skkn - vận dụng kiến thức môn ngữ văn tạo hứng thú cho học sinh học tập địa lý ở trường thcs - Pdf 22

1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Bộ môn Địa lý trong chương trình THCS thường được đánh giá là một môn học khô
khan, thậm chí là môn phụ, không đóng vai trò quan trọng. Thực tế đó là một cách nhìn
phiến diện, duy ý chí. Để có cách nhìn đúng đắn về bộ môn cần phải trên 2 phương diện;
trước hết là đối với người học: mọi môn học đều có ý nghĩa riêng và đóng vai trò quan
trọng như nhau, không được xem nhẹ hay quá coi trọng môn học nào. Đối với giáo viên bộ
môn, ngoài việc không ngừng nâng cao tay nghề, tiếp nhận thêm kiến thức mới còn phải
tạo ra được hứng thú của học sinh đối với môn mình phụ trách. Một trong những cách
mang lại hiệu quả rõ rệt nhất là vận dụng kiến thức liên môn vào bài dạy của mình, đặc biệt
là đưa kiến thức môn môn ngữ văn vào dạy học địa lý một cách linh hoạt, uyển chuyển sẽ
mang lại hiệu quả rất cao. Lợi thế của giáo viên môn Địa lý chính là khi thi đầu vào ngành
sư phạm thường là khối C với môn Ngữ văn, Lịch sử và Địa lý. Ngoài ra, trong thời gian
qua ngành giáo dục đang có các đợt phát động, các cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn
trong dạy học. Với những thế mạnh và thời cơ đó, giáo viên địa lý hoàn toàn có thể làm
giảm bớt tính khô khan, lý thuyết của môn địa lý bằng những câu thơ, những áng văn phù
hợp, đặc biệt kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam là cơ sở để giáo viên tích hợp một cách
tối đa nội dung này vào bài giảng của mình. Trong thực tế giảng dạy, tôi đã khai thác tối đa
những hiểu biết của bản thân, tìm tòi trong sách vở, học hỏi từ đồng nghiệp để tạo hứng
thú hơn cho học sinh trong khi học môn Địa lý. Chính vì thế với mong muốn chia sẽ, cùng
đúc rút và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Vận
dụng kiến thức môn Ngữ văn tạo hứng thú cho học sinh học tập Địa lý ở cấp THCS”.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
a. Đối tượng nghiên cứu : Đề tài tập trung vào nghiên cứu việc lựa chọn các kiến
thức Ngữ văn áp dụng cho việc dạy học Địa lý cho học sinh THCS
b. Phạm vi nghiên cứu : Chương trình địa lý THCS, tập trung chủ yếu vào các khối
lớp 6, 8 và 9.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ :
a. Mục tiêu : Tạo hứng thú cho học sinh khi học môn Địa lý qua việc lồng ghép, tích
hợp các kiến thức của môn Ngữ văn.

trong tình hình mới và yêu cầu xã hội. Môn Địa lý có khả năng bồi dưỡng cho học sinh
3
một khối lượng tri thức phong phú về tự nhiên, kinh tế - xã hội và những kỹ năng, kỹ xảo
hết sức cần thiết cho cuộc sống, học sinh vận dụng các kiến thức của địa lý vào thực tiễn,
làm quen với các phương pháp nghiên cứu quan sát, điều tra làm việc với lược đồ, bản đồ,
các số liệu thống kê để sau này các em không khỏi bỡ ngỡ trong cuộc sống, vận dụng
chúng trong những điều kiện cụ thể.
Môn địa lý còn có khả năng to lớn trong việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học, nhân
sinh quan đúng đắn. Ngoài ra, môn địa lý có nhiều khả năng hình thành cho học sinh nhân
cách con người mới trong xã hội, và làm cho học sinh hiểu rằng: Đất nước ta đã bị kìm
hãm, trì trệ và tàn phá trong chiến tranh như thế nào, đời sống nhân dân vì đó mà nghèo
khổ. Hiểu được như vậy các em càng có quyết tâm lao động, xây dựng đất nước, càng
thêm cảnh giác để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những thành quả lao động của mình. Như vậy,
môn Địa lý không chỉ giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, thái độ nhiệt tình lao động mà
còn bồi dưỡng cho các em ý thức làm chủ, lòng mong muốn góp phần cho đất nước, quê
hương thêm giàu đẹp.
Ta đã biết rằng bất kỳ làm việc gì nếu có hứng thú thì sẽ đi đến thành công, đặc biệt là
đối với công tác giáo dục trong nhà trường trung học cơ sở, các phương pháp giáo dục,
cách thức truyền thụ kiến thức của các thầy cô giáo ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu
kiến thức cho học sinh, người giáo viên phải biết khai thác những lợi thế, những điểm
mạnh của các em dựa trên tâm sinh lí lứa tuổi của các em, tạo cho các em lòng đam mê
sáng tạo, nghiên cứu khoa học. Vì vậy, nếu một hoạt động nào mà các em cảm thấy hứng
thú thì các em hoạt động, học tập sẽ rất hăng say, nhiệt tình, hiệu quả cao.
Môn học nào cũng có khả năng gây hứng thú cho học sinh. Là một giáo viên giảng
dạy bộ môn Địa lí, bản thân tôi nhận thấy đó là một trong những yếu tố hết sức quan trọng,
nó góp phần vào việc truyền thụ kiến thức cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học,
đồng thời tháo gỡ được những nghi ngờ và thờ ơ của các em trong việc học địa lí, giúp các
em thấy được những lợi ích vai trò của môn địa lí trong cuộc sống và công việc.
2. Thực trạng vấn đề:
Môn Địa lý trước hết là có khả năng bồi dưỡng cho học sinh một khối lượng tri thức

