PHƯƠNG PHÁP TRƯNG BÀY SẢN PHẨM HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG MÔN MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC - Pdf 26

PHÒNG GD & ĐT HUYỆN KRÔNG PẮC
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN DU
======****=====

ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP TRƯNG BÀY SẢN PHẨM HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRONG MÔN MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

Người thực hiện: Dương Thị Phượng
Đơn vị: Trường Tiểu học Nguyễn Du
Năm học: 2014 - 2015
MỤC LỤC

Trang
Mục lục. 1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài. 3
I.2. Mục đích , nhiệm vụ nghiên cứu. 4
I.3. Đối tượng nghiên cứu. 4
I.4. Phạm vi nghiên cứu 4
I.5. Phương pháp nghiên cứu. 4
II. PHẦN NỘI DUNG.
II.1. Cơ sở lý luận. 5
II.1.1. Một số khái niệm 5
II.1.2.Hệ thống chương trình môn mĩ thuật ở Tiểu học 7
II.2. Thực trạng 7
II.2.1 Thuận lợi 7
II.2.2. Khó khăn 7
II.2.3. Điều tra cơ bản. 8
II.3. Biện pháp và giải pháp 8
II.3.1. Những tiêu chí của kiểm tra, đánh giá học tập kết quả trong việc trưng

sinh sau mỗi bài học chưa được phổ biến, mới chỉ dừng lại ở mức độ treo bài vẽ
lên để học sinh nhận xét đánh giá, sau đó giáo viên thu lại hoặc trả lại cho học
sinh. Với cách này đã không giúp cho học sinh thấy được sự cần thiết của việc
trưng bày bài vẽ sao cho đúng và đẹp. Cũng không tạo cho học sinh sự thích thú
sau mỗi tiết học Mĩ thuật.
Chính vì lý do này nên tôi đã thực hiện việc tìm hiểu, nghiên cứu và thực
nghiệm việc trưng bày sản phẩm học tập của học sinh ở trường nơi tôi đang trực
tiếp giảng dạy.
I.2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Với đề tài này tôi muốn góp phần nhỏ của mình vào việc giảng dạy bộ môn Mĩ
thuật trong việc trưng bày sản phẩm học tập của học sinh ở Tiểu học hiện nay và
giúp các em thấy được sự cần thiết của việc trưng bày sản phẩm học tập sau mỗi
bài học.
Để phục vụ cho việc giảng dạy Mĩ thuật có chất lượng cao. Vì vậy, đề tài tập
trung nghiên cứu về cách vận dụng đổi mới việc trưng bày sản phẩm học tập của
học sinh ở trường Tiểu học.
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là những kết quả đạt được trong việc trưng bày kết quả
học tập của học sinh Tiểu học.
I.4. Phạm vi nghiên cứu.
Dựa trên cơ sở thực tế của học sinh trường Tiểu học Nguyễn Du khối lớp: 1, 2,
3, 4, 5.
I.5. Phương pháp nghiên cứu.
a. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết (nghiên cứu qua các văn bản,
chương trình, giáo trình, tài liệu sách báo…).
b. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra tình hình học sinh.
- Dự chuyên đề trao đổi, dự giờ, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy môn
Mĩ thuật.

hiểu biết, những kỹ năng, tri thức thì người học cần phải trải qua quá trình học và
luyện tập.
Như chúng ta đã biết việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh, đặc biệt là học sinh
Tiểu học có vai trò thiết thực trong việc hình thành nên một con người có năng lực
về nhận thức, đánh giá, sáng tạo và hành động theo cái đẹp.Vì vậy, việc trưng bày
sản phẩm học tập của học sinh trong môn Mĩ thuật thì việc giáo dục thẩm mĩ cũng
rất quan trọng. Trong quá trình trưng bày sản phẩm học tập, học sinh sẽ biết được
việc trưng bày cũng cần phải đẹp, phải đúng và “thẩm mĩ’’.
Việc trưng bày sản phẩm học tập của học sinh có ý nghĩa rất lớn trong môn
Mĩ thuật. Sau mỗi bài dạy chúng ta cần lưu giữ lại những tác phẩm đẹp, có nội
dung sâu sắc, cách trình bày tốt của học sinh. Lưu giữ lại không phải là cất đi mà
chúng ta phải làm thế nào để các em có thể thấy, tiếp cận và biết được về bức
tranh, tên của người đã thể hiện bức tranh. Qua đó, học sinh sẽ được tiếp xúc với
nhiều tranh, nhiều đề tài, học hỏi được cách thể hiện. Học sinh hiểu hơn về cái đẹp,
có khả năng sáng tạo, có ý thức tốt trong môn học và trong cuộc sống hàng ngày
thông qua các đề tài vẽ tranh mà học sinh được học, được vẽ và được thấy.
Trưng bày sản phẩm học tập cũng là một nghệ thuật, việc giáo dục thẩm mĩ
cho học sinh là rất cần thiết.
II.1.2. Hệ thống chương trình môn Mĩ thuật ở Tiểu học.
Các phân môn trong chương trình Mĩ thuật được xuyên suốt từ khối 1 đến
khối 5. Cụ thể từng phân môn:
* Đối với phân môn Vẽ theo mẫu có 8 bài.
* Đối với phân môn Vẽ trang trí có 9 bài.
* Đối với phân môn Vẽ tranh có 9 bài.
* Đối với phân môn Tập nặn tạo dáng có 4 bài.
* Đối với phân môn Thường thức Mĩ thuật có 4 bài.
II.2. Thực trạng
II.2.1. Thuận lợi:
Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh, nhất là học
sinh Tiểu học. Thừa hưởng truyền thống dạy tốt – học tốt của trường Tiểu học

