Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng là một mảng hoạt động lớn và đóng một vai trò hết sức quan
trọng trong toàn bộ hoạt động của Ngân hàng thương mại (NHTM). Tính quan trọng
của hoạt động tín dụng được thể hiện trước hết do nó mang lại nguồn thu nhập chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của NHTM, bên cạnh đó nhờ hoạt động này mà
NHTM có thể bán chéo sản phẩm, tạo nền tảng thu
hút hỗ trợ cho các hoạt động khác
như Bảo lãnh, thanh toán quốc tế, chuyển tiền Quan trọng hơn và đáng quan tâm hơn
cả là mặt trái của hoạt động này, hoạt động tín dụng có mang lại hiệu quả cao như vai
trò vốn có của nó hay không thì hoàn toàn phụ thuộc vào những rủi ro tiềm ẩn do nó
mang lại. Những rủi ro này không những làm cho hoạt động của NHTM kém hiệu quả,
mà hơn nữa nó làm cho NHTM mất đi tính thanh khoản vốn hết sức cần thiết và nhạy
cảm gây ra những tổn thất lớn thậm chí là sự phá sản đối với một NHTM.Thực hiện quản trị tốt Hoạt động tín dụng không chỉ nâng cao hiệu quả, làm
tăng khả năng cạnh tranh của NHTM trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập ngày nay
mà còn đóng góp tích cực vào sự vận hành của nền kinh tế thông qua sự tác động của
cung - cầu tiền tệ dẫn đến làm thúc đẩy hay kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế, lạm
phát, khủng hoảng tiền tệ giúp cho Nhà nước thực hiện tốt vai trò quản lý Nhà
nước về hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Ngân hàng TMCP Quân đội được thành lập năm 1994 theo Quyết định số
00374/GP-UB của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và hoạt động theo Giấy phép
số 0054/NH-GP của Ngân hàng Nhà nước. Định hướng trong giai đoạn đầu là trung
gian tài chính phục vụ các doanh nghiệp Quân đội tham gia phát triển kinh tế và
thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Tuy nhiên, hòa cùng sự phát triển vượt bậc của nền
kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây, yêu cầu đa dạng hóa loại hình khách
hàng, mở rộng quy mô cho vay là một thực tế đặt ra cho NHQĐ.
hình doanh nghiệp này của Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Hoàn Kiếm.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về Doanh nghiệp nhỏ và vừa, chất lượng tín dụng
đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHTM.
- Phân tích thực trạng thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Ngân hàng TMCP Quân đội qua 3 năm, từ năm 2009 đến năm 2011.
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối
với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Hoàn Kiếm.
3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại NHTM.
- Phạm vi nghiên cứu: Chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Quân đội
trong 3 năm từ năm 2009 đến năm 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
2
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
Trên cơ sở phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử, phương
pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu Chuyên đề là:
- Phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp so sánh và diễn dịch
- Phương pháp Thống kê và chuyên gia kết hợp sử dụng bảng, biểu đồ
Qua đó rút ra kết luận tổng quát về vấn đề cần nghiên cứu
5. Cấu trúc của Chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục sơ đồ, bảng biểu, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo, Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Tín dụng và chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và
luân chuyển hàng hoá (các khoản phải thu) với lãi suất Tín dụng phù hợp (thấp hơn
lợi nhuận được tạo ra do sử dụng tiền vay).
