-1-
Đề tài:
Chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
-2-
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nông nghiệp,
nông thôn cũng đang trong tiến trình này. Các nguồn lực đều được ưu tiên cho công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó có nguồn nhân lực giữ vị trí
then chốt, quyết định cho sự thành bại của công cuộc đổi mới này.
Cả 3 lĩnh vực kinh tế: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ chúng ta đều không
xem nhẹ cái nào. Tất cả đều phải phát triển, tất cả đều có yêu cầu nguồn nhân lực tốt.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hiện nay nguồn nhân lực vừa thừa lại vừa
thiếu. Thừa là thừa lao động chân tay, lao động giản đơn; Thiếu là thiếu lao động tay
nghề cao, thiếu người quản lý, tổ chức giỏi. Cả hai điều đó đều tác động xấu và cản trở
sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn.
Để nông nghiệp, nông thôn phát triển tốt, tương xứng với kỳ vọng phát triển đất
nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, nghĩa là khi
đó nông nghiệp, nông thôn đạt mức độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cơ bản, lực lượng
lao động trong nông nghiệp và ở nông thôn lúc này phải đảm bảo là động lực duy trì và
phát triển.
Như vậy nông nghiệp, nông thôn nước ta phải có nguồn nhân lực tốt, điều đó
không tự nhiên có được mà phải thực hiện đào tạo. Công tác này đã và đang ở đâu? Để
trả lời một phần câu hỏi lớn này chúng ta cần nghiên cứu đề tài “Đào tạo nguồn nhân
-4-
NỘI DUNG
1. LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC, NGUỒN NHÂN LỰC CHO
NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN
1.1. Nguồn nhân lực
Dưới đây là một số khái niệm về nguồn nhân lực:
- Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích
luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch,
1995). Nguồn nhân lực, theo GS. Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao
động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào
đó.
- Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là
kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng
để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.
- Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế
hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt
Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi).
Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay
nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực
lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi
lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp). Lao động dự trữ
bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có
nhu cầu lao động.
-5-
Phát triển xét trên phạm vi phát triển con người thì đó là sự gia tăng giá trị cho
con người về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng…lẫn thể chất. Phát triển
nguồn lực con người nhằm gia tăng các giá trị ấy cho con người, làm cho con người trở
thành những người lao động có năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội.
Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Đào tạo
nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn được cụ thể hoá là: “Tăng cường đào tạo,
bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho
nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân để chuyển nghề, xuất khẩu lao
động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở.
Hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực,
đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn. Thực hiện tốt việc xã
hội hoá công tác đào tạo nghề”. Đây là một chủ trương lớn của Đảng nhằm phát triển
nông nghiệp, nông thôn.
2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN
LỰC CHO NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM
2.1. Tình hình lao động nông nghiệp, nông thôn hiện nay
Trong những năm gần đây, dù dã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực
song phần lớn lao động của nước ta vẫn ở nông thôn, hoạt động trong sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ lệ áp đảo (xem bảng 1 và 2).