sản phẩm học tập
Số học sinh không biết
trưng bày sản phẩm học tập
Tổng số % Tổng số %
1/3 48 31 65% 17 35%
2/2 37 23 62% 14 38%
3/3 47 36 77% 11 23%
4/2 37 27 73% 10 27%
5/2 52 39 75% 13 25%
II.3. Giải pháp và biện pháp
II.3.1. Những tiêu chí của kiểm tra, đánh giá học tập kết quả trong việc trưng
bày sản phẩm học tập của học sinh.
Đối với học sinh tiểu học thì việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Mĩ
thuật của học sinh để động viên khuyến khích các em tiếp cận và thể hiện cái đẹp
theo cách cảm cách nghĩ của bản thân. Vận dụng được kiến thức, kỹ năng đã học
vào cuộc sống. Vì thế, cần tìm được cái hay, cái đẹp riêng của học sinh thể hiện
qua mỗi bài vẽ, không lấy đánh giá để răn đe hoặc quá chặt chẽ cứng nhắc.
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Mĩ thuật của học sinh được xem
là công việc cuối cùng là một bộ phận quan trọng và hợp thành một tổng thể thống
nhất của quá trình giáo dục có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học. Để có bài
vẽ đẹp về hình thức và nội dung phục vụ cho việc trưng bày sản phẩm học tập thì
việc kiểm tra đánh giá cũng cần có chuẩn mực và tiêu chí đặt ra cho từng khối lớp,
từng phân môn, từng bài dạy, từng thời kỳ và đảm bảo yêu cầu đánh giá toàn diện
kiến thức, kỹ năng theo chuẩn được quy định trong.
* Đối với học sinh khối lớp 1 tiêu chí của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo từng phân môn:
- Phân môn Vẽ theo mẫu:
+ Học sinh biết quan sát mẫu để vẽ, không dùng thước và compa để vẽ nét thẳng,
nét cong.
+ Bài vẽ mô phỏng gần giống mẫu về hình dáng, tỉ lệ.

+ Học sinh biết cách chọn đất, nhào đất.
+ Học sinh biết cách tạo khối, tạo hình cho sản phẩm.
- Phân môn Thường thức Mĩ thuật:
+ Học sinh biết quan sát, nhận xét, so sánh hình ảnh, màu sắc khi xem tranh.
+ Có cảm nhận ban đầu về vẻ đẹp của các bức tranh.
* Đối với học sinh khối lớp 3 tiêu chí của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo từng phân môn:
- Phân môn Vẽ theo mẫu:
+ Học sinh biết quan sát, nhận xét, so sánh vật mẫu.
+ Học sinh biết sắp xếp hình vẽ cân đối với tờ giấy, vẽ được hình mô phỏng theo
mẫu.
+ Không dùng thước kẻ, compa để vẽ các nét thẳng, nét cong.
- Phân môn Vẽ trang trí:
+ Học sinh biết cách vẽ họa tiết, sắp xếp họa tiết và vẽ màu phù hợp vào bài trang
trí.
+ Trang trí được đường diềm, hình vuông và hình chữ nhật.
- Phân môn Vẽ tranh:
+ Học sinh biết cách chọn đề tài đơn giản phù hợp với khả năng.
+ Biết cách chọn hình ảnh, sắp xếp hình ảnh theo đề tài.
+ Biết cách vẽ màu phù hợp với nội dung đề tài.
- Phân môn Tập nặn tạo dáng:
+ Học sinh biết cách chọn đất, nhào đất.
+ Học sinh biết cách tạo khối, tạo hình cho sản phẩm.
- Phân môn Thường thức Mĩ thuật:
+ Học sinh biết quan sát, nhận xét hình ảnh, màu sắc khi xem tranh.
+ Học sinh có cảm nhận ban đầu về vẻ đẹp của bức tranh.
* Đối với học sinh khối lớp 4 tiêu chí của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo từng phân môn:
- Phân môn Vẽ theo mẫu:
+ Học sinh biết quan sát, nhận xét, so sánh hình dáng, tỉ lệ của vật mẫu.

