BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG ĐÔ
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
o0o
BÁO CÁOTHỰC TẬP TỔNG HỢP
Đề tài
PHÁT TRIỂN KINH DOANH ĐỒ GỖ THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ TẠI LÀNG NGHỀ CHÀNG SƠN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Giảng viên hướng dẫn: NCV.Nguyễn Thanh Cừ
Sinh viên thực hiện: Chu Huyền Trag
Lớp QTDN-K17
HÀ NỘI 6/ 2014
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các làng nghề
truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP để phát triển
kinh tế của đất nước nói chung phát triển kinh tế nông thôn nói riêng. Nhiều
làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy
mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa được cải thiện đáng kể và ngày càng đa
dạng về mẫu mã và chất lương, không những phục vụ nhu cầu trong nước mà
còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn
đó còn tồn tại một số thách thức đặt ra đối với các làng nghề trong quá trình
hội nhập là phát triển theo hướng bền vững, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường đòi hỏi các làng
nghề phải vượt qua để tồn tại, nhất là ở giai đoạn kinh tế còn khó khăn như
Sinh
viên
Chu Huyền Trang.
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC
ĐÔNG TỚI LÀNG NGHỀ
1.1. Khái niệm và phân loại làng nghề
1.1.1 Khái niệm:
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông thôn đều
có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản xuất ra một
số hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của hộ gia đình
mang tính chất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có.
Nhưng qua một quá trình dài phát triển do có sự khác nhau về tay nghề và kinh
nghiệm tích luỹ được ở từng địa phương nhất định đã có sự chuyên môn hoá
và các sản phẩm làm ra bắt đầu đưa ra thị trường trao đổi như những loại hàng
hoá. Đó là quá trình chuyên môn hoá lâu đời và các sản phẩm của địa phương
đó không những bền đẹp mà có giá thành rẻ nên được xã hội chấp nhận. Theo
quan điểm chung, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở địa phương
nào đó được gọi là nghề khi nào phải tạo ra được một khối lượng sản phẩm
chiếm lĩnh thị trường thường xuyên và những người sản xuất, hoặc hộ sản xuất
đó lấy nghề đang hành làm nguồn thu chủ yếu thì mới được xem là có nghề.
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về “làng nghề”. Theo giáo
sư Trần Quốc Vượng thì “làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối
tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm
sứ, làm tương song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp
thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ
chức), có ông trùm, ông cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có
quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất
thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng
thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng
- Làng nghề công nghiệp cơ khí, chế tác như: chế tác vàng bạc, dát vàng, gia
công tái chế sắt thép.v.v
- Làng nghề xây dựng;
7
- Làng nghề dịch vụ.
c) Theo quy mô làng nghề:
- Làng nghề quy mô lớn, lan tỏa, liên kết nhiều làng làm cùng một nghề hoặc
cùng một không gian địa lí lãnh thổ, tạo thành vùng nghề hoặc xã nghề ở đó
các làng nghề, có quy mô lao động phi nông nghiệp rất lớn, không chỉ với lực
lượng lao động tại chỗ mà còn thu hút nhiều lao động đến làm thuê;
- Làng nghề quy mô nhỏ, là trong phạm vi một làng theo địa giới hành chính.
Ở các làng nghề này thường hoạt động kinh doanh một ngành nghề phi nông
nghiệp, được truyền nghề theo phạm vi dòng tộc
d) Theo loại hình kinh doanh của làng nghề có tính phổ biến ở Việt Nam:
- Các làng nghề truyền thống chuyên doanh một chủng loại sản phẩm hàng
hoá;
- Các làng nghề kinh doanh tổng hợp một số sản phẩm truyền thống;
- Các làng nghề vừa chuyên doanh các sản phẩm truyền thống vừa phát triển
các ngành nghề mới như dịch vụ, xây dựng. Loại làng nghề này phát triển
mạnh trong những năm gần đây.
e) Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề:
- Các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh các ngành nghề phi
nông nghiệp;
- Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp;
- Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu.
