Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
TÓM LƯỢC
Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, các mối quan hệ kinh tế trên mọi lĩnh
vực của một nước ngày càng được mở rộng ra các nước. Đơn vị thanh toán không chỉ là
tiền tệ trong nước mà còn phải sử dụng các loại ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc
trao đổi tiền của nước khác. Hoạt động chuyển đổi đồng tiền này thành đồng tiền khác
trong quá trình quan hệ giữa các nước nhóm nước với nhau đã làm nảy sinh phạm trù tỷ
giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là một công cụ có hiệu lực, hiệu quả trong việc tác động đến
quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với
chính sách tiền tệ quốc gia. Sự biến động của tỷ giá hối đoái tác động đến nhiều hoạt
động kinh tế của mỗi nước, trong đó có hoạt động xuất khẩu. Nhận thức được điều này,
trong quá trình thực tập tại công ty TNHH may Đồng Tâm, em chọn đề tài “
Ảnh hưởng
của biến động tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu của công ty TNHH may Đồng
Tâm” làm đề tài khóa luận của mình.
Khóa luận đã tập trung làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, khóa luận đã đánh giá tổng quan tình hình biến động tỷ giá hối đoái và
các nhân tố ảnh hưởng trong thời gian vừa qua, tổng quan về ngành may mặc VN và các
nhân tố ảnh hưởng.
Thứ hai, thông qua dữ liệu thứ cấp của công ty và dữ liệu sơ cấp thu thập được qua
phiếu điều tra, khóa luận đưa ra các phân tích rõ hơn về ảnh hưởng của biến động TGHĐ
đến hoạt động xuất khẩu của công ty TNHH may Đồng Tâm.
Thứ ba, thông qua các phân tích, đánh giá sự ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến
hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH may Đồng Tâm, khóa luận đưa ra
những dự báo về biến động TGHĐ trong thời gian tới, từ đó, đưa ra các đề xuất và kiến
nghị nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động xuất khẩu trong thời
gian tới.
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
Khóa luận tốt nghiệp
found
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu của công ty giai đoạn 2009 – 2012 Error: Reference
source not found
Bảng 2.4: Tốc độ tăng của doanh thu và chi phí giai đoạn 2009 – 2012 Error: Reference
source not found
Bảng 3.1: Kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty Error: Reference source not found
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sự dịch chuyển đường cầu , Hình 1.2: Sự dịch chuyển đường cung Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.1: Tỷ giá VND/USD bình quân theo ngày và theo tháng giai đoạn 2008-2011 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.2: Tỷ giá bình quân liên ngân hàng năm 2012 Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chính của VN 2008-2012 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.4: Mối quan hệ giữa tỷ giá và chi phí của công ty giai đoạn 2009 - 2012 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.5: Mối quan hệ giữa tỷ giá và kim ngạch xuất khẩu của công ty giai đoạn 2009 – 2012
Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.6: Mối quan hệ giữa tỷ giá và lợi nhuận sau thuế của công ty giai đoạn 2009 – 2012
Error: Reference source not found
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Diễn giải
hoảng tài chính kinh tế Mỹ vào tháng 8 năm 2007 nền kinh tế Mỹ bị suy thoái làm cho thị
trường tiền tệ bị biến động không ngừng, điều đó làm cho các chính sách tỷ giá cũng thay
đổi theo. Mặt khác, thị trường ngoại hối Việt Nam vẫn mang đặc trưng là thiếu các công
cụ phòng chống các rủi ro tỷ giá nên khi tỷ giá biến động thì các doanh nghiệp sẽ dễ bị
tổn thất.
Là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm may mặc nên công ty
TNHH may Đồng Tâm cũng chịu sự biến động của tỷ giá. Sự trượt giá của VNĐ đã làm
cho hoạt động xuất khẩu của công ty bị ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến doanh thu, lợi
nhuận của công ty. Tuy nhiên, công ty chưa quan tâm nhiều đến tình hình biến động của
tỷ giá và cũng chưa có các biện pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động xuất khẩu hàng
may mặc là rất cần thiết để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu của các doanh
nghiệp trong ngành may mặc nói chung và của công ty TNHH may Đồng Tâm nói riêng.
2. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu những công trình năm trước
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của biến động TGHĐ
đến hoạt động xuất khẩu của công ty TNHH may Đồng Tâm”, em đã thu thập và tìm hiểu
một số công trình nghiên cứu về TGHĐ dưới các góc độ khác nhau:
1. Nguyễn Thị Hà “Ảnh hưởng của chính sách TGHĐ đến hoạt động xuất khẩu
hàng may mặc của Tổng công ty Đức Giang”, luận văn tốt nghiệp, khoa Kinh Tế, trường
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
1
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
Đại Học Thương Mại, năm 2010. Luận văn đã đưa ra các vấn đề cơ bản về chính sách
TGHĐ, thực trạng tác động của chính sách TGHĐ đếiiiiiin hoạt động xuất khẩu hàng may
mặc của Tổng công ty Đức Giang, từ đó, đề ra các giải pháp để hạn chế sự ảnh hưởng của
TGHĐ đến hoạt động xuất khẩu của công ty Đức Giang.
2. Nguyễn Thị Hoa “Một số giải pháp nhằm hạn chế tác động của TGHĐ đến xuất
khẩu mặt hàng dệt kim sang thị trường Mỹ và Nhật của công ty TNHH dệt Vĩnh Phúc”, luận
văn tốt nghiệp, khoa Kinh Tế, trường Đại học Thương mại, năm 2010. Luận văn đã xây dựng
khóa luận của mình luôn đảm bảo tính mới và không giống với bất cứ đề tài nào trước đó.
3. Xác lập và tuyên bố đề tài
TGHĐ là một trong những biến số kinh tế vĩ mô hết sức quan trọng. Tỷ giá biến
động từng ngày, từng giờ và chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố: cung cầu ngoại hối, lãi
suất, lạm phát, cán cân thanh toán… Sự biến động của TGHĐ tác động không nhỏ đến
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Xuất phát từ những lý do thực tế trên và ý nghĩa của việc nghiên cứu biến động tỷ
giá hối đoái, qua thời gian thực tập tại công ty TNHH may Đồng Tâm, em đã quyết định
lựa chọn đề tài của mình là: “Ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái đến hoạt động
xuất khẩu của công ty TNHH may Đồng Tâm”.
Đề tài đã tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
• Tình hình biến động TGHĐ của Việt Nam trong thời gian vừa qua.
• Tác động của TGHĐ tới hoạt động xuất khẩu sản phẩm may mặc của công ty may
TNHH may Đồng Tâm.
• Một số giải pháp nhằm hạn chế tác động của biến động tỷ giá đã được áp dụng ở
công ty TNHH may Đồng Tâm và hiệu quả của những giải pháp đó.
• Các đề xuất và kiến nghị nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt
động xuất khẩu của công ty TNHH may Đồng Tâm.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động xuất khẩu.
• Đối tượng khảo sát: mặt hàng may mặc của công ty TNHH may Đồng Tâm.
4.2. Các mục tiêu nghiên cứu
• Về phía doanh nghiệp
Việc nghiên cứu các lý luận và thực tiễn về biến động TGHĐ sẽ giúp các doanh
nghiệp né tránh, khắc phục, đồng thời tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế ở mức thấp nhất
các tác đông tiêu cực mà chúng gây ra cho hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp.
• Về phía Nhà nước
Thông qua việc nghiên cứu các lý luận về TGHĐ cùng với thực tiễn biến động
TGHĐ ở Việt Nam, Nhà nước có một vài mục tiêu sau:
và chính sách tỷ giá.
• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Tên phương pháp: phỏng vấn sâu
- Mục đích: thu thập thông tin từ công ty về các vấn đề liên quan đến thực trạng ảnh
hưởng của biến động TGHĐ đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của công ty, những
ứng phó của công ty nhằm hạn chế những ảnh hưởng này.
- Công cụ nghiên cứu: xây dựng bảng câu hỏi điều tra, phỏng vấn chuyên sâu
- Đối tượng phỏng vấn: phỏng vấn 15 người, gồm Ban giám đốc, và các nhân viên
có liên quan.
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
- Phương pháp tiếp xúc: tiếp xúc trực tiếp bằng hình thức phỏng vấn từng cá nhân.