+ Học sinh hiểu biết thêm về màu sắc và sử dụng được màu sắc vào các bài thực
hành vẽ trang trí.
+ Vẽ được họa tiết đối xứng ở bài trang trí; làm được các bài trang trí cơ bản, ứng
dụng theo cảm nhận riêng.
+ Bước đầu cảm nhận được vẻ đẹp của trang trí cơ bản và trang trí ứng dụng.
- Phân môn Vẽ tranh:
+ Học sinh biết tìm, chọn nội dung đề tài và các hình ảnh chính, phụ.
+ Hiểu được cách vẽ và vẽ được tranh có nội dung theo đề tài hoặc theo ý thích.
+ Vẽ màu hài hòa, có đậm, có nhạt theo cảm nhận riêng.
- Phân môn Tập nặn tạo dáng:
+ Nhận biết được đặc điểm và cấu tạo của đối tượng.
+ Biết cách nặn, nặn được hình và tạo dáng theo ý thích bằng đất sét hay đất màu.
+ Sắp xếp hình nặn theo đề tài.
- Phân môn Thường thức Mĩ thuật:
+ Tìm hiểu nội dung các tác phẩm qua bố cục, hình vẽ và màu sắc.
+ Biết sơ qua một số chất liệu được sử dụng trong tranh của các họa sĩ và một số
chất liệu được sử dụng trong điêu khắc cổ.
+ Cảm nhận được vẻ đẹp ở tranh vẽ của họa sĩ và ở điêu khắc cổ Việt Nam.
+ Yêu thích quý trọng các tác phẩm nghệ thuật của dân tộc.
Trong quá trình sử dụng phương pháp kiểm tra, đánh giá theo tiêu chuẩn
mới thì tôi thấy được những ưu điểm rất rõ. Như chúng ta đã biết Mĩ thuật là môn
học về cái đẹp, nhìn ra cái đẹp để lĩnh hội và cảm thụ cái đẹp, thưởng thức cái đẹp.
Tiêu chí về cái đẹp là những quy định chung mang tính định hướng, vì thế không
dập khuôn, máy móc theo một công thức cụ thể. Việc đánh giá kết quả học tập Mĩ
thuật dựa vào đánh giá định tính (nhận xét) bởi sự tổng hòa của những kỹ năng, vẻ
đẹp, sáng tạo và nét riêng của học sinh thông qua bố cục, đường nét, màu sắc và
cách thể hiện.
II.3.2. Vận dụng việc đổi mới trưng bày sản phẩm học tập của học sinh thông
qua kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức mới.
Như đã nói ở trên, dạy học Mĩ thuật là dạy cho học sinh cảm nhận và tạo ra

viên phải giải thích cho học sinh hiểu từ “phân môn’’ để các em biết).
Khi cả lớp đã trả lời xong, giáo viên bắt đầu cho học sinh có bài đẹp đến nơi
treo bài và đặt đúng vị trí.
Giáo viên đặt câu hỏi chung cho cả lớp nhằm mục đích tạo điều kiện cho các
em biết đặt tên cho một bức tranh theo nội dung, đề tài. Học sinh biết trưng bày bài
theo đúng phân môn, đúng đề tài, để từ đó học sinh có thói quen, quan tâm tới các
phân môn, nhớ tới các đề tài, biết cách thể hiện nội dung và cách trưng bày sản
phẩm.
Trong chương trình Mĩ thuật ở Tiểu học có 5 phân môn, có một phân môn
Tập nặn tạo dáng, vì vậy mỗi lớp cần chuẩn bị một bàn để trưng bày và 04 tờ giấy
rôki hoặc bảng làm theo mẫu trên. Phân môn nào thì trình bày nội dung theo phân
môn đó. Đối với phân môn Thường thức Mĩ thuật, học sinh sưu tầm các hình ảnh
liên quan tới bài học và dán lên tờ giấy A4.
Phân môn vẽ tranh của lớp 5 có đề tài: vẽ tranh đề tài nhà trường, vẽ đề tài
ngày Nhà giáo Việt Nam, vẽ tự do Phân môn vẽ tranh có nhiều đề tài nên tôi đã
gộp lại thành một số đề tài cụ thể như: Tranh chân dung, tranh phong cảnh, tranh
tự do, tranh sinh hoạt. Sau đó, tôi trình bày theo khung mẫu dưới (có tranh, ảnh
kèm theo): Trang: 17
TRƯNG BÀY SẢN PHẨM HỌC TẬP MÔN MĨ THUẬT
LỚP: 5A
PHÂN MÔN: VẼ TRANH
Tranh
chân dung
Tranh
phong cảnh
Tranh
tự do
Tranh
sinh hoạt
Tranh vẽ của

