Tạo hứng thú cho học sinh học Văn ở trường THCS - Pdf 26

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Long Hòa, ngày 05 tháng 03 năm 2013
CẢI TIẾN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
- Tên sáng kiến: “Tạo hứng thú cho học sinh học Văn ở trường THCS”
- Tên tác giả: NGUYỄN THỊ HƯƠNG.
- Thời gian đã triển khai thực hiện: Từ ngày 1/9/2010 đến ngày 5/3/2013.
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Usinxki đã khẳng định: “Sự học tập mà không có hứng thú và chỉ được tiến
hành bằng sức mạnh cưỡng bức, thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của con
người, nó sẽ làm cho óc sáng tạo của họ thêm mai một và thờ ơ với hoạt động
này”.
Hơn nữa hiện nay trong nhà trường phổ thông thì hứng thú càng trở nên
quan trọng hơn trong việc học tập Văn và khi học sinh có hứng thú học Văn thực
sự, học sinh mới hiểu vai trò, vị trí và khả năng hấp dẫn của nó.
Vậy làm thế nào để học sinh say mê, hứng thú trong giờ học Văn?
Làm thế nào để phát huy được sự chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ
học Văn?
Thực hiện được vấn đề này quả là không đơn giản, nó đòi hỏi mỗi giáo viên
dạy Văn phải mất nhiều thời gian và công sức tìm tòi sáng tạo cho mỗi giờ lên lớp.
Hơn nữa bản thân là giáo viên đang giảng dạy ở trường trung học cơ sở nên việc
1
tạo hứng thú cho học sinh trong học Văn là vấn đề rất cần thiết vì nó giúp tôi nâng
cao hiệu quả, chất lượng học Văn của học sinh trong hiện tại và về sau. Chính vì lí
do đó mà tôi chọn đề tài: “Tạo hứng thú cho học sinh học Văn ở trường trung học
cơ sở” nhằm đưa ra một số biện pháp cụ thể để khêu gợi sự hứng thú của học sinh
làm cho giờ học diễn ra sôi nổi hơn, không còn cảm thấy mệt mỏi, nặng nề khi đến
tiết học Văn. Từ đó giúp cho người học đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng được yêu
cầu của phương pháp dạy học đổi mới.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
Sáng kiến “Tạo hứng thú cho học sinh học Văn ở trường THCS” được triển

hiểu trong tiết học này qua văn bản “Động Phong Nha” của tác giả Trần Hoàn.
3.1.2. Trong quá trình giảng dạy:
Trong quá trình giảng dạy để gây hứng thú học tập cho các em giáo viên
phải xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát với đối
tượng, xác định vai trò, chức năng của từng câu hỏi, các yếu tố kết nối các câu hỏi,
thứ tự câu hỏi. Giáo viên cũng cần dự kiến các phương án trả lời của học sinh để từ
đó chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu
3
hỏi phụ tránh đơn điệu, nhàm chán, nặng nề, bế tắc để tạo hứng thú học tập cho
học sinh và tăng hấp dẫn của giờ học.
Ví dụ: Khi dạy bài “Sự tích Hồ Gươm” (Ngữ văn 6)
Giáo viên có thể đưa ra các dạng câu hỏi:
- Câu hỏi tìm tòi, phát hiện:
? Em hãy cho biết thể loại và phương thức biểu đạt của truyện?
- Câu hỏi yêu cầu quan sát:
? Bức tranh ở sách giáo khoa minh họa cho đoạn truyện nào? Em hãy kể lại
đoạn truyện đó?
- Câu hỏi gợi mở:
Trong tay Lê Lợi thanh gươm báu có sức mạnh tung hoành khắp các trận địa
và cuối cùng không còn một tên giặc nào trên đất nước ta. Theo em đó là sức mạnh
của gươm hay của con người?
- Câu hỏi đánh giá:
? Thần đòi gươm và vua trả gươm giữa cảnh đất nước thanh bình. Điều đó
có ý nghĩa gì?
- Câu hỏi giải quyết vấn đề:
? Vì sao tác giả dân gian không để Lê Lợi trực tiếp nhận cả chuôi gươm và
lưỡi gươm cùng một lúc?
- Câu hỏi suy đoán:
? Lê Lợi nhận gươm ở Thanh Hóa nhưng lại trả gươm ở Thăng Long. Nếu
Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa thì ý nghĩa của truyện khác đi như thế nào?

