BM 01-Bia SKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG THPT XUÂN LỘC
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
KHI HỌC BÀI “KIỂU MẢNG”
Người thực hiện: NGUYỄN TRI KHÁNH
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn: Tin học
(Ghi rõ tên bộ môn)
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác: .........................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Trang 2
BM02-LLKHSKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên:
Nguyễn Tri Khánh
2. Ngày tháng năm sinh: 07/07/1985
3. Nam, nữ:
Nam
4. Địa chỉ: 265/5 Hồng Thập Tự, Phường Xuân Trung, tx Long Khánh, Đồng Nai
5. Điện thoại:
061.3871115
(CQ)/
6. Fax:
7. Chức vụ:
(NR); ĐTDĐ: 01658779611
E-mail:
có những chính sách thỏa đáng để phát triển lĩnh vực CNTT. Hiện nay, Việt Nam cũng đã
tổ chức nhiều cuộc thi cấp quốc gia, đó là sân chơi nhằm mục đích khơi gợi lòng yêu thích
và đam mê CNTT trong mọi tầng lớp công dân Việt Nam trong và ngoài nước như:
Olympic Tin học Sinh Viên Việt Nam, Lập trình ứng dụng Di động Hackathon 2014,…qua
các cuộc thi, chúng ta đã thu được rất nhiều ứng dụng (sản phẩm) phục vụ cho hầu hết các
lĩnh vực trong đời sống như: Giáo dục, Giao thông công cộng, Y tế,…Không những thế,
Việt Nam đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh cấp cao về CNTT (VietNam ICT Submit) để học
hỏi, trau dồi thêm kinh nghiệm của bè bạn quốc tế trong việc nâng cao năng lực quản lí và
đáp ứng ngày càng sâu rộng của CNTT đối với các lĩnh vực khác. Tại hội nghị VietNam
ICT Submit vào năm 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bải phát biểu đề cập đến
năng lực cạnh tranh của lĩnh vực trong CNTT trong điều kiện thực tế, đó là cần: “Tập trung
vào các vấn đề xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế, cải cách thể chế, đẩy mạnh cải cách giáo dục đào tạo - đây là những vấn đề đang
được Chính phủ đặc biệt quan tâm giải quyết”[3].
Trong quá trình dạy học môn Tin học 11, tôi nhận thấy môn học này mang tính tư duy
“trừu tượng” khá cao, nên khi học sinh học thường không hứng thú. Từ đó, các em không
theo kịp chương trình, chỉ học môn này để đối phó với các kì kiểm tra. Khi cần vận dụng
vào bài tập thực tế thì các em gặp nhiều lúng túng.
Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy ở một số thành phố lớn trong cả nước có trang thiết bị đảm
bảo cho việc dạy và học đã áp dụng một số phương pháp hay để khơi gợi hứng thú học tin
đối với các em như: “Cùng học Pascal qua chơi Robot” (Tp.HCM), “Alice 2014-Ai cũng
lập trình được” (do tập đoàn truyền thông đa phương tiện FPT khởi xướng) trên phạm vị
toàn quốc. Nhưng tại đơn vị tôi đang công tác, là một trường thuộc khu vực miền núi, HS [4]
chưa được trang bị đầy đủ máy vi tính để phục vụ cho việc thực hành các bài tập trên lớp.
Do đó, Giáo viên luôn không ngừng tìm ra những phương pháp để tăng hiệu quả tiếp thu
kiến thức và tạo thêm sự hứng thú của các em khi tiếp cận môn học này.
1
[] GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa)
[] CNTT: Công Nghệ Thông Tin;
Học sinh không dành nhiều thời gian đầu tư cho môn Tin học. Các em xem đây là
môn phụ, giáo viên thường cho “điểm dễ”, do đó các em thường có xu hướng chủ quan
“học cho có”, dành thời gian để củng cố kiến thức các môn chính cho các kỳ thi quan
trọng của các em trong năm.
3. Số liệu thống kê
Trong quá trình giảng dạy môn Tin học 11, trước khi thực hiện SKKN [1], tôi đã quan
sát các lớp tôi từng dạy có đến 80% các em cảm thấy môn Tin khá trừu tượng và khó tiếp
thu, 20% còn lại các em đã đầu tư thời gian vào học tập vì cảm nhận môn Tin có những
điểm thú vị mà mình cần tìm tòi và hiểu biết thêm về nó.
Hai lớp tôi lấy ý kiến, mức độ quan tâm của môn Tin học 11, có đến 90% các em
nhận thấy môn Tin học 11 là môn học khó; 10% HS còn lại nhận thấy môn Tin học 11 có
nhiều điểm hay cần dành nhiều thời gian cho nâng cao tư duy để có thể tích lũy thêm kiến
thức cho định hướng công việc trong tương lai của các em.
