạt động kinh
doanh của công ty.
Tuy nhiên khác với hình thức xuất khẩu uỷ thác, ở hình thức này, công ty
phải chịu nhiều rủi ro hơn, chịu mọi trách nhiệm về chất lượng và giá cả, sản lượng
và thời gian giao hàng. Như mọi doanh nghiệp làm hàng gia công khác, công ty
luôn ở trong thế bị động, có được phía nước ngoài thuê hay không và thường phải
chấp nhận sản xuất theo các yêu cầu về kỹ thuật và mẫu mã mà phía đối tác đưa ra;
hơn nữa công việc sản xuất lại phụ thuộc vào thời gian của hợp đồng gia công.
2.4. Đặc điểm cơ cấu sản phẩm gia côngmay mặc của công ty
Trước đây, mẫu mã các sản phẩm gia công may mặc xuất khẩu thường do
các bên đối tác đưa ra nên phụ thuộc nhiều vào thị trường tiêu thụ. Đối với các bạn
hàng truyền thống thì các mặt hàng đặt gia công cũng thường là những mặt hàng
quen thuộc với công ty như quần bò, quần kaki áo jacket - thể thao, áo sơ mi và
quần âu… Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay thì việc có nhiều mẫu mã sản phẩm
cũng sẽ đồng nghĩa với việc thu hút được nhiều khách hàng hơn và khả năng đáp
ứng nhu cầu của khách hàng cũng được đánh giá cao hơn.
Chính vì lý do trên nên ngoài các sản phẩm truyền thống, Xí nghiệp cũng đã
tìm hiểu thiết kế thêm các mặt hàng khác nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng của khách
hàng trên thếgiới như váy, áo nỉ, đồ trẻ em, bít tất… Tuy nhiên, việc xuất khẩu các
mặt hàng mới như quần áo trẻ em, bít tất … đã không mang lại hiệu quả kinh tế cao
cho công ty. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay công ty cần quan tâm đến
việc đa dạng hoá cơ cấu các mặt hàng để có thể cạnh tranh, thu hút thêm khách
hàng với những sản phẩm mới đồng thời tìm ra mặt hàng có hiệu quả kinh tế cao để
đầu tư sản xuất kinh doanh.
Bảng 2.2: CƠ CẤU MẶT HÀNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU
Mặt hàng 2009 2010 2011 2012
Váy 102,7 2,7 412,3 7,4 541,7 8,7 712,3 9,5
MH khác 81,8 2,2 319,3 5,7 458,8 7,3 616,7 8,3
Tổng 3810 100 5597 100 6228,1 100 7462,6 100
Nguồn: báo cáo tổng kết xuất khẩu của công ty
BIỂU 2.2: CƠ CẤU MẶT HÀNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU
Nguồn: Tổng hợp từ bảng số liệu cơ cấu mặt hàng gia công xuất khẩu
Mỗi năm công ty bán công ty xuất khẩu khoảng 700 nghìn chiếc gồm tất cả
các mặt hàng. Nhìn vào bảng cơ cấu các mặt hàng gia công xuất khẩu thì chúng ta
có thể thấy quần bò là chiếm tỷ trọng cao nhất trong các mặt hàng, năm 2009 chiếm
61,6%, thấp nhất là năm 2012 chiếm 52,4%. Những sản phẩm như váy là sản chiếm
tỷ trọng không đáng kể.
Một điểm đáng chú ý trong cơ cấu mặt hàng gia công xuất khẩu của công ty
là mặt hàng quần xuất khẩu của công ty có doanh thu cao nhất và cũng thu được lợi
cao nhất. Vì kiểu dáng, mẫu mã của sản phẩm quần không cầu kỳ, sản xuất được
hàng loạt nên sức lao động bỏ ra trong hoạt động gia công quần không cao bởi thế
công ty nên tập phát triển sản xuất mặt hàng này đồng thời tìm kiếm và khai thác
phát triển thêm mặt hàng khác như Áo sơmi vì mặt hàng này chỉ yêu cầu cao về
chất lượng vải, đường nét may. Nhưng ở công ty mặt hàng áo sơ mi còn chiếm tỷ
trọng chưa cao, năm 2009 có tỷ trọng là 22,3% với doanh thu là 851,1 nghìn USD.
10
Th.S: Nguyễn Duy Đạt SVTH: Mai Thị Bích Phượng
Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
Chương 3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3.1. Những thành công trong hoạt động gia công quốc tế của công ty TNHH
may mặc xuất khẩu Vit - Garment
Trong những năm qua nền kinh tế thế giới cũng như trong nước có nhiều
biến động lớn đã tác động mạnh mẽ đến công ty. Từ khi Việt Nam gia nhập WTO
thực hiện cam kết mở cửa thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội cho công ty được mở
rộng thị trường ra nhiều nước, tìm kiếm thêm nhiều bạn hàng. Bên cạnh đó, công ty
định mức. Công ty đang triển khai quản lý tài sản cố định đến từng đầu máy, có sổ
sách, lý lịch đăng ký cho từng máy làm nâng cao ý thức trách nhiệm của từng cá
nhân đối với tài sản tại xí nghiệp. Đồng thời máy móc thiết bị cũng được tăng
cường bảo dưỡng, sửa chữa theo định kỳ hàng năm, quý.