5.2. Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Qua phương pháp thu thập dữ liệu ở trên, các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đã được thu
thập xong và chuyển sang quá trình phân tích dữ liệu gồm:
- Phương pháp phân tích thống kê: được dùng để phân tích các dữ liệu đã thu thập
được. Phiếu điều tra phỏng vấn sau khi tiến hành phỏng vấn xong, phải mất thời gian để
tiến hành tổng hợp lại thành bảng số liệu cần thiết thuận tiện cho việc phân tích. Còn đối
với báo cáo tài chính của công ty, phải có quá trình phân tách các số liệu cần dùng ra
riêng với các số liệu không dùng đến.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: dùng các số liệu đã thu thập được để phân tích.
Các phân tích đưa ra phải là các phân tích tổng hợp để có thể đưa ra các kết luận một cách
chính xác nhất.
- Phương pháp dự báo: qua việc phân tích biến động của tỷ giá trong những năm gần
đây, có thể đưa ra các dự báo cho sự biến động này trong các năm tới.
Ngoài ra, em còn sử dụng phương pháp biểu đồ, phương pháp đồ thị để phân tích.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, phụ lục,…khóa luận bao gồm 3 chương:
• Khái niệm TGHĐ
Theo quan điểm của kinh tế học, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của
một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác. Hay tỷ giá hối đoái còn được ngầm hiểu là
số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ. Riêng ở Mỹ và ở Anh, thuật
ngữ này được sử dụng theo nghĩa ngược lại: số lượng đơn vị ngoại tệ cần thiết để mua
một đồng Đô-la hoặc một đồng bảng Anh. (Trang 203, Sách Kinh tế vĩ mô, Bộ Giáo Dục
và Đào Tạo).
Có hai loại TGHĐ:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (e
n
): là TGHĐ được biết đến nhiều nhất do Ngân hàng
Nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày.
- Tỷ giá hối đoái thực tế (e
r
): là tỷ giá loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch
lạm phát giữa các nước và phản ánh đúng sức mua, sức cạnh tranh của một nước.
TGHĐ thực tế được tính theo công thức sau:
e
r
= e
n
×
Trong đó: là chỉ số giá trong nước
là chỉ số giá nước ngoài
Theo pháp lệnh về ngoại hối của Việt Nam được Quốc hội ban hành ngày
13/12/2005, tại khoản 9, điều 4: “TGHĐ của đồng tiền Việt Nam là giá của một đồng đơn
vị nước ngoài tính bằng đơn vị tiề tệ của Việt Nam”.
Theo giáo trình Tài chính quốc tế, Học viện Tài chính, năm 2002, trang 238: “
Thực chất của TGHĐ là tương quan giữa sức mua giữa các đồng tiền có thể chuyển đổi
được cho nhau”.
Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở
dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc
gia hay đối với cả hai quốc gia.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá
giữa các nước. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi thì các quốc gia đều
quan tâm và mở rộng hoạt động này.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện
rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức cơ bản là trao đổi hàng hoá và dịch vụ
giữa các nước nhưng hiện nay nó đã được biêủ hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt
động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
8
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
tiêu dùng cho đến xuất khẩu hàng hoá phục vụ sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các
công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu là đem lại lợi
ích cho các quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không gian lẫn
điều kiện thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàng năm, có
thể được tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.
1.2. Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái và xuất khẩu
1.2.1. Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái
a. Vai trò của TGHĐ
• Thứ nhất, tỷ giá là đại lượng xác đinh quan hệ về mặt giá trị, so sánh sức mua giữa
các đồng tiền với nhau, hình thành nên tỷ giá trao đổi giữa các đồng tiền khác nhau với
nhau để thuận tiện cho các giao dịch quốc tế.
• Thứ hai, tỷ giá có tác động to lớn đến thương mại quốc tế, xuất nhập khẩu hàng
hóa, dịch vụ của một nước.
• Thứ ba, tỷ giá có tác động đến khía cạnh khác của nền kinh tế như: mặt bằng giá cả
trong nước, lạm phát, công ăn, việc làm, thất nghiệp…Do vậy, chính phủ của các nước
• Chế độ tỷ giá thả nổi tự do
Là chế độ trong đó TGHĐ được hoàn toàn dựa trên tương quan cung cầu giữa các
đồng tiền trên thị trường ngoại hối mà không cần đến bất kỳ sự can thiệp nào của NHTW.