-7-
Bảng 1. Lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân ngành kinh tế
(2004-2008)
(Đơn vị: Nghìn người)
431,2
Công nghiệp chế biến
4832,0
5248,5
5655,8
5963,4
6306,2
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt
137,2
151,4
173,4
197,0
224,6
Xây dựng
1922,9
1998,9
2136,5
2267,8
2394,0
TN; sửa chữa xe có động cơ, mô tô,
xe máy và đồ dùng cá nhân và gia đình
4767,0
4933,1
5114,0
5291,9
5371,9
Khách sạn và nhà hàng
755,3
767,5
783,3
716,9
793,2
866,9
Giáo dục và đào tạo
1183,9
1233,7
1300,2
1356,7
1401,4
-8-
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội
344,7
359,7
372,7
384,3
399,8
Hoạt động văn hoá và thể thao
128,8
132,7
134,3
136,4
134,7
Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội
125,9
149,5
171,5
192,9
220,1
Hoạt động phục vụ cá nhân, công cộng và
3,38
3,49
3,59
3,70
3,75
Công nghiệp khai thác mỏ
0,78
0,80
0,85
0,90
0,96
Công nghiệp chế biến
11,62
12,34
13,05
13,50
14,04
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt
0,33
0,36
0,40
0,44
0,50
Xây dựng
4,62
4,70
4,93
5,13
5,33
TN; sửa chữa xe có động cơ, mô tô,
0,06
0,06
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và
dịch vụ tư vấn
0,31
0,36
0,41
0,49
0,56
QLNN; bảo đảm XH bắt buộc
1,29
1,52
1,65
1,80
1,93
Giáo dục và đào tạo
2,85
2,90
3,00
3,07
3,12
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội
0,83
0,85
0,86
0,87
0,89
Hoạt động văn hoá và thể thao
0,31
0,31
Nguyên nhân lao động nông nghiệp có năng suất thấp là do sản xuất nông
nghiệp chủ yếu ở quy mô nhỏ; Trong những năm qua, mặc dù diện tích đất nông
-10-
nghiệp có tăng lên, nhưng do quá trình đô thị hoá, đất phát triển công nghiệp và các
nhu cầu khác không ngừng tăng lên, nên diện tích đất nông nghiệp tăng không đáng kể.
Trong khí đó dân số tăng nhanh làm cho đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm.
Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn 1.224 m2/người (bình quân trên thế giới là
2.500 m2/người). Thấp nhất là khu vực đồng bằng sông Hồng chỉ có 497 m2. Mặt
khác, đất nông nghiệp lại phân bổ manh mún. Hiện nay, cả nước có tới hơn 75 triệu
thửa ruộng, làm cho sản xuất nông nghiệp rất khó áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật, cơ giới hoá, hiện đại hoá để sản xuất mang tính hàng hoá. Đồng thời trình độ
công nghệ lạc hậu, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở khu vực nông thôn cao (xem
bảng 3).
Bảng 3. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lƣợng lao động trong độ
tuổi năm 2008 phân theo vùng
(*)Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thiếu việc làm
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành thị
Nông thôn
CẢ NƢỚC
1,00
5,12
3,72
5,65
Đông Nam Bộ
3,74
4,89
2,05
2,13
1,03
3,69
Đồng bằng sông Cửu Long
2,71
4,12
2,35
6,39
3,59
7,11
(*)
Số liệu sơ bộ.
tạo, chưa có tay nghề cao; vì vậy họ là những người phải chấp nhận mức thu nhập thấp,
công việc bếp bênh không ổn định, rất dễ thất nghiệp và buộc phải quay lại khu vực
-12-
nông thôn và chấp nhận làm nông nghiệp (dù thu nhập rất thấp). Tâm lý của các lao
động chuyển từ khu vực nông nghiệp, nông thôn sang thành thị và khu vực kinh tế phi
nông nghiệp, là không ổn định, họ không dời bỏ hẳn được nông nghiệp nông thôn.
Hiện tượng này lý giải cho tỷ lệ thiếu việc làm (bán thất nghiệp) ở khu vực nông thôn
lên tới 6,1%. Theo tác giả Bùi Quang Bình - Đại học kinh tế Đà Nẵng, năm 2002 số
người không có việc làm ở nông thôn (theo quy đổi) lên tới 7,5 triệu người. Các vấn đề
nói trên nói lên là sự chuyển dịch đó là không có tính bền vững, dễ đẩy xã hội nông
thôn đến sự xáo trộn và thiếu an toàn, đặc biệt nghiêm trọng hơn trong trường hợp gặp
phải các cú sốc bất thường như khủng hoảng kinh tế.
Trong lúc đòi hỏi nguồn nhân lực cao để đáp ứng yêu cầu phát triển nông
nghiệp nông thôn thì sức hút của khu vực này lại kém hấp dẫn. Vì vậy việc giữ được
lao động có tay nghề trình độ cao lại nông thôn nông nghiệp và từ khu vực đô thị về là
khá yếu ớt. Tình hình đó làm trầm trọng hơn sự yếu kém của nguồn nhân lực nông
nghiệp, nông thôn, tạo sức ép lớn cho công tác đào tạo nguồn nhân lực cho nông
nghiệp nông thôn.