Công ty đang không ngừng phấn đấu đầu tư, phát triển thúc đẩy hoạt động
gia công, đồng thời cải thiện môi trường sản xuất bảo vệ môi trường nước để đáp
ứng được những rào cản môi trường may mặc, hướng tới mục tiêu năm 2015 trở
thành công ty may mặc xuất khẩu trực tiếp.
3.2. Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động gia công quốc tế của
công ty TNHH may mặc xuất khẩu Vit - Garment
Cho đến nay phương thức kinh doanh của công ty vẫn chủ yếu là theo
phương thức gia công. Sản phẩm của công ty mới chỉ dừng lại ở các mặt hàng thông
thường do bên đối tác đưa các mẫu như quần âu và áo Jacket, áo sơ mi, nhận được
rất ít hợp đồng các mặt hàng cao cấp hoặc các mặt hàng thiết kế và sản xuất theo
mẫu riêng. Công ty chỉ thực hiện quá trình gia công sản phẩm từ các nguyên phụ
liệu mà khách hàng gửi tới và hưởng chi phí gia công nên hiệu quả kinh tế thấp.
Thị trường sản phẩm may là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, do đó công ty
Vit Garment phải cạnh tranh với rất nhiều các doanh nghiệp khác trên thị trường. Vì
vậy vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm là một vấn đề nan giải trong khi xí nghiệp
vẫn chưa đầu tư đúng mức vào công tác này.
Quy mô sản xuất và trình độ quản lý không phù hợp nên tiềm năng chưa
được khai thác đúng mức. Trình độ công nhân lao động trong ngành chưa thực sự
cao, số lượng lao động có tay nghề còn hạn chế, đặc biệt thiếu hẳn đội ngũ thiết kế
sản phẩm.
Ngoài ra công ty còn chưa chú trọng tới khâu bảo vệ môi trường xung quanh,
không chú trọng tới khâu trì bảo dưỡng hệ thống nước thải, dây truyền nhuộm còn
sử dụng một số hóa chất, chất trợ, thuốc nhuộm và các công nghệ gây ô nhiễm môi
12
Th.S: Nguyễn Duy Đạt SVTH: Mai Thị Bích Phượng
Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
quốc tế của công ty bị giảm sút do thị trường gia công hàng may mặc của Trung
Quốc phát triển mạnh với chi phí thấp nên có nhiều khách hàng đã chuyển hướng
đầu tư sang Trung Quốc. Ngoài ra, trong nước cũng có nhiều đơn vị kinh tế hoạt
13
Th.S: Nguyễn Duy Đạt SVTH: Mai Thị Bích Phượng
Báo cáo thực tập Khoa Thương Mại Quốc Tế
động trong lĩnh vực gia công may mặc và điều kiện về lao động, về kỹ thuật, máy
móc thiết bị tốt hơn của công ty, chi phí sản xuất – kinh doanh thấp nên khả năng
cạnh tranh của họ cao hơn.
Về môi trường thì do nước ta chưa có những quy định rõ ràng về tiêu chuẩn
môi trường trong các phân xưởng và nhà máy
Xét về những nguyên nhân bên trong công ty:
Máy móc thiết bị cũ, không được bảo trì bảo dưỡng thường xuyên và một số
đã hết khấu hao đã làm cho chất lượng sản phẩm kém, không đáp ứng yêu cầu của
khách hàng.
Công ty chưa có đội ngũ thiết kế riêng nên còn phụ thuộc vào đối tác.
Về công tác thị trường, công ty chưa quan tâm đến việc đề ra các chiến lược
marketing hợp lý cho từng thị trường cụ thể. Công ty chưa xây dựng được các chi
nhánh, các văn phòng đại diện ở nước ngoài để tiến hành nghiên cứu về thị hiếu tiêu
dùng ở từng quốc gia cụ thể. Vì vậy Xí nghiệp luôn luôn bị mất các hợp đồng có giá
trị lớn.
Nguồn nguyên liệu sản xuất hàng gia công cũng là một nhân tố đáng xét đến.
Hiện nay nguồn nguyên liệu trong nước chưa phong phú, chất lượng chưa cao, số
lượng còn hạn chế. Sự phối hợp giữa ngành may và ngành dệt chưa phù hợp với yêu
cầu của sản xuất may mặc. Khả năng tích luỹ vốn của Công ty chưa cao, hơn nữa
Công ty chỉ sử dụng hình thức gia công và uỷ thác là chính, nên chỉ nhận được tỷ lệ
hoa hồng và chi phí gia công thấp.
Ban lãnh đạo công ty chưa thực sự chú trọng tới hoạt công tác bảo vệ môi
trường, thường xuyên kiểm tra hệ thống nước thải. Không có đội ngũ chuyên gia về
thẩm định môi trường sản xuất.