%
SL
%
SL
%
SL
%
9
38
1
2.8
15
39,4
18
47,3
4
10,5
8A
21
8
38
10
47.6
3
14.4
8B
22
7
31.8
11

học vào trong các bài dạy địa lí nhằm giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng
hơn, từ đó nâng cao chất lượng học tâp. Tuy nhiên, việc lồng ghép sử dụng văn học vào bài
dạy Địa lí như thế nào để đạt được kết quả cao nhất và không sa đà làm mất đi tính đặc thù
của bộ môn là một việc rất khó khăn và cần phải cân nhắc, cẩn trọng. Vì vậy, để làm tốt
được công việc trên thì người giáo viên và học sinh phải làm một số công việc như sau:
* Đối với giáo viên:
- Trong khi soạn bài phải cân nhắc thật kỹ càng những nội dung mà mình cần đưa vào
bài giảng, cần phải khéo léo lồng ghép để làm rõ được nội dung mà mình muốn cho học
sinh đạt được
- Phải hệ thống câu hỏi rõ ràng, rành mạch.
- Phải sưu tầm những câu văn, câu thơ, tục ngữ, ca dao có liên quan đến bài dạy; phải
đảm bảo tính chính xác của những nội dung mà mình cần đưa vào bài dạy.
- Sử dụng triệt để đồ dùng dạy học, kết hợp giữa văn học với các đồ dùng trực quan để
hình thành cho các em khái niệm mang tính trực quan cao.
- Giáo viên phải làm tốt công tác tổ chức giờ học, quán xuyến các em, tránh tình trạng
ồn của học sinh, không sa đà vào nội dung văn học.
* Đối với học sinh:
- Tích cực tham gia xây dựng bài, chú ý lắng nghe thầy cô giáo giảng bài.
- Tăng cường việc tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi khám phá môn học.
- Sưu tầm các câu ca dao tục ngữ nói về thiên nhiên, đất nước con người Việt Nam.
4. Các biện pháp thực hiện:
Trong quá trình dạy học đòi hỏi người giáo viên phải tạo ra cho học sinh một môi
trường học tập thoái mái, sôi nổi, phát huy tính tích cực, tự giác của các em trong việc lĩnh
hội kiến thức, giúp cho các em, động viên, kích thích các em có những sáng kiến, đưa ra
những nhận xét của chính mình về nội dung kiến thức. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải làm
sao để có một không khí học tập sôi nổi, hấp dẫn, có nhu cầu học tập của học sinh. Theo
6
tôi nếu chúng ta biết kết hợp nhuần nhuyễn những ưu điểm của các phương pháp dạy học
khác nhau từ truyền thống cho đến các phương pháp hiện đại vào một bài dạy, nhưng điều
quan trọng nhất là kích thích được lòng ham mê, tính tự học của học sinh.

Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng cháy Sông Lô hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca”
Giáo viên giúp học sinh cảm thấy tự hào về phong cảnh hữu tình của đất nước và
những giá trị về kinh tế mà nó mang lại.
Ví dụ 2
Bài 24: Địa lý 6 Biển và đại dương, trong mục Sự chuyển động của nước biển và đại
dương khi giải thích thêm cho học sinh nguyên nhân sinh ra sóng ta có thể sử dụng các câu
thơ trong bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh:
‘’ Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình.
Sóng tìm ra tận bể

Sóng bắt đầu từ gió’’
Qua đó các em có thể nhận thấy rằng gió là nguyên nhân sinh ra sóng và cũng biết
được vì sao sóng cũng có lúc dữ dội, ồn ào nhưng cũng có lúc dịu êm và lặng lẽ?
Ví dụ 3
Cũng trong bài Bài 24: Địa lý 6 Biển và đại dương, khi dạy về vận động của nước
biển : Thuỷ triều ta cũng có thể đọc các câu thơ của nhà thơ Tế Hanh:
‘’ Con sông quê ta từ thuở xưa
Thuỷ triều lên xuống theo gió mùa
Nồm nam thổi lộng triền sông thấp
Nước biển tràn lên nước mặn chua.’’
Qua bốn câu thơ trên giáo viên sẽ giải thích cho học sinh biết được hoạt động thuỷ
triều có ảnh hưởng như thế nào đến sinh hoạt và sản xuất của người dân.
Ví dụ 4
8
Bài 17 : Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ (Địa lý 9 ), khi nói đến “Thế mạnh về
khai thác khoáng sản và thuỷ điện” ta có thể gợi ý cho học sinh các câu thơ sau:

Ví dụ 7
Khi dạy bài 32: Các mùa khí hậu và thời tiết nước ta ( lớp 8) trong mục “Những thuận
lợi và khó khăn do khí hậu mang lại”. Ta có thể dùng các câu thơ của nhà thơ Nguyễn
Khuyến:
“Tị trước tị này chục lẻ ba
Thuận dòng nước cũ lại bao la
Bóng thuyền thấp thoáng vờn trên vách
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà’’
Em hãy cho biết những khó khăn do lũ mang lại? Nó ảnh hưởng như thế nào trong đời
sống và trong sản xuất ?
Hoặc cũng trong phần này ta có thể sử dụng các câu tục ngữ như:
“ Ba ngày gió nam
Mùa màng mất trắng”
Gió Nam là gió gì? Tác hại của loại gió này tới mùa màng Vì sao người ta nói “ Ba
ngày gió nam, mùa màng mất trắng? (Gió về ngay lúc lúa trổ bông làm cho mùa màng thất
bát )
Ví dụ 8
Khi dạy về bài 2: Dân số và sự gia tăng dân số ( lớp 9 ) mục : “Sự gia tăng dân
số”, nói đến hậu quả của sự gia tăng dân số :
“Lẳng lặng mà nghe chúng chúc nhau
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn
Phố phường chật hẹp người đông đúc
Bồng bế nhau lên núi ở non.”
(Tú Xương )
Qua câu thơ trên giáo viên giải thích cho học sinh thấy được hậu quả của việc gia tăng
dân số quá nhanh có tác động đến tài nguyên thiên nhiên như thế nào?
Ví dụ 9
Trong bài 17 Địa lý 9: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc .
10
Sau khi đặt câu hỏi cho học sinh: Dựa vào đâu người ta kết luận là vùng có thế mạnh

Để so sánh về thời gian hình thành giữa núi già và núi trẻ ta có thể đọc câu ca dao sau:
“Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi lại là núi non”
Qua câu thơ trên học sinh sẽ nhận thấy rằng ngoài việc phân loại núi theo độ cao thì
người ta còn phân loại núi thành núi già, núi trẻ dựa vào thời gian hình thành.
Ví dụ 13
Khi dạy bài: Hơi nước trong không khí. Mưa. ( bài 20 – Địa lý 6)
Giáo viên có thể dùng hai câu sau:
“ Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.”
Từ hiện tượng của con côn trùng như vậy, giáo viên hướng dẫn cho học sinh giải thích
được độ ẩm của không khí trong từng điều kiện nhất định, và giúp cho học sinh cách quan
sát các sự vật hiện tượng của tự nhiên và thấy được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện
tượng.
Ví dụ 14
Khi dạy bài 25: Vùng duyên hải Nam Trung Bộ ( lớp 9 ) chúng ta có thể nêu 2 câu ca
dao sau để học sinh trả lời:
“Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo
Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh”
Với cảnh thiên đó có thể khai thác để phát triển ngành kinh tế gì? Ngoài Nha Trang
còn có nơi nào khác nữa?
Hoặc khi nói đến khó khăn do thiên tai gây ra vào mùa hè ta dùng 2 câu:
“Gió nam thổi kiệt bảy ngày
Ruộng đồng nứt nẻ cỏ cây úa tàn”
Ví dụ 15
Cũng ở bài : Vùng duyên hải Nam Trung Bộ. khi nói đến vấn đề hình thành cơ cấu
kinh tế của vùng, giáo viên cho học sinh nghe các câu ca dao sau:
“Đá than thì ở Nông Sơn
Bồng Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè
Thanh Châu buôn bán nghề ghe