Sự phá sản của các Ngân hàng dẫn đến sự hình thành nên các Ngân hàng tiền
gửi (chỉ giữ hộ, thanh toán hộ để thu phí, không Tín dụng). Đồng thời tại mỗi nước
trong những điều kiện khác nhau mà hình thành nên những loại hình Ngân hàng
khác nhau như: Ngân hàng tiết kiệm, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân
hàng Trung ương (Ngân hàng Nhà nước) … tạo nên hệ thống các Ngân hàng (trừ
Ngân hàng Trung ương có chức năng chủ yếu là xây dựng và quản lý chính sách
tiền tệ quốc gia) mỗi Ngân hàng thực hiện một số nghiệp vụ khác nhau song đều là
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
4
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
các trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, công nghệ đã tạo điều kiện cho hệ
thống Ngân hàng phát triển đa dạng. Do quá trình tích tụ và tập trung vốn trong ngân
hàng đã hình thành nên Ngân hàng cổ phần. Đồng thời tại mỗi nước trong những điều
kiện khác nhau mà hình thành nên những loại hình Ngân hàng khác nhau. Quá trình
phát triển đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa vai trò của Nhà nước đối với hoạt động
ngân hàng đã tạo ra các Ngân hàng sở hữu Nhà nước (NHTW). Sự mở rộng hoạt
động của các Ngân hàng sang các quốc gia khác đã thúc đẩy sự ra đời của Ngân
hàng liên doanh và các tập đoàn Ngân hàng phát triển mạnh mẽ vào những năm
cuối thế kỷ 20, tạo ra những nghiệp vụ mới như mở rộng cho vay trung - dài hạn,
cho vay đầu tư bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay tiêu dùng,
cho thuê tài sản … Bên cạnh đó, nhiều hình thức huy động tiền gửi cũng phát triển
như tiết kiệm trả lãi cuối kỳ, đầu kỳ, theo định kỳ, tiết kiệm an sinh, tích luỹ… đồng
thời nhờ có sự phát triển vượt bậc về công nghệ, trong lĩnh vực Ngân hàng nhiều
dịch vụ khác cùng phát triển như rút tiền tự động qua máy ATM 24/24 giờ, bảo lãnh
trong nước, mở L/C, mobile banking, internet banking Về qui mô Ngân hàng cũng
phát triển mạnh mẽ không chỉ mang tính quốc gia mà còn xuyên quốc gia mang tính
khu vực và toàn cầu.
dân cư và tổ chức dưới hình thức có kỳ hạn (chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của dân
cư, tiền gửi chờ thanh toán của tổ chức) và không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán của tổ
chức). Đây là nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn
huy động vốn nợ của NHTM.
+ Huy động từ phát hành các công cụ nợ: Chủ yếu là phát hành kỳ phiếu và trái
phiếu. Kỳ phiếu dùng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn cho các NHTM. Trái phiếu
phát hành để huy động vốn trung - dài hạn cho NHTM. Hình thức huy động thông
qua các công cụ nợ này mang tính ổn định hơn, làm tăng khả năng huy động vốn của
NHTM trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động trong sử dụng nguồn vốn.
+ Huy động từ vay các NHTM: Các NHTM thực hiện việc đi vay nhằm điều
hoà vốn trong toàn hệ thống, tăng dự trữ đảm bảo tốt khả năng thanh khoản của
NHTM. Việc huy động vốn thông qua hình thức này thường đơn giản và nhanh gọn
có thể vay trực tiếp, vay qua Ngân hàng đại lý (hoặc NHTW) và khoản vay thường
không có bảo đảm (nếu có thường là chứng khoán của kho bạc).
+ Huy động từ vay NHTW: Thường là hình thức huy động cuối cùng trong
hoạt động huy động vốn của NHTM. Thường áp dụng cho việc vay để đảm bảo duy
trì dự trữ bắt buộc hay thiếu hụt thanh toán. Hình thức huy động này thường làm
giảm uy tín của NHTM trên thị trường.
+ Huy động từ nợ khác: Bao gồm huy động các khoản uỷ thác; tiền ký quỹ;
các khoản nợ thuế chưa nộp, lương chưa trả đây là hình thức huy động mang tính
thụ động và thường có khối lượng nhỏ không đáng kể.