1.1.2.2 Các tiêu chí xác định làng nghề
Làng nghề được công nhận (theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn) phải đạt 03 tiêu chí sau:
(1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
nghề nông thôn;
đa dạng hóa kinh tế nông thôn thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Bảo tồn và phát
triển làng nghề có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
9
Trong quá trình phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần tăng
tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sản
xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu
nhập cao hơn. Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn
không chỉ có kinh tế nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủ
công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển.
Xét trên góc độ phân công lao động thì các làng nghề đã có tác động tích cực
tới sản xuất nông nghiệp. Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực
nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông
nghiệp. Mặt khác, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản
lượng cao hơn so với sản xuất nông nghiệp; do từng bước tiếp cận với kinh tế
thị trường, năng lực kinh doanh được nâng lên, người lao động nhanh chóng
chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những
ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thế
giới.
Hiện nay, các làng nghề đang phát triển đã đóng góp vai trò quan trọng trong
việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Sự phát triển của các nghề truyền
thống kéo theo sự phát triển của nhiều nghề khác nhau như thương mại, dịch
vụ, vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện nước,…và ngược lại, những ngành
nghề này lại hỗ trợ trực tiếp cho sự phát triển của các làng nghề.
Sự phát triển của làng nghề có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH. Sự phát triển
lan tỏa của làng nghề đã mở rộng qui mô địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao
động. Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60 - 80% cho công nghiệp
và dịch vụ, 20 - 40% cho nông nghiệp.
1.3.1.2 Góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao
dân tộc; đồng thời cũng là một phương thức giới thiệu sinh động về mỗi vùng,
miền, địa phương trên đất nước.
11
Theo thống kê, Hà Nội có hơn 1350 làng nghề, với hàng chục nhóm ngành
nghề đang phát triển mạnh: gốm sứ, dệt may, điêu khắc, mây tre đan, khảm
trai Đến nay, nhiều làng nghề hình thành từ lâu đời, nổi tiếng trong và ngoài
nước, đã được du khách biết đến và trở thành điểm du lịch hấp dẫn
Thời gian qua, nhiều công ty du lịch lữ hành đã triển khai các tour đưa du
khách đến tham quan nhiều điểm làng nghề nổi tiếng
1.3.1.4 Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động.
Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các nghề thủ công không
đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ
do thợ thủ công tự sản xuất được; đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là
qui mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huy động vốn
và các nguồn lực vật chất của các gia đình, đó là lợi thế để các làng nghề có
thể huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinh doanh. Mặt
khác, do đặc điểm sản xuất lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng
chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tận dụng và thu
hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi
hay dưới độ tuổi lao động, trẻ em vừa học và tham gia sản xuất dưới hình thức
học nghề hay giúp việc, lực lượng này chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng số
lao động làng nghề.
1.3.1.5 Thúc đẩy quá trình đô thị hóa
Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâm
giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá. Những trung tâm này ngày
càng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn. Hơn
nữa, nguồn tích lũy của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghi
sinh hoạt. Dần dần ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày
một rõ nét, nông thôn đổi thay và từng bước được đô thị hóa qua việc hình
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển hoạt động kinh doanh làng
nghề
1.4.1 Nhân tố vĩ mô
1.4.1.1 Chính sách kinh tế
Làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam đóng vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Tuy nhiên, hình
thức tổ chức sản xuất hộ gia đình vẫn là chủ yếu, tương ứng với đó là quy mô
vốn của các làng nghề nhìn chung còn nhỏ. Để phát triển làng nghề thủ công
mỹ nghệ Việt Nam, Nhà nước nên áp dụng tổng hợp các giải pháp quản lý,
trong đó có chính sách vốn và đầu tư tín dụng.
