Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
Trong quá trình hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của
bản thân, em còn nhận được sự giúp đỡ từ các thầy cô giáo, các anh chị trong đơn vị
thực tập, gia đình và bạn bè… Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban lãnh đạo NHTM CP Tiên Phong - Chi Nhánh Hoàn Kiếm, các anh chị
phòng kế toán và ngân quỹ cũng như các phòng ban khác đã tại điều kiện thuận lợi cho
em được thực tập công tác thực tế, học hỏi kinh nghiệm và giúp đỡ em trong quá trình
thực tập.
Các thầy cô giáo trong khoa Tài chính – ngân hàng đã trang bị cho em kiến thức
chuyên môn cần thiết cho khóa luận.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo
, người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, sửa chữa những sai sót và giúp
đỡ em để em có thể hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin gửi lời tri ân tới gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn
quan tâm, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận
văn tốt nghiệp của mình.
Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu trong quá trình thực tập và nghiên cứu
đề tài này, nhưng do hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh nghiệm thực tế nên Khóa
luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Chính vì vậy, em rất mong nhận
được sự đánh giá của các thầy giáo, cô giáo để Khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Quang Hào
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
i
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TẠI
NHTMCP TIÊN PHONG – CHI NHÁNH HOÀN KIẾM 22
Bảng 2.2: Khối lượng huy động vốn thực tế 28
Biểu đồ 2.2: Khối lượng huy động vốn thực tế 28
Bảng 2.3: Tình hình dư nợ tín dụng 30
Biểu đồ 2.3: Dư nợ tín dụng 3 năm 2011, 2012, 2013 30
Biểu đồ 2.4: Quy mô vốn tiền gửi huy động tại NHTM CP Tiên Phong – Chi nhánh
Hoàn Kiếm 36
Bảng 2.6:. Quy mô tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Tiên Phòng - Chi nhánh
Hoàn Kiếm theo kỳ hạn gửi tiền 40
Bảng 2.7: Biến động tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền huy động tại NHTM CP Tiên
Phong – Chi Nhánh Hoàn Kiếm 3 năm 2011-2012-2013 42
( Nguồn: Phòng Kế toán Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Chi nhánh Hoàn Kiếm)
42
!"#$%&
Sơ Đồ 1: cơ cấu tổ chức phòng ban Ngân hàng TMCP Tiên Phong - Chi nhánh
Hoàn Kiếm '(()(*+,-,(,.,/)(.,)0-)1
Biểu đồ 2.1: Doanh thu chi phí và lợi nhuận sau thuế '(()(*+,-,(,.,/)(.,)0
-)1
Biểu đồ 2.2: Khối lượng huy động vốn thực tế '(()(*+,-,(,.,/)(.,)0-)1
Biểu đồ 2.3: Dư nợ tín dụng 3 năm 2011, 2012, 2013 23
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
ii
i
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
Biểu đồ 2.4: Quy mô vốn tiền gửi huy động tại NHTM CP Tiên Phong – Chi nhánh
Hoàn Kiếm '(()(*+,-,(,.,/)(.,)0-)1
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
i
v
gửi tiết kiệm của ngân hiện nay gặp rất nhiều khó khăn như: chịu nhiều cạnh tranh từ
các chủ thể khác trong nền kinh tế cũng tiến hành hoạt động huy động tiền gửi tiết
kiệm: các ngân hàng khác, các công ty bảo hiểm, bưu điện…
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong - Chi nhánh Hoàn Kiếm hoạt động
trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động huy động vốn bằng TGTK cũng đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh chung của chi nhánh, nhất là trong giai đoạn diễn
biến thị trường lãi suất nhiều thay đổi, bất ổn
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn TGTK cũng như
những khó khăn mà NHTM CP Tiên Phong – Chi nhánh Hoàn Kiếm đang gặp phải,
sau thời gian tiếp xúc thực tế tại Ngân hàng, em đã chọn đề tài “ Huy động vốn tiền
gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Chi nhánh Hoàn Kiếm” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình. Như vậy có thể nói đây là đề tài phù hợp với thực tiễn
của doanh nghiệp và phù hợp với chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng thương mại.
BCD.EF<0GHI;?@0()?@0A
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết
kiệm.