1.1.2.2. Hoạt động Tín dụng
“Tín dụng là hoạt động cơ bản, cũng là hoạt động tiếp theo sau huy động vốn và
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
6
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
kinh doanh ngoại tệ. Hoạt động Tín dụng là hoạt động kế tiếp của hoạt động huy động
vốn và là hoạt động trọng yếu trong sử dụng vốn của NHTM, mang lại thu nhập chủ
yếu cho NHTM”. Thu nhập từ hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn thậm chí
đến trên 90% trong tổng thu nhập của NHTM. Khi ngân hàng càng phát triển thì tỷ
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
7
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
đối với bên thứ 3 theo một số điều kiện nhất định. Hoạt động này có nhiều hình
thức bảo lãnh như: Dự thầu, thanh toán, tạm ứng, thực hiện hợp đồng, bảo hành
công trình, chất lượng sản phẩm, bảo lãnh thuế, giao hàng, L/C….
- Chiết khấu các loại giấy tờ có giá (thương phiếu, tín phiếu, hối phiếu):
NHTM mua lại các giấy tờ có giá theo một tỷ lệ giá mua nhất định dựa trên cơ sở
cơ bản là mức độ rủi ro và thời hạn thanh toán còn lại của các loại giấy tờ này.
- Đầu tư: Bao gồm đầu tư kinh doanh chứng khoán, đầu tư góp vốn hay đầu
tư thông qua cổ phiếu dài hạn nhằm tham gia vào hoạt động quản trị/điều hành của
pháp nhân, ngoài ra các NHTM còn tham gia các hoạt động đầu tư kiếm lợi khác
như: Kinh doanh bất động sản, liên doanh, liên kết
- Ngoài ra các NHTM còn có nhiều dịch vụ khác như: Thanh toán, bao thanh
toán, quản lý tài khoản, bảo quản vật có giá, cung cấp dịch vụ đại lý, trả lương, rút
tiền tự động …
1.2. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát
triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1. Tín dụng ngân hàng và doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền
kinh tế hiện nay
a. Khái niệm:
Trong mỗi nền kinh tế đều hiện diện rất đa dạng những doanh nghiệp có quy
mô, loại hình, ngành nghề khác nhau. Nếu xét về quy mô doanh nghiệp, hiện nay
thường phân biệt hai loại doanh nghiệp: Doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Ở mỗi nền kinh tế khác nhau cũng như trong từng giai đoạn
phát triển của nền kinh tế, việc xác định DNN&V thường không có tính chất cố
định.
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NÐ-CP của Chính phủ ngày
23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNN&V, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng
đến 100 tỷ
đồng
từ trên 200
người đến
300 người
II. Công nghiệp
và xây dựng
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng
đến 100 tỷ
động
Doanh thu
thuần
Nguồn vốn chủ
sở hữu
Tổng tài sản
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
đến 8. Tổng hợp điểm của 4 chỉ tiêu sẽ được xác định quy mô của khách hàng theo
nguyên tắc:
- Các doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có tổng hợp điểm từ 22 – 32 điểm
- Các doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng hợp điểm từ 12 – 21 điểm
- Các doanh nghiệp nhỏ có tổng hợp điểm nhỏ hơn 12.
(Định nghĩa 2)
Trong phạm vi Chuyên đề này sẽ sử dụng cả hai định nghĩa trên. Vì định nghĩa 1
là định nghĩa có tính chất chính thức, do đó các cuộc điều tra hay thống kê thường
sử dụng định nghĩa này. Còn định nghĩa 2 được sử dụng trong trường hợp số liệu
thống kê về hoạt động tín dụng đối với DNN&V tại Ngân hàng TMCP Quân đội.
b. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa:
- Năng động, linh hoạt, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh
- Nguồn lao động dồi dào nhưng trình độ hạn chế
- Nguồn lực tài chính hạn chế.
