SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1 TĂNG NHANH
VỐN TỪ VÀ HIỂU NGHĨA KHI HỌC MÔN TIẾNG VIỆT”
I. Lí do chọn đề tài:
Sau khi rời bàn tay chăm sóc của các cô mẫu giáo cũng như sự chăm chút của ông
bà, cha mẹ. Trẻ 6 tuổi bước vào một giai đoạn mới là được đi học và vào học lớp Một
tại các trường tiểu học. Bước đầu học chữ, học đọc, học viết nên trẻ còn nhiều bỡ ngỡ
và tiếp thu kíên thức thật khó khăn. trẻ phải biết và nói lên được những yêu cầu cần
thiết của một bài học, từ đó nhìn vào âm – vần – tiếng trẻ đọc lên đúng âm – vần –
tiếng giáo viên dạy và cũng từ đây trẻ sẽ hiểu thêm được từ – câu – bài văn. Với những
yêu cầu ngày càng cao đòi hỏi học sinh lớp Một phải nắm bắt được kiến thức một cách
vững vàng để biến kiến thức đó thành kĩ năng, kĩ xảo trong môn Tiếng Việt. cũng vì
muốn học sinh học thật tốt môn học này, nên việc giúp trẻ tăng thêm vốn từ hiểu nghĩa
từ và tiến tới dùng từ chính xác tạo nền tảng vững chắc cho việc học lên những lớp trên
là việc làm khó khăn mà người giáo viên dạy lớp Một phải trải qua và khắc phục.
II. Cơ sở lí luận để chọn đề tài:
Ngôn ngữ nhân loại, ngay từ những ngày đầu sơ khai của xã hội loài người, đã
hình thành và ngày càng phát triển. Nó chính là công cụ giao tiếp vô cùng quan trọng
trong đời sống hàng ngày của con người, mà con người là sự tổng hoà của các mối
quan hệ xã hội.
Chúng ta phải công nhận tiếng Việt rất giàu và đẹp. Lời hay ý đẹp đã có sẵn trong
tiếng Việt và ngày càng phát triển. Chúng ta không lấy thế làm thoả mãn mà cần có ý
thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Việc giúp học sinh lớp Một tăng nhanh vốn từ, hiểu nghĩa từ và tiến tới nói đúng,
nói hay là vô cùng cần thiết. Vì nhờ đó mà các em sẽ không gặp khó khăn khi học môn
ngữ pháp và tập làm văn ở các lớp học trên.
Muốn phát triển ngôn ngữ của trẻ nhất là học sinh cấp tiểu học thì phải thông qua
các hoạt động tập thể, điều kiện và môi trường sống. Các hoạt động ngày càng phong
phú và đa dạng thì vốn hiểu biết của trẻ càng rộng. Hình thức để ta ta tăng vốn từ cho
học sinh một cách nhanh chóng và tốt nhất là thông qua hoạt động dạy học. ở tất cả các
Âm đầu
\
/
.
?
~
b ……… ………. ………. ……… ……… ………
v ……… ………. ………. ……… ……… ………
l ……… ………. ………. ……… ……… ………
………….
Bảng 2:
Gồm các phụ âm đầu được ghi bằng 2, 3 con chữ (th, ch, kkh, ph, nh, gh, qu, ng,
ngh, tr) được ghi ở cột dọc, và 6 cột ghi thanh như ở bảng 1.
Thanh
Âm đầu
\
?
~
b ba bà bá bạ bả bã
v vi vì ví vị vỉ vĩ
………….
Khi ghép được các tiếng mới rồi thì các em rất chóng thuộc bài, nhanh biết đọc và
viết đúng chính tả. Trên cơ sở các tiếng đơn đó, học sinh sẽ ghép các tiếng đã học với
các tiếng vừa xây dựng được để thành từ bằng cách sử dụng hộp đồ dùng thực hành
tiếng Việt. Qua việc làm này học sinh sẽ có được vốn từ phong phú.
*Ví dụ:
Đối với một số từ còn khó hiểu đối với học sinh tôi giảng giải nghĩa từ thật ngắn
gọn để giúp các em hiểu và sử dụng từ tốt.