Khách thể nghiên cứu: NHTM CP Tiên Phong - Chi nhánh Hoàn Kiếm.
Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vấn
đề tìm hiểu hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm còn hạn chế từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tiền gửi tiết kiệm trên địa bàn Quận Hoàn
Kiếm.
2D.JK.0.>
Hệ thống hóa một số lí luận cơ bản về NHTM và huy động tiền gửi tiết kiệm
tại NHTM.
Phân tích thực trạng huy động tiền gửi tiết kiệm tại NHTM CP Tiên Phong -
Chi nhánh Hoàn Kiếm.
Đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn,mục lục,danh mục chữ viết tắt, danh mục
bảng biểu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luận gồm 4 chương
:
: Một số lý luận cơ bản về huy động vốn tiền gửi tiết kiệm của Ngân
hàng Thương mại.
: Thực trạng huy động vốn tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Tiên Phong - Chi nhánh Hoàn Kiếm.
* Một số kết giải pháp nhằm tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm
tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Tiên Phong - Chi nhánh Hoàn Kiếm.
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
Y*Z[\ ]%^ _!Z%[^`
6Vab
33IAcIH.dX
1.1.1. Khái niệm NHTM
Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 định nghĩa:
Tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số
hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.”
Ngân hàng: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện
tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác xã.”
Ngân hàng thương mại: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng
được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác
theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”
1.1.2. Nguồn vốn của NHTM
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huy
động được để cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Nguồn vốn của
Đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử dụng để tiến hành
thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác phát
sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận tiện. Tiền
gửi thanh toán thường được bảo quản tại ngân hàng trên hai loại tài khoản : tài khoản
tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai. Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, việc
rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba được thực hiện bằng séc hay chuyển khoản. Tài
khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư Nợ có lúc dư Có. Với tài khoản này, khách hàng
còn có thể được ngân hàng dáp ứng nhu cầu tín dụng trong một thời gian nhất định.
Đứng trên góc độ ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân
hàng phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trong mỗi ngân
hàng do có sự không khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh
toán của doanh nghiệp hay giữa các tài khoản của các doanh nghiệp làm cho nhập lớn
hơn xuất, tạo nên tồn khoản mà ngân hàng được phép sử dụng một phần làm vốn kinh
doanh.
Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền được uỷ thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thời gian
rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy, theo nguyên tắc khách hàng ký thác
chỉ được rút ra khi đến hạn đã thoả thuận. Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn
gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi. Do đó,
khác với tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi suất có tác động rất lớn đến nguồn này. Về
cơ bản, các khoản tiền có kỳ hạn không được sử dụng để tiến hành thanh toán như các
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
tài khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai. Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn là
các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao.
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết
kiệm.Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn
khoản vào kinh doanh. Để tăng cường khả năng huy động nguồn này, trước hết các
NHTM thường áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
Ngoài hai loại tiền gửi trên tại các NHTM còn có thêm các khoản tiền gửi khác như:
Tiền gửi của TCTD khác.
Tiền gửi của Kho bạc nhà nước.
Tiền gửi của các đoàn thể xã hội…
1.1.2.3. Vốn đi vay
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của các NHTM luôn có tình trạng tạm thời
thừa và thiếu vốn, đó là khi huy động vốn nhưng chưa cho vay hết, hay khi ngân hàng
có nhu cầu vay lớn nhưng nguồn hiện tại không đủ, hoặc người rút tiền trước thơi hạn
trong khi đó vốn cho vay chưa đến lúc thu hồi. Khi đó các NHTM có thể gửi vào các
TCTD khác để hưởng lãi, hay đi vay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo
khả năng thanh toán. NHTM có thể vay vốn ở các TCTD khác hoặc vay vốn ở NHNN.
Huy động vốn thông qua việc vay các NHTM , các tổ chức tín dụng và Ngân
hàng Trung ương (huy động thông qua các hình thức vay vốn khác trên thị trường ):
Các NHTM khi xuất hiện trên thị trường để vay vốn thường do một số nguyên
nhân cấp thiết như thiếu hụt dự trữ tại Ngân hàng Trung ương, thiếu tiền mặt nên
ngoài việc phát hành phiếu nợ, các NHTM có thể đi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng
tại những khoản dự trữ tại ngân hàng trung ương.