- Trình độ khoa học công nghệ lạc hậu
- Trình độ quản lý doanh nghiệp thấp
c. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế
Về mặt lý luận và thực tế, DNN&V có vị trí quan trọng ở nhiều nước trên thế
giới trong đó bao gồm cả các nước công nghiệp phát triển và các nền kinh tế đang
phát triển. Có thể khái quát vai trò của DNN&V trong nền kinh tế như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất
nước, thì DNN&V lại có mặt ở khắp các địa phương và đóng góp quan trọng vào
thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. Với sự tham
gia đầu tư, phát triển của DNN&V vào lĩnh vực nông nghiệp đã góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện các chương trình xóa đói giảm
nghèo, tạo sự phát triển đồng đều, bền vững giữa các vùng và tích lũy vốn cho quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2.1.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng
a. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Có thể nói tín dụng là hoạt động kinh doanh đặc thù của ngân hàng “Tín dụng”
xuất phát từ chữ Latin là Creditium (tiếng Anh là Credit), có nghĩa là sự tin tưởng,
tín nhiệm. Trong thực tế hoạt động tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà mỗi cách hiểu có một nội dung riêng
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, “tín dụng” có nghĩa là sự vay mượn. Tín
dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức
vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng, sau đó hoàn trả lại với một
lượng giá trị lớn hơn.
Khái niệm tín dụng trên đây được thể hiện trên ba mặt cơ bản sau đây:
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
11
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
+ Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang
người khác.
+ Sự chuyển nhượng này mang tính chất tạm thời.
+ Khi hoàn trả lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu, phải kèm
theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
Một quan hệ được gọi là tín dụng phải đầy đủ cả ba mặt trên.
Hiểu theo một cách đơn giản, tín dụng là sự trao đổi các tài sản hiện tại để
được nhận các tài sản cùng loại trong tương lai. Nói cách khác, hoạt động tín dụng
là quan hệ kinh tế, theo đó một người thỏa thuận để người khác sử dụng số tiền hay
có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng.
- Nếu hoạt động tín dụng được xem xét như một chức năng của NHTM thì được
hiểu như sau: Hoạt động Tín dụng là một hoạt động giao dịch về tài sản (tiền hoặc
hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác nhau) và bên đi
vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác sau đây gọi chung là khách hàng),
trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay sử dụng trong một khoảng thời
gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn
gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Bản chất hoạt động tín dụng là một
hoạt động quan hệ về tài sản có hoàn trả và có một số đặc trưng cơ bản sau:
+ Tài sản trong quan hệ tín dụng Ngân hàng dưới hai hình thức là bằng tiền
và bằng tài sản Bất động sản hay động sản.
+ Vì phải hoàn trả nên người cho vay phải có cơ sở tin tưởng rằng người đi
vay sẽ hoàn trả đúng hạn (tín nhiệm hay tài sản ràng buộc nghĩa vụ của Người vay
đối với người cho vay).
+ Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
khác người đi vay phải hoàn trả cả vốn gốc vay và lãi (đủ đảm bảo cho hoạt động
của người cho vay bù đắp chi phí và có được mức lợi nhuận nhất định tương xứng
với rủi ro mà NHTM có thể gánh chịu).
Theo Luật Các Tổ chức tín dụng năm 1997 và Sửa đổi Luật Các Tổ chức tín
dụng năm 2004, Điều 20, Khoản 8 và 10: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín
dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng
là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với
nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
Điều kiện tín dụng chủ yếu của Ngân hàng bao gồm: Khối lượng vốn vay,
thời hạn vay, tiền lãi người vay phải trả ngân hàng. Các yếu tố này được hai bên
thỏa thuận sao cho tiện lợi nhất cho cả người vay và ngân hàng. Người vay có tiền
để bù đắp những thiếu hụt trong chi tiêu của mình. Ngân hàng có thể cho vay để
kiếm được lợi nhuận tương ứng với mức rủi ro mà họ chấp nhận.
Như vậy, Tín dụng ngân hàng mang bản chất của quan hệ tín dụng nói chung. Đó
NHTM và một mức lãi thích hợp cho việc chấp nhận rủi ro trong hoạt động.