2.3. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam
2.3.1. Khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực cho nông thôn, nông nghiệp
và sức ép của các khó khăn đó cho công tác đào tạo.
Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn của nước ta trong những
năm qua luôn được quan tâm và ngày càng được quan tâm. Ở đây ta cũng cần phân biệt
rõ, nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn không chỉ nằm trong số đối tượng là
nông dân. Đó là tất cả lao động ở đầy đủ các lĩnh vực kinh tế, quản lý. Vì nông thôn
chứa đựng tất cả các yếu tố về kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất và kinh doanh (nông
lâm ngư ngiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ).
Xét về nguồn nhân lực cho nông thôn: Nông thôn Việt Nam cũng như nông thôn
thương mại và dịch vụ phải phát triển. Riêng về dịch vụ, xuất phát cho sự phát triển là
-14-
nhu cầu, nhu cầu dịch vụ lại bắt đầu từ sự phân công và chuyên môn hoá. Ở nông thôn
nói chung, trong sản xuất nông nghiệp nói riêng của nước ta thì mức độ chuyên môn
hoá còn quá thấp, phần lớn các hộ nông dân còn hoạt động sản xuất ở dạng tự cung, tự
cấp dẫn đến các nhu cầu về dịch vụ thương mại hàng hoá khó phát triển. Thu nhập thấp
của đa số cư dân nông thôn cũng cản trở dịch vụ phát triển, họ không đủ để chi trả cho
các dịch vụ về y tế, giáo dục, thông tin và bảo hiểm ở mức độ trung bình. Điều này là
một phần nguyên nhân làm cho các ngành dịch vụ này ở nông thôn phát triển chậm, lao
động hoạt động trong lĩnh vực này ở nông thôn cũng có thu nhập không cao và luôn
mong muốn chuyển từ nông thôn về làm việc tại đô thị và chuyển từ các vùng sâu,
vùng xa khó khăn về nơi đồng bằng. Xu hướng này làm cho nông thôn nói chung và
vùng nông thôn miền núi luôn bị mất đi những người giỏi, mặc dù được quan tâm hơn
trong công tác đào tạo.
Trên đây là những vấn đề nói lên sự khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực
cho nông thôn, nông nghiệp; Mặt khác các vấn đề đó cũng thể hiện một phần sự bất
cập cũng như sức ép đối với công tác đào tạo nhân lực cho nông nhiệp, nông thôn, đó
là: trong giai đoạn hiện nay nông thôn, nông nghiệp sự bổ sung là ít hơn sự mất đi của
nguồn nhân lực có tay nghề, năng lực và trình độ cao, nếu không muốn nói rằng: ở
nông thôn, trong nông nghiệp càng đào tạo thì càng mất đi người giỏi.
2.3.2. Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn, nông
nghiệp.
Như đã nói ở trên, đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn không chỉ đào tạo lao
động trong sản xuất, mà cả đào tạo nhân lực cho quản lý; nông thôn không chỉ cần có
nhân lực cho nông nghiệp mà cần cả nhân lực cho công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Đồng thời đào tạo phải gắn liền với sử dụng, tạo công ăn việc làm, đào tạo bổ sung đi
đôi với giữ lại nhân tài cho nông thôn, nông nghiệp. Phần này chúng ta xem xét thực
trạng công tác đào tạo, các mặt thuận lợi, khó khăn và yếu kém của nó. Sau đó kết hợp
với các phân tích về thực trạng nguồn lao động và các xu thế dịch chuyển của lao động
NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
-16-
khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Song vẫn còn những tồn tại yếu kém lớn
như: Đào tạo theo số lượng, chất lượng đào tạo kém, tổ chức đào tạo mang tính hình
thức, theo phong trào, nông dân không tích cực tham gia đào tạo nghề vì nhiều chương
trình đào tạo không thiết thực… Trong khi đó các cơ sở đào tạo nghề có cơ sở vật chất
yếu kém, đội ngũ giáo viên thiếu, yếu về chuyên môn, chất lượng thấp cũng là nguyên
nhân làm cho nông dân không tin tưởng vào các chương trình đào tạo của chính phủ và
không tham gia học tập tích cực.