Đặc điểm của chế độ tỷ giá thả nổi tự do: TGHĐ được xác định và thay đổi hoàn
toàn tùy thuộc vào tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Nhà nước hoàn toàn không
có bất cứ một tuyên bố, một cam kết nào điều hành và chỉ đạo tỷ giá, không có bất cứ sự
can thiệp trực tiếp nào vào thị trường ngoại tệ. Khi xảy ra những biến động về cung cầu
của các đồng tiền thì các đồng tiền sẽ có xu hướng tăng hoặc giảm giá một cách tự động.
Chế độ này được áp dụng với những nước có thị trường ngoại hối tương đối hoàn chỉnh.
• Chế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của Nhà nước
Về cơ bản tỷ giá do thị trường quyết định nhưng có sự can thiệp của Nhà nước vào
những lúc cần thiết để tránh những cơn sốt về tỷ giá, hạn chế sự biến động. Tỷ giá được
xác định và thay đổi hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình quan hệ cung cầu trên thị trường.
NHTW tuyên bố một mức biến động cho phép đối với tỷ giá và chỉ can thiệp vào
thị trường với tư cách là người mua bán cuối cùng khi tỷ giá có sự biến động mạnh vượt
mức cho phép. Nếu tình hình kinh tế có những sự thay đổi lớn thì mức TGHĐ, biên độ
dao động cho phép được Nhà nước xác định và công bố lại.
Chế độ tỷ giá linh hoạt được nhiều quốc gia áp dụng, đặc biệt là các nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam.
c. Các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái
TGHĐ chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó có các nhân tố cơ bản sau:
• Cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến
động của TGHĐ. Cung cầu ngoại tệ lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
trong đó có cán cân thanh toán. Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể dẫn đến
khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại. Sự cân bằng của cán cân thanh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
càng kéo dài đồng tiền nội tệ càng mất giá, sức mua của nó càng giảm nhanh, dẫn sức
mua đối ngoại của nó cũng giảm và điều đó làm cho TGHĐ tăng lên. Vì vậy, có thể thấy
rằng, tỷ giá lạm phát chỉ ảnh hưởng đến tỷ giá trong dài hạn, còn trong ngắn hạn thì việc
nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá lạm phát đến tỷ giá là không đáng tin cậy.
• Mức độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế
Mức độ tăng hoặc giảm GDP thực tế của một nước so với các nước khác trong điều
kiện các nhân tố khác không thay đổi, sẽ làm tăng hoặc giảm nhu cầu về hàng hóa, dịch
vụ xuất khẩu, do đó sẽ làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán cho hàng nhập khẩu tăng
lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến cung cầu về ngoại tệ và dẫn đến tỷ giá hối đoái
của đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài giảm xuống hoặc tăng lên.
• Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Khi chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng đến chỉ số về tốc
độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, bội chi ngân sách tất cả đều gây ảnh hưởng đến sự thay đổi
TGHĐ ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự biến động của các yếu tố kể trên.
• Nhu cầu đầu cơ tích trữ ngoại tệ
Nếu nhu cầu đầu cơ tích trữ ngoại tệ tăng thì làm cho giá của ngoại tệ đó sẽ tăng
lên, điều đó làm cho TGHĐ sẽ giảm xuống. Ngược lại, khi nhu cầu đầu cơ tích trữ ngoại
tệ giảm sẽ làm cho giá của ngoại tệ đó giảm, dẫn đến TGHĐ tăng.
d. Tỷ giá giữa VNĐ và USD
Công ty TNHH may Đồng Tâm chỉ sử dụng tỷ giá VND/USD để thực hiện các
giao dịch. Do đó, đây là tỷ giá mà tác giả tập trung nghiên cứu.
• Sự hình thành cung – cầu về USD
Cung của USD bắt nguồn từ tất cả các giao dịch quốc tế của Việt Nam tạo ra thu
nhập từ USD. Cung USD có thể được hình thành qua các nguồn cung sau:
- Thứ nhất, người nước ngoài muốn mua hàng hóa và dịch vụ của VIệt Nam, họ cần
phải có VND để mua hàng hóa dịch vụ. Do vậy, mỗi người mua nước ngoài cần bán tiền
nước họ và mua tiền VND để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ mà họ mua.