-Nhu cầu đầu tư vốn tại các làng nghề TCMN
Làng nghề TCMN ở Việt Nam có lịch sử phát triển hàng nghìn năm. Hiện
nay, nước ta có khoảng 2.700 làng nghề, trong đó làng nghề TCMN chiếm
khoảng 30% tổng số làng nghề. Các làng nghề tạo việc làm, tăng thu nhập cho
người dân khu vực (trung bình thu nhập của người lao động trong các làng
nghề cao gấp 3-4 lần so với người lao động thuần nông). Các mặt hàng TCMN
Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới, được xuất khẩu trên 163
quốc gia. Việc đầu tư vốn cho làng nghề có vai trò quan trọng:
Đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại làng nghề sẽ góp phần giải
quyết các vấn đề xã hội và các quan hệ phức tạp khác như: xóa đói giảm
nghèo, bài trừ các hủ tục lạc hậu… Các chính sách đầu tư hợp lý sẽ góp phần
thực hiện các chính sách xã hội, một vấn đề đều được các nước và các tổ chức
quốc tế quan tâm.
Kinh tế làng nghề đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông
thôn. Các làng nghề nước ta hiện nay đang thiếu vốn để sản xuất, để mở rộng
ngành nghề, để xây dựng cơ sở vật chất và kết cầu hạ tầng… Do vậy, chính
sách vốn và các hoạt động đầu tư sẽ góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa –
hiện đại hóa (CNH – HĐH) tại làng nghề, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế.
14
Bảng 1.1. Phân bố làng nghề thủ công mỹ nghệ theo nhóm sản phẩm
một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn
theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ.
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 22/4/2010 của Chính phủ về chính sách
tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
15
- Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính phủ về chính sách
khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
- Thông tư số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam về hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày
22/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn.
Nhìn chung, một số chính sách vốn và đầu tư mà Nhà nước ban hành đã góp
phần tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển ngành nghề nông thôn nói
chung và các làng nghề TCMN nói riêng. Những năm gần đây, hệ thống ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tập trung thực hiện cho vay theo
chương trình, dự án mục tiêu, hỗ trợ về tài chính tại các làng nghề. Một số
chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn đã
quy định việc Nhà nước hỗ trợ tài chính dưới hình thức tín dụng ngân hàng với
lãi suất ưu đãi, góp phần mở rộng phạm vi và cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín
dụng hỗ trợ cho các hộ và DN tại các làng nghề. Chính phủ tiếp tục hỗ trợ lãi
suất vay vốn ngân hàng đối với một số mặt hàng xuất khẩu, trong đó có mặt
hàng TCMN xuất khẩu của các làng nghề (QĐ178/1998/QĐ-TTg ngày
19/9/1998).
Bên cạnh đó, các cơ sở kinh doanh trong các làng nghề còn được Quỹ hỗ trợ
phát triển cho vay tín dụng đầu tư, hỗ trợ lãi suất đầu tư, bảo hành tín dụng đầu
tư. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, cho thấy các nguồn vốn để cung cấp cho các
làng nghề còn rất hạn chế. Việc thiếu vốn xảy ra do khả năng tích lũy để đầu tư
phát triển sản xuất của các cơ sở còn thấp và do khả năng tiếp cận các nguồn
vốn chính thức hay bán chính thức còn hạn hẹp; do sự liên kết kinh tế với các
đơn vị kinh tế khác còn yếu, chưa linh hoạt. Mặt khác, việc thực thi một số
Về các chính sách hỗ trợ của Nhà nước để các làng nghề truyền thống phát
triển gắn với phục vụ phát triển du lịch, theo nhiều đại biểu, các chính sách hỗ
17
trợ của Nhà nước, từ cấp Trung ương cho đến địa phương được đánh giá là yếu
tố quyết định để tháo gỡ những rào cản, trở ngại, khó khăn hiện nay của các
làng nghề. Và cho đến nay, hệ thống chính sách liên quan đến phát triển kinh tế
làng nghề và du lịch làng nghề đã có rất nhiều nhưng còn chung chung, chồng
chéo, nguồn lực thực thi hạn chế. Vì vậy, hiệu ứng của chính sách còn mờ
nhạt. Dẫn tới du lịch tại các làng nghề vẫn còn yếu kém, hiệu quả thấp, dịch vụ
còn đơn sơ, nghèo nàn, sản phẩm kém hấp dẫn, kém sức cạnh tranh.