3. CHỦ TRƢƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO NÔNG THÔN, NÔNG
NGHIỆP; MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH.
3.1. Chủ trƣơng và chính sách chủ yếu về đào tạo nguồn nhân lực cho nông
thôn, nông nghiệp.
Thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển đất nước, đào tạo
nhân lực cho nông nghiệp, nông dân không nằm ngoài chiến lược này. Chính sách cho
giáo dục và đào tạo đã bao hàm những điểm chung nhất cho việc đào tạo nhân lực,
trong đó có đào tạo nhân lực cho nông thôn, nông nghiệp. Song với đặc thù nông thôn,
nông nghiệp có những đặc điểm riêng, với yêu cầu bức thiết trong giai đoạn phát triển
hiện nay, Đảng đã có Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Trong nghị quyết này, chủ trương về đào tạo nhân lực đã được cụ thể hoá là: “Tăng
cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến,
hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân để chuyển nghề,
xuất khẩu lao động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản
lý, cán bộ cơ sở. Hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát
triển nguồn nhân lực, đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn.
Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác đào tạo nghề”.
-17-
Cải tiến chương trình giáo dục, tập trung nhiều hơn về đào tạo tay nghề, hướng
nghiệp ngành nghề để phân luồng học sinh nông thôn từ bậc trung học, trong đó có sự
phân loại học sinh theo tiêu chuẩn hợp lý để hướng học sinh vào cấp học và ngành học
hợp lý để tránh lãng phí trong đào tạo. Làm tốt việc này sẽ góp phần tránh được hiện
tượng thừa thầy thiếu thợ như hiện nay, lao động ít phải đào tạo lại và bằng lòng với
nghề nghiệp đã được lựa chọn, không gây xáo trộn trong nông thôn ngay từ lúc bước
vào độ tuổi lao động của cư dân nông thôn.
Đa dạng hoá hình thức đào tạo dạy nghề như chủ trương đã đề ra, nhất là có cơ
chế ưu đãi cho các tổ chức doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề theo yêu cầu của
chính doanh nghiệp, thực hiện doanh nghiệp phải đào tạo lấy lao động, và phải trả phí
cho cơ sở đào tạo công nếu tuyển lao động từ các cơ sở đào tạo nhà nước. Thực hiện
được điều này sẽ tiết kiệm được ngân sách nhà nước trong đào tạo và dạy nghề, vì
lượng tiền ngân sách bỏ ra hỗ trợ doanh nghiệp trong liên kết đào tạo nghề sẽ có thể ít
hơn nhiều so với việc nhà nước phải bỏ kinh phí trực tiếp cho đào tạo, hơn nữa là
doanh nghiệp chịu trách nhiệm với chất lượng lao động của mình đào tạo ra như vậy
làm chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao hơn.
Hướng ưu tiên vào các đối tượng theo học các ngành phục vụ nông thôn, nông
nghiệp như miễn giảm học phí, tăng mức học bổng cho học sinh sinh viên. Từ đây sẽ
giải quyết được tình hình khó khăn trong tuyển sinh đầu vào cho các ngành phục vụ
nông thôn nông nghiệp, đồng thời lựa chọn được nhân tài thực sự vì tạo được sự cạnh
tranh trong công tác tuyển sinh ở các trường cao đẳng và đại học, cũng như tạo điều
kiện cho con em nông thôn có cơ hội học tập nhiều hơn.