Trong trường hợp vốn vay trên tiếp tục không đáp ứng được đủ nhu cầu sử
dụng của NHTM thì NHTM sẽ đi vay của Ngân hàng Trung ương. Trong quan hệ với
ngân hàng Trung ương, các NHTM đóng vai trò là khách hàng thường xuyên và ngân
hàng trung ương với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng đồng thời là người “cứu
cánh cuối cùng” đối với các NHTM.
Bên cạnh nguồn vốn nêu trên, trong quá trình hoạt động các NHTM còn có thể
tạo lập vốn cho mình từ nhiều nguồn khác:
%H0()0X0)D*
Vốn trong thanh toán là số vốn có được do Ngân hàng làm trung gian thanh
toán trong nền kinh tế. Trong khi công nghệ thanh toán của Ngân hàng ngày càng hiện
đại, quy trình thủ tục thanh toán được cải tiến thì thời gian của mỗi cuộc thanh toán
giảm đi đáng kể, do đó vốn mà Ngân hàng có được trong mỗi khoản thanh toán cũng
1.2.2. Đặc điểm và vai trò của vốn tiền gửi tiết kiệm tại NHTM
1.2.2.1. Đặc điểm vốn tiền gửi tiết kiệm tại NHTM
Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn không ổn định vì KH có thể rút bất cứ lúc nào
cho nên ngân hàng cần duy trì một lượng tiền mặt nhất định để đảm bảo khả năng
thanh khoản.
KH gửi vì mục tiêu an toàn và sinh lợi; hoặc cá nhân muốn có thu nhập ổn định
và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý.
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
Cũng do đặc điểm trên nên tài khoản tiền gửi tiết kiệm chỉ thực hiện được các
giao dịch về ngân quỹ không thực hiện được các giao dịch về thanh toán.
Ngân hàng trả lãi tùy theo loại tiền gửi có kỳ hạn hay không kỳ hạn: tiền gửi có
kỳ hạn thì lãi suất cao hơn không kỳ hạn và lãi suất tiền gửi có kỳ hạn cũng thay đổi
theo từng loại kỳ hạn gửi.
1.2.2.2. Vai trò vốn tiền gửi tiết kiệm tại NHTM
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, vì thế vốn không chỉ là phương tiện
mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Trong cơ cấu vốn tiền gửi của ngân hàng thì
vốn tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn, vì thế có thể nói quy mô vốn
tiền gửi tiết kiệm sẽ quyết định đến các khoản tín dụng, đầu tư, tới quy mô và các hoạt
động khác của ngân hàng. Việc huy động vốn TGTK có vai trò vô cùng quan trọng, cụ
thể như sau:
!HIijA0JM
Đối với NHTM, tiền gửi tiết kiệm là nền tảng của sự thịnh vượng và phát triển
của ngân hàng, là khoản mục trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với
các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi tiết kiệm là cơ sở chính của các khoản cho
vay của ngân hàng, là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng.
Khả năng huy động vốn tiền gửi với mức lãi suất hợp lý là chỉ số quan trọng đánh giá
tính hiệu quả trong quản lý của ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng còn thu được một
khoản lệ phí nhất định.
hạn trong đó khách hàng không được rút trước hạn.
Đây nguồn vốn mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời là chủ
yếu và NH phải trả lãi cao hơn tiền gửi không kỳ hạn. Đây là nguồn vốn có tính ổn
định rất cao nhưng thường có thời hạn ngắn vì đây là những khoản tiền tạm thời nhàn
rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt với các doanh
nghiệp kinh doanh theo thời vụ thì nhu cầu TGTK có kỳ hạn cao hơn. Với kiến thức
tài chính ngày càng mở rộng các chủ thể gửi tiền không bao giờ để đồng tiền của mình
trong tình trạng không sinh lời, đóng băng mà luôn tìm mọi biện pháp để tiền sinh sôi
do vậy họ đã chọn cách gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn như 1 tuần, 2 tuần… với mức lãi
suất cao hơn gấp nhiều lần so với tiền gửi không kỳ hạn. Tuy tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn này của các doanh nghiệp thường trong thời gian ngắn nhưng số tiền mỗi lần
khách hàng gửi thường rất cao bổ sung một lượng vốn đáng kể cho hoạt động kinh
doanh tiền tệ của.