1.4.1.3 Chính sách văn hóa –xã hội
Việc triển khai 03 mô hình dạy nghề nông dân đã đạt được những kết quả
bước đầu (Mô hình thứ nhất là đào tạo nghề, tổ chức việc làm để xây dựng
làng nghề mới - áp dụng cho những địa phương thiếu ruộng đất, có nhiều lao
động nhưng thiếu việc làm, chính quyền địa phương có nhu cầu quy hoạch
hình thành làng nghề mới. Mô hình 2 là đào tạo nghề, tổ chức việc làm kết hợp
phát triển vùng nguyên liệu tại địa phương. Mô hình 3 là đào tạo nghề, tổ chức
việc làm cho lao động nông thôn để duy trì và phát triển các làng nghề truyền
thống - áp dụng cho các làng nghề hiện có; địa phương có lao động nhưng
chưa có nghề, không có việc làm hoặc ít việc làm, ưu tiên dạy ở những làng
nghề có triển vọng phát triển bền vững). Đào tạo lao động để phát triển làng
nghề đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa Hiệp hội doanh nghiệp các tỉnh để theo
dõi tiến trình hoạt động. Thế mạnh trong đào tạo nghề truyền thống đó là: các
cơ sở thành viên chủ yếu là các doanh nghiệp, các Hiệp hội sản xuất nhỏ nắm
vững kỹ thuật, gắn liền với sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Tuy nhiên, khó
khăn còn tồn tại ở chỗ, kinh nghiệm đào tạo và truyền nghề theo kiểu trực tiếp.
Các Hiệp hội đã kiến nghị Bộ giao chỉ tiêu đào tạo các nghề truyền thống và
tìm ra cách thức hữu hiệu nhất để Hiệp hội có thể tham gia vào quá trình dạy
nghề cũng như truyền nghề, tận dụng được những kinh nghiệm chất xám, xây
dựng được những chương trình đào tạo ngắn hạn, phát hiện ra những mặt
phẩm lên cao, khiến cho mặt hàng thủ công rơi vào tình cảnh khó khăn chồng
chất khó khăn.
19
- Thị trường nội địa
Thực tế, hàng thủ công mỹ nghệ là sản phẩm có tiềm năng thị trường trong
nước rất lớn. Khi chuyển hướng từ thị trường xuất khẩu sang nội địa, nếu DN
đầu tư mạnh việc phát triển sản phẩm nhờ những thiết kế mới, độc đáo có thể
cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc, Thái Lan để
chiếm lĩnh thị trường nội địa. Tại thời điểm này, mặc dù DN phải chi thêm một
số khoản đầu tư cho việc phát triển sản phẩm, mở showroom, quảng bá, chăm
sóc khách hàng nhưng bù lại, nhiều đơn hàng trong nước cũng không hề thua
kém xuất khẩu, nhất là cung cấp cho nhà hàng, khách sạn, resort … Hiện nay,
thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và sản phẩm tranh thủ
công mỹ nghệ nói riêng đang giảm sút buộc các DN dần quay lại thị trường nội
địa, nơi có tiềm năng tiêu thụ lớn nhưng còn bỏ ngỏ.
1.4.1.3 Sức cạnh tranh của sản phẩm trong làng nghề
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ hiện đã có mặt hầu khắp các quốc gia trên thế
giới với tốc độ tăng trưởng 17,87%/năm. Với thị trường EU, xuất khẩu chính
là mặt hàng gỗ, trong đó, Đức, Pháp, Hà Lan đã chiếm 10% tổng hàng hoá
nhập khẩu. Tại Nhật Bản, khách hàng rất ưa chuộng mặt hàng gỗ, hộp đan
bằng mây, rổ mây, giỏ mây, bát đĩa tre, khay đan bằng mây… của Việt Nam.