vùng trọng điểm sản xuất lương thực và cây ăn quả của cả nước.
13
d. Tư liệu khác:
Ở dạng văn học.
Ví dụ 19
Khi dạy bài 11: Dân cư và đặc điểm kinh tế khu vực Nam Á ( lớp 8) trong mục “Đặc
điểm kinh tế-xã hội” :
Nói về nông nghiệp lệ thuộc của Ấn Độ người dân Ấn Độ đã diễn đạt “Xương trắng
của ngững người thợ dệt Ấn Độ đã phủ kín những cánh đồng bông.”
Câu nói đó đã thể hiện điều gì? Nguyên nhân nào dẫn tới tình cảnh đó?
Ví dụ 20
Cũng ở bài Dân cư và đặc điểm kinh tế khu vực Nam Á: Ấn Độ được mệnh danh là
viên ngọc trên vương miện của nữ hoàng Anh. Nhưng tại sao Tagor - nhà văn lớn của Ấn
Độ lại nói quê hương mình: Ấn Độ nghèo khổ và mến thương?
Ví dụ 21
Khi dạy bài 12: Đặc điểm tự nhiên khu vực Đông Á ( lớp 8 ) đến phần sông ngòi phía
đông phần đất liền ta có thể dùng câu nói: “ Vạn thuỷ giai đông lưu” để nói các con sông ở
đây đều đổ ra biển theo hướng Đông.
Tóm lại , việc sử dụng văn học trong dạy học Địa lí có một ý nghĩa quan trọng, nếu
chúng ta biết sử dụng hợp lí, nhuần nhuyễn, đúng lúc, đúng chỗ, và có sự kết hợp với các
phương tiện dạy học trực quan và các phương pháp khác tôi tin chắc rằng sẽ mang lại hiệu
quả cao, làm cho học sinh hiểu bài nhanh và khắc sâu được những kiến thức cần thiết trong
các bài học. Và điều quan trong nhất là đã tạo ra hứng thú cho học sinh, làm cho các em
yêu quý và thích học môn địa lí.
III. KẾT LUẬN
Sau khi vận dụng đề tài vào giảng dạy Địa lí 6, Địa lí 8, Địa lí 9 và một phần nhỏ ở
đại lý 7, tôi nhận thấy đa số học sinh đều rất hứng thú học tập, đều đạt kết quả cao.
Kết quả chất lượng sau khi thử nghiệm đề tài
Giỏi
Khá

10
47.6
8
38
1
4.9
8B
22
2
9.0
9
40.9
10
45.4
1
4.7
6A
23
2
8.6
10
43.4
10
43.4
1
4.6
6B
24
1
4.2

ngoài việc cải tiến phương pháp dạy của mình còn phải làm nhiệm vụ hướng dẫn học sinh
học tập, sao cho các em hiểu được đặc điểm bộ môn và cách truyền thụ của thầy thì việc
dạy học mới có kết quả.
- Thương yêu học sinh và tận tụy với nghề và với phương châm "Tất cả vì học sinh
thân yêu - vì tương lai con em chúng ta" phải là sợi chỉ xuyên suốt quá trình dạy học thì
mới đạt kết quả tốt.
Muốn thực hiện những nội dung trên có hiệu quả đòi hỏi mỗi giáo viên phải không
ngừng nâng cao kiến thức, tạo cho mình một trình độ chuyên môn vững vàng, thường
xuyên học hỏi kinh nghiệm ở các đồng nghiệp.
Trên đây là những kinh nghiệm rất nhỏ của tôi trong việc sử dụng văn học gây hứng
thú cho học sinh trong học tập Địa lý. Kiến thức liên môn giữa Ngữ văn và Địa lý có thể
bổ trợ cho nhau còn rất nhiều, nhưng do vốn hiểu biết của bản thân còn hạn chế, thời gian
để tìm tòi, phát hiện ra các mối liên hệ chưa nhiêu nên kết quả đạt được chưa cao. Rất
mong được sự đóng góp ý kiến, sự quan tâm giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp .
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thế Anh – Trường THCS Sơn Kim – Hương Sơn - Hà Tĩnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status