ở đây giáo viên có rấ nhiều hình thức sử dụng để giảng giải nghĩa từ cho học sinh
dễ hiểu, dễ nhớ như: dùng tranh minh hoạ, đồ dùng trực quan, hành động, lời nói,
Ví dụ:
• Từ “ba ba” tôi dùng tranh minh hoạ
• Từ “ba lô” sử dụng vật thật
• Từ “số ba” tôi viết chữ số ba dưới nhóm ba đồ vật để minh hoạ
• Từ “bò lê bò càng” là một thành gnữ ý chỉ đánh đau đến nỗi phải bò,
phải lê (dùng cả chân và tay để di chuyển).
Từ đó giúp các em hiểu từ và nhận biết các đồ vật chính xác qua từ.
Với các âm g – gh, ng – ngh, c- k tôi hướng dẫn các em năm vững luật chính tả
khi sử dụng để ghép tiếng, ghép từ.
Ví dụ:
g gh
ng a, o, ô, ơ, u, ư ngh e, ê, i, (y)
c k
Trên cơ sở luật chính tả đó khi gặp một số từ như:
thường, thiếu văn hoá hoặc không có trong thực tế thì giáo viên cần uốn nắn ngay cho
trẻ để các em biết chọn từ đúng, hay khi sử dụng.
+ Giai đoạn 3
Giai đoạn tập đọc
Chuyển sang giai đoạn tập đọc thì việc tìm từ đã ở mức đòi hỏi cao hơn. Ngoài
việc giúp học sinh hiểu để tiến tới rèn đọc lưu loát, diễn cảm các bài tập đọc sách giáo
khoa thì giáo viên dần dần hướng dẫn các em bước đầu tìm những từ cùng nghĩa và từ
gần nghĩa hay trái nghĩa (ở mức độ dễ). ở đây giáo viên có thể sử dụng tranh minh hoạ
để học sinh dễ tư duy và phát huy được tính tích cực của nhiều học sinh.
Ví dụ:
Khi dạy bài tập đọc: “Sau cơn mưa”
Qua việc đưa tranh minh hoạ khi giảng bài của giáo viên, học sinh hiểu: sau trận
mưa rào, bầu trời, mặt đất, mọi vật đều tươi đẹp. Vậy khi học sinh xem tranh cảm thụ
được vẻ đẹp và nội dung tranh rồi, tôi rèn cho học sinh và hướng dẫn các em chhú ý
vào từ mà tôi định cho các em khai thác thêm. cụ thể trong câu:
“Những đoá râm bụt thêm đỏ chói”
Tôi rút ra từ: “đỏ chói” và yêu cầu các em tìm những từ cùng nghĩa và gần nghĩa
(hay những từ chỉ các sắc độ khác nhau của màu đỏ). Các em sẽ tìm được rất nhiều từ
như: đỏ thắm, đỏ bừng, đo đỏ, đỏ au, đỏ tía, đỏ ửng, đỏ rực, đỏ tươi, đỏ lựng, đỏ
quạch
Sau đó các em có thể diễn đạt lại màu đỏ của hoa râm bụt theo cảm nhận của
mình.
Ví dụ:
“đỏ chói” có thể thay bằng các từ khác như: đỏ rực - đỏ thắm - đỏ tươi để diễn
đạt theo ý hiểu của mình. Đây cũng là cơ sở giúp cho các em có vốn từ phong phú khi
luyện nói câu, tập đặt câu chứa tiếng có vần đã học sau này.
ở trình độ học sinh lớp Một tuỳ theo khả năng của các em để tìm được nhiều hay
ít từ. Nếu cần giáo viên có thể đưa ra để bổ sung cho các em theo tính chất để nâng cao
sự hiểu biết của các em. Tuy nhiên, khi học sinh đưa ra từ ngữ khó hiểu thì giáo viên
phải có đủ kiến thức và tầm hiểu biết rộng để giải đáp cho các em (nếu cần).
- Bài học ssẽ gây nhiều hứng thú, học sinh hiểu được ngôn ngữ và ý nghĩa của
từ.
- Cũng từ đây học sinh phát huy trí tuệ một cách toàn diện và vô cùng phong
phú.
Trên đây là mọt số biện pháp tôi đề ra và đã thực hiện để giúp học sinh lớp Một
tăng nhanh vốn từ và hiểu nghĩa từ khi học môn tiếng Việt. Mong được sự góp ý của
BGH và các đồng nghiệp trong trường.
Xin chân thành cảm ơn!