Thứ hai: Hướng chính sách vào việc đãi ngộ nhân tài phục vụ ở nông thôn,
nông nghiệp, nhằm thu hút người giỏi quản lý và lãnh đạo về với nông thôn, từ đó phá
bỏ tính cục bộ địa phương và kích thích sự vươn của nông thôn trong phát hiện và đào
tạo nhân tài.
Chế độ đãi ngộ được phân thành hai loại: thu nhập và cơ hội thăng tiến trong
nghề nghiệp. Với thu nhập là tăng lương, tăng các khoản phúc lợi được hưởng để tạo
-19-
nông thôn học tập các kiến thức pháp luật, tìm hiểu về tác phong công nghiệp, văn hoá
đô thị và các kinh nghiệm tồn tại trong môi trường khác nông thôn phải tiến hành trước
khi định hướng đào tạo nghề nghiệp mới cho họ, sau đó mới là bước đào tạo nâng cao
tay nghề. Như vậy chính sách nhà nước phải đồng thời quan tâm cả hai mặt: trình độ
tay nghề và trình độ xã hội cho lao động ở nông thôn, phải có sự ưu tiên đầu tư công
trong đào tạo kiến thức xã hội, luật pháp, tác phong và môi trường cho lao động nông
thôn. Kết hợp điểm này với mục tiêu tư nhân hoá công tác đào tạo tay nghề được nêu ở
khuyến nghị thứ nhất sẽ được mô hình đào tạo toàn diện hơn, mang tính khả thi hơn.
Mặt khác lao động dịch chuyển từ nông thôn nông nghiệp sang đô thị, công
nghiệp dịch vụ chưa bền vững, một tỷ lệ lớn lao động qua thời gian lại phải quay về
với nông thôn, nông nghiệp. Quá trình này chỉ có thể không lặp lại khi nền kinh tế đã
bền vững, nông thôn - đô thị, nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ phát triển hài hoà.
Như vậy khu vực đô thị không phải là không có trách nhiệm với công tác đào tạo nhân
lực cho khu vực nông thôn, nông nghiệp. Tại các đô thị, bản thân các ngành công
nghiệp, dịch vụ cũng phải có các phương án đào tạo lao động cho nông thôn, nông
nghiệp. Một mặt khu vực ngoài nông thôn nông nghiệp có phương án đào tạo cho khu
vực nông thôn, nông nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc đào tạo và lựa chọn nhân lực
cho khu vực của mình, mặt khác sẽ góp phần cho việc cung cấp trở lại cho nông thôn,
nông nghiệp nguồn nhân lực có đủ năng lực hoà nhập lại nông thôn cũng như đến nông
thôn, nông nghiệp để khai thác phục vụ phát triển (cả chung và riêng). Để nâng cao
tính trách nhiệm này, nhà nước phải hướng chính sách đến việc bắt buộc khu vực đô
thị, công nghiệp, dịch vụ phải có trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn,
nông nghiệp.
-21-
KẾT LUẬN
gỡ nút thắt quan trọng trong vấn đề an sinh xã hội”.
3. Chính phủ: Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 “Quyết định phê
duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
4. Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Bắc Ninh.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm
2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn.
6. GS.TS. Đỗ Kim Chung - GS.TS. Phạm Vân Đình - TS Đinh Văn Đãn - Ths.
Nguyễn Văn Mác - Ths. Nguyễn Thị Minh Thu: Giáo trình nguyên lý kinh tế Nông
nghiệp; NXB Nông nghiệp - 2009.
7. GS.TS. Phạm Vân Đình - TS. Dương Văn Hiểu - Ths. Nguyễn Phượng Lê:
Giáo trình Chính sách nông nghiệp - NXB Nông nghiệp 2009.
8. PGS,TS Đức Vượng - Báo cáo Khoa học tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học
lần thứ ba với chủ đề: "Việt Nam: Hội nhập và phát triển", tổ chức tại Hà Nội, Việt
Nam, tháng 12-2008.
9. PGS.TS. Quyền Đình Hà, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội: “Bài giảng
Phát triển nông thôn”; Hà Nội, 2007.
10. Trần Nhật: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Đường xa gập nghềnh”.