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: Nhằm bảo vệ an toàn vốn của
mình (bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ) cho vay đối với khách hàng, NHTM phải
thỏa thuận với khách hàng về các mục đích sử dụng vốn vay trên cơ sở đảm bảo tính
hợp pháp, tính an toàn và quay vòng của đồng vốn nên các NHTM phải tiến hành
phân đoạn thị trường, thực hiện cấp hạn mức tín dụng cho từng lĩnh vực, xây dựng
các điều kiện cho vay khuyến khích hay hạn chế cụ thể, Để thực hiện mục đích đó,
NHTM phải thoả thuận với khách hàng việc sử dụng vốn vay theo những mục đích
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
14
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
cụ thể và được NHTM tiến hành thẩm định nhằm đánh giá các rủi ro tiềm ẩn để đưa
ra quyết định cho vay hay không cùng các điều kiện, biện pháp phòng ngừa kèm
theo. Thỏa thuận các điều kiện kèm theo mục đích sử dụng vốn vay đó nhằm tạo điều
kiện cho các NHTM kiểm soát được rủi ro của đồng vốn và có được biện pháp kịp
thời, chủ động xử lý nhằm giảm thiểu rủi ro mất vốn, dẫn đến ảnh hưởng khả năng
thanh khoản của NHTM. Do vậy vốn vay cần phải được sử dụng đúng mục đích.
- Vốn vay phải có tài sản tương đương để làm đảm bảo: Rủi ro trong hoạt
động kinh tế có thể làm ảnh hưởng đến vốn của các khách hàng trong hoạt động là
một tất yếu khách quan và từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn vay của
NHTM. Nhằm đảm bảo hơn nữa việc hạn chế những rủi ro này, NHTM cho vay
trên cơ sở phải có tài sản tương ứng để đảm bảo cho vốn vay nhằm dự phòng nguồn
thu cho NHTM khi có rủi ro xảy ra và tạo khả năng kiểm soát của NHTM cũng như
động lực để khách hàng vay vốn thực hiện hiệu quả hoá hoạt động kinh doanh của
mình nhằm thực hiện đúng các thoả thuận với NHTM.
c. Các hình thức tín dụng ngân hàng
Để có thể quản lý tốt hoạt động tín dụng, các Ngân hàng thường chia hoạt
động tín dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau như thời hạn vay và thời điểm hoàn
trả tiền vay, loại tiền vay, bảo đảm tiền vay, theo đối tượng vay…
Hiện tại, có rất nhiều tiêu chí để phân loại tín dụng ngân hàng. Sau đây là một
• Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay theo đó ngân hàng kí một hợp
đồng hạn mức tín dụng với khách hàng vay trong đó quy định những điều kiện cho
vay cơ bản như số tiền hạn mức, doanh số cho vay, lãi suất, thời gian cho vay tối đa
cho từng lần giải ngân, thời gian duy trì hạn mức Dựa trên quy định của hạn mức
tín dụng, khi phát sinh nhu cầu vay từng lần trong kì, khách hàng chỉ cần trình
phương án sử dụng tiền vay, cung cấp các chứng từ chứng minh phù hợp để đề nghị
được ngân hàng giải ngân.
• Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay theo đó Ngân hàng cho phép người
vay chi vượt quá số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định (hạn mức thấu chi).
• Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian.
Các tổ chức này có thể nhận vài khâu của hoạt động cho vay từ ngân hàng hoặc
đứng ra bảo lãnh cho các thành viên vay vốn. Hình thức cho vay này thường áp
dụng với những món vay nhỏ, người vay phân tán hoặc cách xa ngân hàng.
Chiết khấu thương phiếu: Thương phiếu là công cụ tín dụng thương mại dùng
để xác nhận cho người thụ hưởng một trái quyền ngắn hạn về tiền đối với người
phải trả. Chiết khấu thương phiếu là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu (mệnh giá) trừ đi phần thu nhập của ngân
hàng (lợi tức và hoa hồng phí) để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn.