+ Trước hết, thiết bị, đồ dùng đó phải thật cần thiết cho việc thực hiện bài
dạy. Nó phải gắn liền với nội dung, phương pháp và ý đồ sư phạm của giáo viên.
Đồ dùng, thiết bị phải hỗ trợ cho việc thực hiện các mục đích sư phạm chứ không
phải để phô trương thiết bị. Khi cần thì mới dùng, khi không cần thì kiên quyết
không dùng.
+ Sử dùng đồ dùng, thiết bị dạy học phải đúng lúc, đúng chỗ. Tránh việc gây
phân tán sự chú ý của học sinh.
+ Giáo viên phải hình dung được tác dụng của đồ dùng, thiết bị. Nếu có hiệu
quả, tác dụng hơn hẳn thì mới dùng. Nếu không thì thôi.
- Phương châm sử dụng đồ dùng, thiết bị:
+ Phương châm hàng đầu là thiết thực cốt yếu. Kiên quyết không dùng một
cách hình thức. Cũng không tràn lan.
+ Phải kết hợp thô sơ và hiện đại, đơn giản và phức tạp. Tránh xu hướng chỉ
dùng toàn những thứ đơn giản, cũng tránh cả việc dùng toàn những thứ đắt tiền,
phức tạp nhưng không cần thiết.
+ Sáng tạo khi sử dụng đồ dùng thiết bị. Ngoài phần cung cấp của nhà
trường (máy chiếu qua đầu, ti vi, máy vi tính) giáo viên cần mua sắm băng hình,
băng tiếng, đĩa mềm, đĩa hình, đĩa tiếng.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Sông nước Cà Mau” (Đoàn Giỏi)
6
Giáo viên có thể lấy ngay tranh ở sách giáo khoa phóng lớn và tô màu.
Trong quá trình tìm hiểu văn bản giáo viên cho học sinh quan sát tranh, tìm đọc
đoạn văn có nội dung phù hợp.
Giáo viên đặt câu hỏi: Bức tranh miêu tả cảnh gì? Dựa vào tranh em hãy tả
lại cảnh ấy?
Từ việc làm này giáo viên giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo, rất
riêng của chợ Năm Căn họp nổi trên mặt nước.
3.1.5. Củng cố bài học bằng trò chơi ô chữ :
- Đồ dùng trò chơi ô chữ:
+ Một bảng phụ meka dán giấy decal, trên bề mặt được chia làm nhiều hàng,

và vấn đề tâm đắc nhất trong cuốn sách đó.
+ Tổ chức tham luận trao đổi vấn đề xung quanh cuốn sách giới thiệu để các
em khắc sâu bổ sung kiến thức.
- Tăng cường cho học sinh xem phim ảnh có liên quan đến tác phẩm mà các
em đã học để các em có thể khắc sâu kiến thức bài học.
3.2.3 Thành lập Câu lạc bộ Văn học:
8
Mục đích là giúp học sinh thấy được vị trí quan trọng của Văn học trong nhà
trường và cuộc sống hàng ngày; là nơi gặp gỡ giao lưu của những học sinh yêu văn
để cùng học hỏi, trao đổi kiến thức, tài liệu và kinh nghiệm trong lĩnh vực Văn học
trong nhà trường. Góp phần xây dựng nền tảng kiến thức về Văn học trong trường
học để từ đó học sinh có hứng thú với học Văn.
Trong Câu lạc bộ này học sinh không chỉ gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm kiến
thức Văn học với các bạn cùng trang lứa mà cả với các thầy cô những người có
kinh nghiệm trong giảng dạy để từ đó bồi đắp thêm tình yêu và sự hứng thú với
việc học Văn.
4. Kết quả, hiệu quả mang lại:
Qua thực tiễn giảng dạy nhiều năm rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng
những biện pháp nêu trên tôi thấy đã đạt những kết quả, hiệu quả tích cực sau:
Chất lượng dạy và học Văn học được nâng cao rõ rệt. Ở phương diện là một
giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi thấy mình vững vàng hơn trong chuyên
môn, tự tin say mê hơn với sự nghiệp trồng người. Ai đó đã từng nói “Nghiệp văn
là nghiệp khổ” nhưng tôi chẳng thấy khổ chút nào mà ngược lại, tôi thấy mình
sung sướng hạnh phúc vì được cống hiến, góp sức mình làm đẹp cho đời.
Đối với các em học sinh, các em bước đầu đã ý thức được tầm quan trọng
của văn học và say mê học, đa số các em đều hứng thú học Văn, kết quả học tập
của các em được nâng lên.
* Kết quả cụ thể như sau:
- Tỉ lệ học sinh khá, giỏi bộ môn được tăng lên rõ rệt:
Từ 31 % năm học 2009-2010 lên 35% năm học 2010-2011

11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status