TGTK có kỳ hạn bao gồm :
TGTK ngắn hạn : Là sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn mà khách hàng gửi tiền với
thời hạn dưới 1 năm.
TGTK trung hạn : là sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn từ 1-5 năm.
TGTK dài hạn : Là sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn trên 5 năm.
1.2.3.2. Phân theo loại tiền mang gửi tiết kiệm
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
@R0=0TPJGn%
Là loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VNĐ) gửi vào ngân hàng và hường lãi
suất tiền Việt Nam được uy định tại thời điểm gửi tiền.Đây là loại tiền chiếm tỷ trọng
lớn trong vốn huy động tiền gửi của các NHTM ở Việt Nam.
@RVGn)M0P
Là loại TGTK ngoại tệ gửi mà số dư trên tiền gửi ghi bằng đồng ngoại tệ, và
ngoại tệ được huy động chủ yếu là USD
Trong hai loại TGTK trên thì lãi suất huy động của VND bao giờ cũng cao hơn
toàn bộ số tiền gốc bằng USD. Số tiền USD được quy đổi theo tỷ giá mua chuyển
khoản do NHNN công bố tại ngày khách hàng nộp tiền. Đến hạn, khách hàng được
thanh toán số tiền gốc bằng số tiền quy đổi USD khi gửi nhân với tỷ giá mua chuyển
khoản tại ngày đến hạn…
Các loại TGTK hay còn gọi là các sản phẩm TGTK trên được NHTM thiết kế
để thỏa mãn tối đa nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Do nhu cầu gửi tiết kiệm của
khách hàng là rất phong phú và đa dạng nên NHTM càng ngày càng phát triển các sản
phẩm TGTK của mình. Việc phát triển các sản phẩm TGTK mới có ý nghĩa quan
trọng trong công tác huy động TGTK của NHTM.
1.2.4. Các yêu cầu đặt ra trong huy động tiền gửi tiết kiệm
1.2.4.1. Tính ổn định của nguồn vốn
Quy mô và cơ cấu của vốn tiền gửi: Không thể nói đến hiệu quả huy động vốn
tiền gửi cao nếu việc huy động vốn không đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho
kế hoạch. Đồng thời cơ cấu vốn tiền gửi hợp lý thể hiện giữa vốn huy động ngắn hạn
với dài hạn, giữa vốn nội tệ với ngoại tệ.
Sự tăng trưởng vốn tiền gửi về số lượng và thời gian: vốn tiền gửi phải có sự
tăng trưởng về số lượng để có thể thoả mãn các nhu cầu về khối lượng vốn tín dụng,
thanh toán, cũng như các hoạt động kinh doanh ngày càng gia tăng của NH. Đồng thời
vốn tiền gửi phải có sự ổn định về thời gian. Nếu NH huy động được một khối lượng
vốn lớn nhưng không ổn định thì thường xuyên có khả năng một dòng tiền lớn bị rút
ta. Ngân hàng luôn phải đối đầu với vấn đề thanh khoản như vậy hiệu quả huy động
vốn sẽ là không cao, ngược lại nếu nguồn vốn huy động ổn định NH sẽ yên tâm sử
dụng phần lớn số vốn đó vào hoạt động kinh doanh có thu nhập cao. Nguồn vốn tăng
đều qua các năm đạt mục tiêu đề ra và có độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn tương đối
ổn định.
Xu hướng biến động cơ cấu theo hướng tích cực: sự biến động về cơ cấu vốn sẽ
ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu tư và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro
của hoạt động kinh doanh. Xu hướng biến đổi cơ cấu vốn phải đáp ứng được nhu cầu
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
12
Tính theo ngày:
o/H0@EkpH0@H.QEk/;0q0,)rJst2UuQ/HAR
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
Tiền lãi thông thường được trả cuối kỳ(khi đáo hạn sổ tiết kiệm). Tuy nhiên,
nhiều ngân hàng có loại hình tiết kiệm trả lãi tháng, trả theo quý hoặc trả theo năm, tức
là cứ hết mỗi tháng/quý/năm bạn có thể đến nhận tiền lãi cho tháng/quý/năm đó và tiền
gốc vẫn gửi lại ngân hàng cho đến khi đáo hạn. Ngoài ra, cũng có nhiều ngân hàng áp
dụng hình thức trả lãi trước dành cho những KH có nhu cầu chi tiêu ngay.