- Thứ hai, người nước ngoài mua cổ phiếu, trái phiếu và bất động sản ở Việt Nam,
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
13
e
1
e
0
e
1
e
0
S
0
D
1
D
0
Q
0
Q
1
Q
0
Q
1
O
O
S
1
D
0
nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
Sản xuất hàng hoá xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động vào
làm việc tạo ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ
cho sản xuất hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường.
b. Các nhân tố tác động đến xuất khẩu
• Các công cụ và chính sách kinh tế vĩ mô:
Trong lĩnh vực xuất khẩu những công cụ, chính sách chủ yếu thường được nhà
nước sử dụng để điều tiết, quản lý các hoạt động này là:
- Thuế quan
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
14
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất
khẩu so với mức giá quốc tế nên đem lại bất lợi cho các nhà sản xuất kinh doanh xuất
khẩu vì nó sẽ làm tăng giá thành xuất khẩu, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá xuất
khẩu. Do đó với mục tiêu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hầu hết các mặt hàng thuộc diện
khuyến khích xuất khẩu đều có thuế xuất rất thấp hoặc bằng không.
- Các công cụ phi thuế quan
Hạn ngạch được hiểu là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt
hàng hoặc một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu sang một thị trường nhất định trong
một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép. Mục đích của việc sử dụng
công cụ hạn ngạch xuất khẩu là nhằm quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu có hiệu
quả và điều chỉnh các loại hàng hoá xuất khẩu. Hơn thế nữa có thể bảo hộ nền sản xuất
trong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiện cán cân thanh toán.
Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm: Các quốc gia đặt ra những tiêu chuẩn về chất lượng
hàng hoá hay về các thông số kỹ thuật quy định cho hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu.
Giấy phép xuất khẩu: Nhà nước cấp giấy phép xuất khẩu cho các doanh nghiệp
ránh việc xuất khẩu lung tung…
- Trợ cấp xuất khẩu: là những ưu đãi tài chính mà Nhà nước dành cho người xuất
• Các quan hệ kinh tế quốc tế:
Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, các mối quan hệ kinh tế quốc tế có tác động
và ảnh hưởng cực kỳ mạnh mẽ. Đối với hoạt động xuất khẩu cũng vậy,, khi xuất khẩu
hàng hoá sang một nước nào đó tức là đưa hàng hoá thâm nhập vào một thị trường quốc
gia khác, người xuất khẩu thường phải đối mặt với những rào cản như thuế thu nhập hay
sự phân biệt đối sử với cá nhà kinh doanh nước ngoài, các tiêu chuẩn sản phẩm mang tính
chất phân biệt đối sử với hàng nước ngoài… và đặc biệt là hạn ngạch nhập khẩu. Các rào
cản này là chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế song phương
giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
• Các yếu tố khoa học công nghệ
Đối với các lĩnh vực sản xuất hàng xuất nhập khẩu, việc nghiên cứu và đưa vào
ứng dụng các công nghệ mới, các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật sẽ giúp các đơn vị
sản xuất tạo ra được nhiều sản phẩm hơn với chất lượng cao hơn, giá thành rẻ hơn, hợp
thị hiếu tiêu dùng hơn. Nhờ đó mà sức cạnh tranh của sản phẩm được nâng cao và lợi
nhuận thu được cũng cao hơn.