Riêng tại thị trường Hoa Kỳ, các sản phẩm sơn mài, bình tre, mành trúc, ghế
mây tre, mành tre, bình phong tre, giỏ lục bình… của Việt Nam cũng rất được
ưa chuộng. Ngooài ra, thị trường Nam Phi cũng tăng trưởng với nhiều triển
vọng khi có nhiều doanh nghiệp Việt Nam tiến hành xúc tiến thương mại tại
đây.
Để sản phẩm thủ công mỹ nghệ cạnh tranh được trên thị trường và kim
ngạch xuất khẩu đạt giá trị cao tại các thị trường tiềm năng, thì các doanh
nghiệp xuất khẩu cần tìm hiểu kỹ các quy định về nhập khẩu. Chẳng hạn như
Nhật Bản hay Canada là thị trường có mức nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
1.4.1.4 Cơ cấu,tổ chức sản xuất kinh doanh
21
Nghề thủ công mỹ nghệ chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng số các loại
hình kinh tế của nước ta (chiếm 37%). Tiếp đó là loại hình chế biến lương
thực, thực phẩm chiếm 24%, thấp nhất là loại hình tái chế chất thải chiếm 1%
Hình 1.1 Cơ cấu các loại hình kinh tế của nước ta.
Nguồn: vea.gov.vn
Các làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay ngoài hình thức sản xuất theo quy
mô nhỏ, lẻ, mang tính chất hộ gia đình thì đã hình thành hình thức sản suất tập
trung theo hình thức thu gom sản xuất của một xí nghiệp hay đơn vị thu mua
lớn để tìm kiếm thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn
22
Hình 1.2. Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ chặt chẽ từ khâu thu gom nguyên
liệu đến khâu hoàn thiện và tiêu thụ sản phẩm của một xí nghiệp sản xuất
đồ thủ công nghệ nhỏ:
Nguồn: ipsard.gov.vn
1.4.1.5 Khách hàng
Khách hàng sử dụng mặt hàng này rất đa dạng . Nó hướng tới mọi đối tượng
khách hàng không kể tuổi tác, giới tính, vị trí địa lý… Mặt hàng chủ yếu của
các làng nghề là những sản phẩm phục vụ tiêu dùng hàng ngày như mây tre
đan, gốm sứ, tre nứa, đồ gỗ,…đều rất gần gũi với đời sống của người dân
1.4.1.6 Nhân tố kết cấu hạ tầng:
Kết cấu hạ tầng KT-XH ở nông thôn bao gồm hạ tầng kinh tế như: kỹ thuật,
điện nước, giao thông, thông tin liên lạc, phương tiện đi lại hạ tầng xã hội
như: phòng khám đa khoa, bệnh viện, các trường học; các loại hình dịch vụ
như: thư viện, bưu điện Hạ tầng ở nông thôn nói chung và các làng nghề nói
riêng còn nghèo nàn, có nhiều cản trở sự phát triển các làng nghề. Hệ thống
giao thông, thông tin liên lạc ở các làng nghề kém, điện cung cấp không đều,
cường độ dòng điện yếu. Phải thấy rằng, sự hình thành và phát triển bền vững
thành hai dạng địa hình chính:
+ Dạng địa hình bán sơn địa, đồi gò: Độ cao trung bình so với mặt nước biển
từ 10 m đến hơn 15 m. Đất phát triển trên nền đá đã phong hóa nhiều nơi có
lớp đá ong ở tầng sâu 20 - 50cm.
+ Dạng địa hình đồng bằng: bên bờ trái sông tích, địa hình khá bằng phẳng, độ
cao trung bình khoảng từ 3 đến 10 m so với mặt biển. Trong khu vực cũng có
nhiều điểm trũng tạo thành các hồ đầm nhỏ.
Đặc điểm xã hội
Thạch Thất là huyện ngoại thành phía tây thủ đô Hà Nội
- Có diện tích đất tự nhiên 18.459ha
- Dân số 190.150 người (năm 2012).
25