Bảo lãnh: Là cam kết của Ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực
hiện nghĩa vụ tài chính đối với bên thứ ba thay cho khách hàng khi khách hàng
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
16
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết. Mặc dù không phải xuất tiền ngay
khi bảo lãnh, song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng xuất tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thỏa thuận của hợp đồng cho thuê. Sau thời gian nhất định, khách
hàng phải trả đủ gốc và lãi cho Ngân hàng. Đây là phương thức vay tài sản thông
qua hợp đồng cho thuê, kèm theo lời hứa đơn phương bán cho người thuê một giá
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
vai trò của mình. Cho vay vẫn là khoản mục tài sản lớn nhất của Ngân hàng, thường
chiếm từ ½ đến ¾ giá trị tổng tài sản của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng còn là cơ sở để các Ngân hàng thu hút và phát triển khách
hàng. Một trong những lý do ban đầu khách hàng tìm đến ngân hàng là do họ muốn
vay tiền để trang trải cho các chi tiêu của mình. Từ việc bán sản phẩm tín dụng,
ngân hàng có thể bán kèm và bán chéo các sản phẩm khác như dịch vụ gửi tiền,
thanh toán, dịch vụ bảo hiểm, ngân quỹ…
1.2.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới, nền kinh tế
hội nhập. Điều này khiến cho các chủ thể kinh doanh, đặc biệt là các DNN&V phải
đối mặt với những thách thức mới là sự cạnh tranh gay gắt từ phía các doanh nghiệp
nước ngoài (bên cạnh sự cạnh tranh vốn có từ phía các loại hình doanh nghiệp nội
địa khác). Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng nổi lên với vai trò là nguồn vốn
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các DNN&V.
Có thể nói, trong thời điểm hiện nay, tín dụng ngân hàng được coi là một trong
những nguồn vốn quan trọng của các DNN&V, bên cạnh các nguồn vốn tự có và
chiếm dụng. Thông qua tín dụng ngân hàng, các DNN&V có cơ hội tiếp cận với các
nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức khác trong xã hội với chi phí vốn hợp lý.
Đây là nguồn vốn mà DNN&V có thể tiếp cận một cách tương đối linh hoạt, phù hợp
với nhu cầu về lượng vốn và thời điểm cần vốn của doanh nghiệp. Từ đó, chủ thể kinh
doanh này có cơ hội mở rộng quy mô kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa phần lớn gặp khó khăn khi cạnh tranh là do sự
lạc hậu về công nghệ, dẫn đến những khó khăn trong việc tìm kiếm thị phần cho
những sản phẩm, dịch vụ của mình. Tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn
vốn chính giúp DNN&V trang bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại. Với sự phù
hợp về thời điểm cho vay, lượng vốn cho vay và thời gian cho vay của nguồn vốn
tín dụng ngân hàng, các DNN&V có cơ hội tiếp cận với các kỹ thuật công nghệ hiện
đại, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Không chỉ hỗ trợ đắc lực cho các DNN&V trong việc trang bị tài sản cố định,
tiêu dùng thừa nhận và sử dụng, nhưng dịch vụ tín dụng ở đây phải được xem xét và
thừa nhận đặc biệt hơn nữa là trên góc độ vĩ mô quản lý Nhà nước về kinh tế. Như
vậy Chất lượng tín dụng được hiểu gắn liền với nhiều góc độ xem xét, nhìn nhận
trên nhiều phương diện khác nhau từ khách hàng, NHTM, Xã hội Chuyên đề sẽ
nghiên cứu chất lượng tín dụng dưới góc độ của NHTM. Đối với NHTM chất lượng
tín dụng trước hết đảm bảo được khả năng an toàn (đảm bảo thu hồi vốn vay đúng
hạn đáp ứng tốt khả năng thanh khoản) và khả năng sinh lời (đảm bảo thu hồi đủ lãi
cho vay và đồng thời thu hút tốt hơn các dịch vụ khác cho Ngân hàng tạo nguồn thu
nhập cao, ổn định) là mục tiêu quan trọng.
Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh của nền kinh
tế thị trường cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm/dịch vụ cung cấp. Xét các yếu
tố của hàng hoá có mối quan hệ qua lại với nhau là chất lượng, giá cả và số lượng,
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
19
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
có thể thấy chất lượng là yếu tố quan trọng nhất. Chất lượng sản phẩm được hiểu là
toàn bộ tính năng của sản phẩm phù hợp với những điều kiện quy định và nhằm
thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của xã hội. Yêu cầu đặt ra đối với nền kinh tế quốc dân
nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng là phải nâng cao chất lượng sản phẩm
phục vụ thị trường. Vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của các
TCTD trên cả hai mặt huy động vốn và cho vay.
Xét về hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng và tăng trưởng tín dụng thường
được đề cập như hai vấn đề then chốt để tạo nên hoạt động tín dụng hiệu quả, lành
mạnh cho một Ngân hàng. Tăng trưởng tín dụng phản ánh sự vận động, phát triển hoạt
động cho vay về mặt lượng, còn chất lượng tín dụng phản ánh sự phát triển của hoạt
động cho vay về mặt chất. Nếu tăng trưởng tín dụng nhanh và phiến diện, không đi liền
với chất lượng tín dụng sẽ dẫn đến thất thoát vốn, tình trạng nợ quá hạn gia tăng và
nguy cơ đe doạ trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của Ngân hàng.
Một số vấn đề liên quan đến chất lượng tín dụng trên giác độ Ngân hàng như sau:
• Rủi ro khoản vay và lãi suất cho vay là hai phạm trù đi liền với nhau, rủi ro
Do chất lượng tín dụng là một khái niệm rộng dưới góc nhìn của các lĩnh vực
khác nhau thì có các chỉ tiêu khác nhau để phản ánh chất lượng tín dụng. Tuy nhiên
trong bài Chuyên đề này đề cập tới chất lượng tín dụng của NHTM dưới góc nhìn
của NHTM. Để phản ánh được chất lượng tín dụng thì chúng ta phải sử dụng hệ
thống nhiều chỉ tiêu khác nhau, mỗi chỉ tiêu hay nhóm chỉ tiêu chỉ phản ánh một
hoặc vài khía cạnh nhất định trong tổ hợp nhiều mặt của chất lượng tín dụng. Do
vậy ta xem xét từng nhóm chỉ tiêu bao gồm:
1.3.2.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng
tín dụng của ngân hàng, nó phản ánh những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối
mặt. Căn cứ vào Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết
định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007, có thể hiểu nợ quá hạn là khoản nợ đã
được chuyển và hạch toán quá hạn, phát sinh do một phần hoặc toàn bộ gốc và
(hoặc) lãi của khoản nợ đã đến hạn nhưng không được ngân hàng cơ cấu lại thời
hạn trả nợ (bao gồm nợ điều chỉnh kì hạn trả nợ và nợ gia hạn).
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro do chịu sự tác
động của nhiều nhân tố, trong đó có những nhân tố tác động nằm ngoài tầm kiểm
soát của chính ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, trên thực tế, bất kì ngân hàng nào
cũng có một lượng nợ quá hạn nhất định. Điều mà các ngân hàng đang cố gắng thực
hiện là tìm mọi biện pháp để kiểm soát, duy trì nợ quá hạn ở một mức độ hợp lý.
Chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn của ngân hàng là tỷ lệ nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ quá
hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của NHTM ở một thời điểm
nhất định (thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm).
Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ x 100%
Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp càng đảm bảo an toàn tín dụng. Các ngân hàng
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
21
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
thường chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định, được coi như là giới hạn an toàn.