1.3. Nội dung và nguyên lý giải quyết vấn đề ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến
hoạt động xuất khẩu của công ty TNHH may Đồng Tâm
1.3.1. Tác động của biến động TGHĐ đến chi phí sản xuất hàng may mặc xuất khẩu
Chi phí sản xuất hàng may mặc bao gồm chi phí về nhân công, chi phí về nguyên
liệu, máy móc…trong đó chi phí nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất và máy móc là chịu
ảnh hưởng của biến động TGHĐ VND/USD nhiều nhất. Khi TGHĐ VND/USD tăng lên
thì chi phí để nhập khẩu nguyên liệu, máy móc bằng VND tăng lên, dẫn đến chi phí để
sản xuất hàng may mặc tăng lên. Ngược lại, khi tỷ giá VND/USD giảm xuống thì chi phí
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
16
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
bỏ ra để nhập khẩu nguyên liệu và máy móc bằng VND cũng giảm xuống. Sự thay đổi
của tỷ giá VND/USD chỉ ảnh hưởng đến chi phí nhân công khi công ty trả lương tính theo
USD. Nghĩa là khi tỷ giá VND/USD tăng lên làm chi chi phí về tiền lương đối với các
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Thế Sơn
Trong đó: là giá sản phẩm nước ngoài tính theo giá nước ngoài
P là giá sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước tính theo đồng nội địa
E là TGHĐ của đồng tiền nước ngoài tính theo đồng nội địa
Với P và P
0
không đổi, khi E tăng, thì E.P
0
sẽ tăng. Giá của sản phẩm nước ngoài
trở nên đắt hơn tương đối so với giá của sản phẩm trong nước, giá của sản phẩm trong
nước rẻ hơn tương đối so với giá của sản phẩm nước ngoài. Sản phẩm trong nước, do đó
có khả năng cạnh tranh cao hơn.
Ngoài ra, sự biến động của TGHĐ còn tác động đến doanh thu thông qua việc tác
động đến việc thực hiện hợp đồng và lập kế hoạch kinh doanh. Giả sử khi doanh nghiệp
xuất khẩu ký hợp đồng mua nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất với các nhà nhập
khẩu nước ngoài thanh toán bằng USD thông qua ngân hàng. Khi đó, các doanh nghiệp
phải chuyển tiền thanh toán bằng USD đó cho ngân hàng, nhưng để thu thập được khoản
tiền bằng USD đó không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi. Khi TGHĐ VND/USD giảm,
NHNN sẽ thực hiện hạn chế bán ngoại tệ, làm cho cung về ngoại tệ khan hiếm trong khi
cầu về ngoại tệ tăng lên. Chính điều đó, làm cho hợp đồng kinh doanh của doanh nghiệp
xuất khẩu sẽ gặp khó khăn gây tổn thất cho các doanh nghiệp này. Mặt khác, khi các
doanh nghiệp xuất khẩu bán được sản phẩm và thu ngoại tệ về, để tiếp tục hoạt động kinh
doanh, các doanh nghiệp này phải chuyển đổi đồng ngoại tệ đó ra đồng nội tệ để chi trả
lương cho công nhân, thanh toán tiền cho các đối tác, trả tiền vay ngân hàng…Nhưng
trong thời điểm đó, nếu TGHĐ VND/USD tăng, NHNN lại hạn chế mua ngoại tệ thì các
doanh nghiệp này sẽ khó khăn trong việc bán ngoại tệ, điều này sẽ làm cho các kế hoạch
kinh doanh của công ty bị ảnh hưởng.
Dựa vào sự phân tích trên, cũng như phần chi phí, đề tài đưa ra 2 chuỗi số liệu về
sự biến động của tỷ giá và kim ngạch xuất khẩu của công ty từ năm 2009 đến năm 2012.
việc khác.
- Thực hiện giao dịch kỳ hạn: là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua bán với
nhau một lượng ngoại tệ theo một tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện
vào một thời điểm xác định trong tương lai. Khách hàng có thể xác định ngay tỷ giá tại
thời điểm ký hợp đồng và hạn chế một phần rủi ro biến động tỷ giá.
- Thực hiện giao dịch giao ngay: là giao dịch mà hai bên thực hiện mua bán một
lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong
vòng hai ngày làm việc tiếp theo.
- Sử dụng hợp đồng xuất nhập khẩu song hành: là phương pháp bảo hiểm rủi ro tỷ
giá bằng cách tiến hành song hành một lúc cả hai hợp đồng xuất nhập khẩu có giá trị và
thời hạn tương đương nhau. Bằng cách này, nếu USD lên giá so với VND thì công ty sẽ
sử dụng phần lãi do biến động tỷ giá tù hợp đồng xuất khẩu để bù đắp phần tổn thất do
biến động tỷ giá của hợp đồng nhập khẩu và ngược lại.
SVTH: Vũ Thị Duyên Lớp: K45F3
19