1.2.4.4. Quy chế bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi là một loại hình bảo hiểm đối với hoạt đọng của các tổ chức
tín dụng, có vai trò, có vị trí quan trọng đối với hoạt động của các TCTD đây là một
trong các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động .
Nhờ có bảo hiểm tiền gửi mà quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền
được đảm bảo và từ đó các TCTD đã tạo dựng được niềm tin cho người gửi tiền nhiều
người dân có tiền đã tích cực gửi tiền vào các tổ chức tín dụng, qua đó các TCTD
huy động được nhiều vốn nhàn rỗi trong xã hội để cho vay và làm dịch vụ ngân hàng
khác, hiệu quả hoạt động của các TCTD đã tăng rõ rệt.
32V=0gv?e0@R0=0TPJ.dXIA.D.j0Hvw
1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả huy động TGTK
Để đánh giá hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm chúng ta phải xem xét cả
những chỉ tiêu về mặt định tính và mặt định lượng.
1.3.1.1. Chỉ tiêu định tính
Về mặt định tính,các chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Vvr?D<>0H0.x.)TD.A
Độ an toàn của khoản tiền gửi. Mục đích chủ yếu của KH gửi tiền tiết kiệm là
đảm bảo độ an toàn và sinh lời. Chính vì vậy Ngân hàng phải tạo cho KH có lòng tin
về độ an toàn về khoản tiền mà họ gửi bởi vốn tự có, cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên
của ngân hàng, hoạt động kinh doanh, sự phát triển cũng như uy tín của ngân hàng.
nhánh thưa, đội ngũ nhân viên ít, chưa tạo đươc uy tín trong dân chúng sẽ khó khăn
hơn trong việc huy động vốn TGTK dân cư.
1.3.1.2. Chỉ tiêu định lượng
Điểm khác nhau cơ bản trong nguốn vốn của NHTM với các doanh nghiệp phi
tài chính là: NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế, còn
các doanh nghiệp khác hoạt động dựa trên vốn tự có là chính. Vì vậy đánh giá hiệu
quả huy động vốn là công tác không thể thiếu trong nghiên cứu nguồn vốn của ngân
hàng.
Khi đánh giá hiệu quả huy động vốn tiền gửi tiết kiệm các nhà nghiên cứu
thường tập trung vào một số chỉ tiêu sau:
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
y0?DD..;.D.T)v?e
.;IHVp
H10fT)v
oIH0@R0=0TPJ
Mỗi loại TGTK có yêu cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản, thời hạn…Do
đó, việc xác định rõ cơ cấu huy động sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế rủi ro có thể gặp
phải và tối thiểu hóa chi phí đầu vào.
Ngân hàng có nguồn tiền có kỳ hạn càng lớn càng tạo nên sự ổn định trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng có nguồn TGTK trung và dài hạn càng
lớn tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng
như hoạt động đầu tư của ngân hàng.
Ngược lại ngân hàng có nguồn tiền kỳ hạn thấp chiếm tỷ trọng cao sẽ gây khó
khăn cho ngân hàng trong việc đa dạng nguồn cho vay, đầu tư của ngân hàng.
Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp để tăng các khoản TGTK có thời hạn
trung và dài hạn.
<:?e.dXc
Lãi suất huy động bình quân
thường căn cứ vào NEC (Net effective cost: lãi suất hiệu quả của mỗi nguồn tiền).
Chi phí khác
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất, trong quá trình huy động vốn còn có các chi
phí khác như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động, chi phí in ấn, chi phí giao dịch
quảng cáo…Tuy chi phí này chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng tiết kiệm được cũng góp phần
giảm bớt chi phí và tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
{0r0(wcVgX.D.rJ
Sự phát triển của các ngân hàng đều tập trung vào mục tiêu lợi nhuận và tăng
trưởng dư nợ. Để tăng trưởng dư nợ thì ngân hàng phải mở rộng được doanh số cho
vay, điều này liên quan tới nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng lớn hay nhỏ. Việc gia
tăng nguồn vốn biểu hiện qua nghiệp vụ huy động vốn. Trong nguồn vốn huy động thì
vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng không nhỏ. Đây là nguồn vốn rất có
tiềm năng.