Mức độ giới hạn an toàn của từng thời kì, cũng như của mỗi nền kinh tế là khác
1.3.2.5. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ/Dư nợ bình quân
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
22
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
Doanh số thu nợ phản ánh tổng số nợ thu hồi được trong một kỳ (thường là một
năm). Dư nợ bình quân phản ánh quy mô tín dụng trung bình trong năm, được xác
định bằng tỉ số giữa tổng dư nợ các ngày trong kỳ và tổng số ngày trong kì. Chỉ tiêu
này cao thể hiện khả năng luân chuyển vốn tín dụng, công tác xác định kỳ hạn nợ và
tổ chức thu hồi nợ vay của ngân hàng tốt. Khi chỉ tiêu này thấp sẽ cho thấy một hoặc
cả hai vấn đề nợ khó đòi ở mức cao và/hoặc doanh số cho vay giảm dẫn đến giảm
chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.3.2.6. Dư nợ theo nhóm nợ
Là chỉ tiêu đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh chất lượng tín dụng,
chủ yếu mang tính định lượng về số lượng và cơ cấu dư nợ tín dụng được phân loại
theo nhóm nợ, thông qua đó các NHTM có thể biết được tình trạng tín dụng về mặt
số lượng, qui mô của mình và tiến hành thực hiện cơ cấu hóa lại các khoản vay theo
hướng qui mô và tỷ trọng có lợi nhằm nâng cao chất lượng tín dụng. Để có thể hiểu
phần này ta xem xét một số khái niệm phân loại nợ theo quyết định 493/2006/QĐ-
NHNN ngày 22/04/2006 của NHNN V/v Phân loại nợ và trích DPRR của các Tổ
chức tín dụng và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của NHNN
về việc sửa đổi bổ sung quyết định 493/2006/QĐ- NHNN như sau:
Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn): Là nợ
+ Trong hạn (chưa gia hạn) và các TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy
đủ cả lãi và gốc đúng hạn.
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và các TCTD đánh giá là có khả năng
thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn
lại đúng hạn
Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Là các khoản nợ
+ Đã gia hạn nợ và còn trong thời gian đã gia hạn hoặc nợ quá hạn từ 10 đến
với các nhóm nợ ta có hệ thống các chỉ tiêu dư nợ theo nhóm nợ như sau:
(1) Tỷ trọng dư nợ nhóm (1)/ Tổng dư nợ: Phản ánh mức độ nợ đạt tiêu chuẩn
của NHTM
(2) Tỷ trọng dư nợ nhóm (2)/ Tổng dư nợ: Phản ánh mức độ nợ cần chú ý.
(3) Tỷ trọng dư nợ xấu/ Tổng dư nợ Phản ánh mức độ nợ dưới tiêu chuẩn.
1.3.2.7. Cơ cấu dư nợ và huy động vốn theo thời hạn (Hiệu suất sử dụng vốn vay):
Phản ánh quan hệ giữa sử dụng vốn và huy động vốn, xem xét cơ bản tính thanh
khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.
(4) Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
(5) Tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn sử dụng cho vay trung-dài hạn.
1.3.2.8. Cơ cấu dư nợ theo tài sản bảo đảm
Cho thấy mức độ tài sản đảm bảo để dự phòng khả năng rủi ro xấu nhất.
(6) Tỷ trọng dư nợ có bảo đảm/ Tổng dư nợ, Cho thấy một đồng dư nợ có
bao nhiêu đồng TSĐB kèm theo. Tỷ trọng này càng lớn cho thấy việc cho vay của
NHTM có nhiều dư nợ được đảm bảo an toàn bằng tài sản hay có nguồn thu nợ dự
phòng nhiều hơn
SV: Bùi Thị Cẩm Tú Mã SV: CQ502956
24
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Phan Hồng Mai
1.3.2.9. Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế
(7) Cơ cấu dư nợ theo ngành KT: Phản ánh mức độ đa dạng hoá nợ cho vay
nhằm phân tán rủi ro của hoạt động tín dụng của NHTM theo từng ngành kinh tế.
Tỷ trọng dư nợ theo từng ngành kinh tế/ Tổng dư nợ.
1.3.2.10. Cơ cấu doanh thu
Cơ cấu doanh thu phản ánh được tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tín dụng
trong tổng doanh thu của NHTM. Nếu cùng điều kiện dư nợ, nếu doanh thu từ hoạt
động tín dụng làm gia tăng doanh thu từ hoạt động phi tín dụng càng lớn thì rủi ro
tín dụng của NHTM càng nhỏ hơn và hoạt động tín dụng càng có hiệu quả.
(8) Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tín dụng = Doanh thu từ hoạt động tín
dụng / Tổng doanh thu.