Tạo hứng thú cho học sinh khi hoïc Tập làm văn - Pdf 46

 Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn 
 Trần Văn Thành – Lê Văn Tám 
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong suốt thời gian day lớp, một vấn đề có tính nổi cộm đó là việc các em học sinh
từ lớp hai lớp năm thường rất ngán học mơn Tập Làm Văn. Tại sao vậy?
Để làm được một bài tập làm Văn học sinh phải huy động vốn kiến thức từ nhiều mặt
như: các hiểu biết về cuộc sống, tri thức về văn học, khoa học, xã hội. Học sinh lại còn phải
biết kết hợp hài hòa nhiều kĩ năng như: dùng từ đặt câu, dựng đoạn, tạo văn bản, kĩ năng
phân tích đề, tím ý, lập dàn ý. Do đó Tập Làm Văn mang tính tích cực thành tồn diên, tổng
hợp. Ngồi ra Tập Làm Văn mang còn đòi hỏi mang tính sáng tạo của Học sinh. Nhieu em
khơng biết bắt đầu từ đâu, phải nói và viết những gì, viết như thế nào! Chính vì vậy mà trong
các tiết học phân mơn này các em thường rất lúng túng có thì em viết lan man khơng đúng
trọng tâm đề u cầu, em thì ý nghèo nàn bài viết chỉ mang tính liệt kê khơ khan khơng biết
liên kết câu và lồng cảm xúc của người viết vào...và khi nhận được bài trả thì với những con
số khơ khan 3,4...điểm chẳng nói lên được điều gì, có chăng chỉ là một vài câu nhận xét q
cụt ngủn: lạc đề, văn nghèo ý, khơng biết liên hết câu, bài viết lan man...từ phí giáo viên mà
thơi. Điều đó đã làm cho các em ngày càng chán nản, lo sợ, mất tự tin, ngại nói và cuối cùng
là học yếu mơn này.
Thế thì ngun nhân do đâu? Làm thế nào để khắc phục tình trạng này, giúp các em
lấy lại tự tin học tốt mơn Tập Làm Văn? Đấy chính là lí do khiến tơi trăn trở.
1
 Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn 
 Trần Văn Thành – Lê Văn Tám 
B. NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI TA DẠY TẬP LÀM VĂN:
1. Về phía học sinh:

Học sinh thường lười đọc sách báo hoặc tìm tòi sưu tầm những tài liệu phục vụ cho
kiến thức có liên quan đến mơn học dẫn đến tình trạng nghèo vốn từ, nghèo vốn sống để có
thể đưa bài văn vào viết.


 Trần Văn Thành – Lê Văn Tám 
* Người Giáo viên có vai trò rất quan trọngvà ảnh hưởng vơ cùng to lớn đối với HS vì
họ là những người chủ đạo tổ chức việc học của HS, chính vì thế bản thân người Giáo viên
cần phải:

Ln học hỏi đồng nghiệp và tự học để nâng cáo trình độ bản thân và nâng cao tay
nghề.

Phải đầu tư thật kĩ bài dạy trước khi lên lớp.

Phải hết sức nhạy bén và ứng xử kịp thời các tình huống phát sinh khi giảng dạy
bằng cách chú ý lắng nghe ý kiến của HS khi biểu đề tim ra ưu khuyết điểm chính của học
sinh để nhận xét tổ chức sửa chữa , góp ý đánh giá.

GV cũng cần rến cho HS kĩ năng nhận xét bài bạn để từ đó nhận biết được những
chỗ hay hoặc chưa hay khi làm bài của mình. Ví dụ chỉ cần rõ bài ban hay là vì ban biết dùng
từ ngữ liên kết câu, ban biết sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa..., bạn biết lồng cảm
xúc của mình vào bài viết và điều quan trọng là GV cần phải giúp HS chỉ rõ ra những từ
ngữ, câu hay cho lớp tham khảo. Điều này vừa động viên được những em làm bài hay, vừa
khơi dậy chop HS những ý tưởng, sáng tạo mới, HS cảm thấy có thêm nguồn động lựcđể thi
đua học tập, để bài của mình được cơ và các bạn đọc trước lớp như vậy. Bên cạnh đó những
hạn chế trong bài của HS, GV cũng cần tế nhị khi nhận xét. Tuyệt đối khơng dùng những
câu đại loại; ý nghéo nàn qu1, bài đủ ý, bài yếu hoặc em khơng có chuẩn bị bài sao...Điều đó
sẽ làm cho các em như bị dội gáo nước lạnh vào mặt. Người GV cần thận trọng, trước tiên
cần tìm cho bằng được những ưu điểm trong bài làm của bé dù nó chỉ là nhỏ nhoi để tun
dương trước lớp rồi từ từ cho các em chỉnh sửa, bổ sung cho câu văn hay hơn, hồn chỉnh
hơn.

Người GV cần thay đổi nhiều hình thức học tập để tạo cơ hội cho nhiều HS cùng
được tham gia trình bày ý kiến của mình.

làm rõ một số từ cần thiết, đó là nhiệm vụ sống còn trong sự phát triển ngơn ngữ của trẻ.
Việc dạy nghĩa từ được tiến hành trên tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu cũng cung cấp từ ngữ
thì ở đó có dạy nghĩa của từ đòi hỏi GV phải nắm rõ nghĩa của từ và giải thích cho phù hợp
với ngữ cảnh, với nội dung bài học với hồn cảnh thực tế với đối tượng học sinh. Tuy nhiên
việc giải nghĩa hết tất cả các từ là khơng thể và khong cần thiết, GV phải có sự chọn lọc từ
để giải nghĩa. Những từ được chọn lọc phải là những từ trung tâm có vai trò quan trọng
trong hoạt động nói của HS trên một đề tài đã xác định, phải để cho các em giải nghĩa lấy
4
 Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn 
 Trần Văn Thành – Lê Văn Tám 
( kích thích tư duy HS làm cho HS lúc nào cũng cảm thấy mới lạ – Tạo hứng thú cho HS
trong học tập ) cũng cần lưu ý rằng: từ nào GV nắm rõ nghĩa thì hãy giải thích còn nếu từ
nào chưa rõ nghĩa thì khơng nên giải thích vì giải thích qua loa, sơ xài sẽ làm cho HS chán
nản vì khơng đáp ứng nhu cầu tò mò của trẻ thậm chí làm cho trẻ hiểu sai lệch nghĩa của từ
và khi vận dụng vào bài viết của mình sẽ khơng hiệu quả, làm sai lệch ý muốn diễn đạt.
* GV có thể áp dụng một số phương pháp giải nghĩa của từ sau đây:
-
Giải nghĩa bằng trực quan: đưa ra các vật thật, hình ảnh, sơ đồ...
-
Giải nghĩa thơng qua ngữ cảnh: GV cần được giải nghĩa vào câu
hồn chỉnh để làm rõ nghĩa từ đó.
-
Giải nghĩa bằng cách đối chiếu: GV so sánh nghĩa từ cần được làm
rõ nghĩa với từ khác.
VD: giải nghĩa từ “ ao” bằng cách so sánh với từ “hồ” -> ao nhỏ hơn hồ.
-
Giải nghĩa từ bằng cách tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa:
VD : Gần nghĩa với “lười biếng” là “biếng nhác”
Trái nghĩa với thơng minh là “đần độn”
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status