Đánh giá mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động qua các năm:
Chỉ tiêu đánh giá NV
năm trước – năm sau
Nếu NV
năm trước – năm sau
> 0 chứng tỏ nguồn huy động tăng trưởng ổn định qua các
năm. Đạt mục tiêu nguồn vốn có độ gia tăng đều đặn.
Nếu NV
năm trước – năm sau
< 0 chứng tỏ nguồn huy động giảm qua các năm.
Nếu NV
năm trước – năm sau
= 0 chứng tỏ nguồn huy động duy trì ổn định qua các năm.
đó thành những yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan.
1.3.2.1. Nhân tố khách quan
l0(h<D<ES
Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của ngân hang đều phải chịu sự
điều chỉnh của pháp luật. Các hoạt động của các NHTM chịu sự điều chỉnh của các
luật các TCTD và hệ thống các văn bản pháp luật khác của nhà nước. Mặt khác, ở Việt
Nam hiện nay các NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty do vậy các chi
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên
nhánh Ngân Hàng trong hoạt động của minhg ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật
và các văn bản dưới luật của nhà nước ban hành còn phải tuân thủ theo các quy định
mà NHNN ban hành cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ, hạn mức cho vay …
trong sự rang buộc pháp luật, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm thay
đổi quy mô và chất lượng hoạt động huy động vốn. Mặt khác, các NHTM là các doanh
nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, là lĩnh vực chứa đựng rủi ro rất lớn do vậy mà
Ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật.
l0(hT0=Qke
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một nhân tố vĩ mô có tác động trực tiếp
đến hoạt động của NHTM nói chung và đến hoạt động huy động vốn TGTK nói riêng.
Tỷ giá hối đoái có nhiều biến động thất thường đặc biệt là tỷ giá USD/VND trong thời
gian qua khi đồng USD mất giá trên thị trường thế giới nhưng ở Việt Nam vẫn tăng
cho đến khi áp dụng các giải pháp của Chính phủ và NHNN. Điều này gây khó khăn
cho hoạt động dự báo của NHTM.
Trong điều kiện kinh tế bất ổn, giá cả và sức mua của tiền tệ biến động phức
tạp, lạm phát xảy ra, người dân có xu hướng tích trữ vàng, mua các ngoại tệ hoặc các
dạng tài sản khác như buôn bán bất động sản, các tài sản quý giá…nhằm mục đích an
toàn tài sản cũng tác động không nhỏ đến quá trình huy động vốn của NHTM
jJES#0Wg,TD.A
Trình độ dân trí của người dân ảnh hưởng đến ý thức được vai trò và lợi ích
Chính sách lãi suất cạnh tranh (bao gồm lãi suất cạnh tranh huy động và lãi suất
cạnh tranh cho vay) là một chính sách quan trọng của ngân hàng. Viêc duy trì lãi suất
cạnh tranh huy động đặc biệt cần thiết khi lãi suất thị trường đã ở mức tương đối cao.
Các NHTM không chỉ cạnh tranh giành vốn với nhau mà còn với các tổ chức tiết kiệm
và người phát hành các công cụ khác nhau của thị trường vốn. Đặc biệt trong giai đoạn
khan hiếm tiền tệ, dù cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng thúc đẩy người
gửi tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ một công cụ mà họ đang có sang tiết kiệm
hoặc đầu tư hay từ một tổ chức tiết kiệm này sang một tổ chức hay một công ty khác.
D.z0>.?eV
Đây cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy
động TGTK của ngân hàng. Hình thức huy động TGTK của ngân hàng càng đa dạng,
phong phú bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế sẽ càng lớn bấy nhiêu.
Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu tâm lý của các tầng lớp dân cư. Mức
độ đa dạng các hình thức càng cao thì càng dễ dàng đáp ứng một cách tối đa nhu cầu
của dân cư, vì họ đều tìm thấy cho mình mộ hình thức gửi tiết kiệm mà lại an toàn. Do
SVTH: Nguyễn Quang Hào Lớp: K46H1
20