Tranh của họa sĩ Ảnh về tượng và điêu khắc cổ
Tranh sưu tầm của học sinh Ảnh sưu tầm của học sinh
LỚP: 5A
PHÂN MÔN: VẼ TRANG TRÍ
Trang trí cơ bản Trang trí ứng dụng

LỚP: 5A
PHÂN MÔN: THƯỜNG THỨC MĨ THUẬT
Tranh của họa sĩ Ảnh về tượng và điêu khắc cổ
Phân môn vẽ theo mẫu của lớp 5 có các bài vẽ: Mẫu vẽ là khối hộp, khối cầu;
mẫu có dạng hình trụ, hình cầu, Mẫu vẽ có 2 hoặc 3 vật mẫu; vẽ tĩnh vật màu.
Phân môn vẽ theo mẫu được trình bày với các nội dung như khung mẫu dưới (có
tranh, ảnh kèm theo): Trang: 22
TRƯNG BÀY SẢN PHẨM HỌC TẬP MÔN MĨ THUẬT
LỚP: 5A
PHÂN MÔN: VẼ THEO MẪU
Mẫu vẽ các hình, khối Mẫu vẽ có 2 hoặc 3
vật mẫu
Vẽ tĩnh vật
Tranh vẽ
của học sinh
Tranh vẽ
của học sinh
Tranh vẽ
của học sinh

LỚP: 5A

phẩm học tập, từ đó học sinh sẽ thấy môn Mĩ thuật có nhiều điều cần phải học, cần
phải tìm hiểu và thấy được Mĩ thuật rất cần cho cuộc sống của mình.
II.3.3. Những kinh nghiệm của bản thân sau khi vận dụng việc đổi mới trưng
bày sản phẩm học tập của học sinh thông qua kiểm tra, đánh giá theo chuẩn
kiến thức mới.
Trong quá trình thực nghiệm ở trường Tiểu học Nguyễn Du nơi tôi công
tác, thời gian đầu việc thực nghiệm theo đề tài này tôi gặp không ít khó khăn trong
việc giúp học sinh hiểu được cách trưng bày sản phẩm học tập cũng như việc hoán
đổi giữa các lớp. Nhưng sau một thời gian thực hiện học sinh đã làm quen và biết
cách trưng bày bài, các em có ý thức hơn trong việc giữ gìn các bài vẽ trưng bày.
Để làm được điều này giáo viên không được nóng vội, cần phải hướng dẫn cụ thể
từng bước cho các em, để các em làm quen dần đặc biệt là học sinh khối lớp 1, 2,
3.
Trong quá trình thực hiện giáo viên có thể kết hợp một số trò chơi hay hình
thức nào đó để học sinh quan tâm đến việc trưng bày sản phẩm học tập. Giáo viên
cũng tạo mọi điều kiện cho học sinh tích cực, chủ động tham gia và tham gia có
hiệu quả các hoạt động.
II.4. Những kết quả của việc thực nghiệm đề tài.
* Kết quả sau khi thực nghiệm: Sau một thời gian thực nghiệm ở trường Tiểu
học Nguyễn Du, trưng bày sản phẩm đã có những thay đổi đáng kể thông qua bảng
điều tra sau khi thực nghiệm dưới đây:
Lớp Sĩ số
Số học sinh biết trưng bày
sản phẩm học tập
Số học sinh không biết
trưng bày sản phẩm học tập
Tổng số % Tổng số %
1/3 48 47 98% 01 2%
2/2 37 36 97% 01 3%
3/3 47 45 96% 02 4%

gia học tập.
* Mối quan hệ chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội là động lực thúc đẩy
giúp các em vững bước trên con đường hoàn thiện nhân cách của mình.
- Kết hợp gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội: Mở các cuộc thi, hội thi, các
cuộc triển lãm, phòng trưng bày sản phẩm có liên quan đến Mĩ thuật tạo ra cho các
em một môi trường để giao lưu.
Trên đây là những kiến nghị của cá nhân tôi, rất mong được sự quan tâm
đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học và đồng nghiệp.
Eakly, ngày 04 tháng 12 năm 2014
Người viết
Dương Thị Phượng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách giáo khoa Mĩ thuật khối 1, 2, 3, 4, 5.(Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)
- Sách giáo viên Mĩ thuật khối 1, 2, 3, 4, 5. (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Mĩ thuật. (Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam)
Và một số tài liệu tham khảo khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status