II. Cơ sở lí luận và thực tiễn
1. Cơ sở lí luận
Khi viết SKKN này, tôi đã tìm hiểu qua các SKKN của nhiều giáo viên trong cả nước
và nhận thấy SKKN của giáo viên Hoàng Lê Phong – Trường THPT Tống Duy Tân – Vĩnh
Lộc (Thanh Hóa), điểm hạn chế của phương pháp này HS còn thụ động khi tiếp cận kiến
1
[] SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm
Trang 5
BM03-TMSKKN
thức, HS có thể chưa nắm được lợi ích của Kiểu mảng trong việc lưu trữ các giá trị. Từ đó,
dẫn đến các em sẽ khó nhớ nội dung đã học trong tiết 1 và khi cần vận dụng kiến thức vào
giải quyết các bài toán cụ thể thì HS sẽ gặp nhiều lúng túng.
Tôi đưa ra nhận xét: “Với cách làm nêu trên, các em phải tiến hành cân để biết khối
lượng gạo sẽ có ở mỗi kho. Đó là cách làm mất rất nhiều thời gian và công sức nếu các kho
lưu trữ một lượng gạo lớn”. Sau đó, tôi chia lớp thành 4 nhóm học tập, mỗi nhóm từ 6 đến
9 học sinh, các nhóm sẽ thảo luận và ghi vào bảng trong, các vấn đề cần thảo luận về kho
gạo. Tôi cho các em thời gian thảo luận là 6 phút, khi hết thời gian tôi cho các em tìm ra
những điểm hạn chế trong câu trả lời của nhóm khác để tăng thêm điểm đánh giá nhóm.
STT
1
2
3
4
Câu hỏi
Em tính tổng các kho gạo nhỏ hơn
40 trong các kho đã có như thế
nào? ...................................................
.....
Em hãy cho biết có bao nhiêu kho
hàng chứa gạo trên màn hình……..,
để lưu trữ các kho em dùng bao
nhiêu biến………
Kiểu dữ liệu nào em chọn để lưu trữ
gạo từng kho..................
Kiểu dữ liệu số gạo trong mỗi kho
có điểm gì đặc biệt?.........................
Trả lời
Số lượng phần tử trong mảng như Hữu hạn (xác định).
thế nào? …………………
[] SGK: Sách giáo khoa
Trang 7
BM03-TMSKKN
3
4
Kiểu dữ liệu của các phần tử có đặc Giống nhau (cùng kiểu).
điểm gì? ………………….
Các phần tử mảng có thể truy cập Tên biến mảng và chỉ số.
(tham chiếu) thông qua …………..
Hình 3. Bảng hoạt động nhóm củng cố nội dung khái niệm Mảng một chiều
Sau khi hoàn thành câu trả lời, tôi yêu cầu các em ghi lại các nội dung theo cách hiểu
của mình về nội dung vừa học. Tiếp đó, tôi đưa ví dụ để củng cố nội dung các em vừa học:
“Một cửa tiệm bán gạo, họ tiến hành bán gạo cho 50 người, người đầu mua 5kg gạo, người
sau mua hơn người đầu 0.5kg. Em hãy cho biết số lượng phần tử mảng có thể lưu trữ, kiểu
dữ liệu để lưu trữ số kg gạo.”
F HS trả lời: Ta sử dụng 50 biến để lưu trữ số kg gạo, kiểu dữ liệu để lưu trữ số gạo
là kiểu thực.
(*) Hoạt động 2: Tìm hiểu cách khai báo biến mảng một chiều.
Nội dung này, học sinh đã làm quen ở cách khai báo biến, nhưng khi khai báo một
biến thuộc kiểu mảng một chiều các em sẽ gặp một số lúng túng. Để hạn chế điều này, tôi
phát cho các em phiếu học tập, để các em trả lời những nội dung đã học qua việc tham
n1 ≤ n2
n2 (xác định số lượng phần tử lớn nhất
của mảng một chiều)
Tất cả các kiểu dữ liệu đã học
Hình 4. Bảng học sinh tìm hiểu nội dung Khai báo biến
Ngoài cách khai báo, trong câu trả lời thầy cung cấp, em còn có thể sử dụng từ khóa Type
để định nghĩa kiểu mảng một chiều qua tên kiểu mảng em thích. Sau đó, áp dụng nó cho
kiểu dữ liệu đó vào tên biến mảng.
Trang 8
BM03-TMSKKN
Thầy sử dụng biến mảng một chiều khogao để lưu số lượng gạo từng kho bằng 5
biến. Em hãy cho biến cách truy cập (tham chiếu) đến phần tử thứ 2 – chứa 10 tấn gạo.
khogao
1
2
3
4
5
Gói câu hỏi 1
Nhập và xuất ra hiển thị 5 giá trị từ bàn
phím?
(*) Em cần sử dụng bao nhiêu bao nhiêu
biến:………………
(*) Em ghi các dòng lệnh thực hiện nhập
và xuất dữ liệu:
..................................................................
..................................................................
(*) Em có nhận xét gì khi nhập và xuất
nhiều biến cùng một lúc?
Gói câu hỏi 2
Cho đoạn chương trình sau:
For i:=1 to 5 do
Begin
Write(i,’: ’);Readln(a);
End;
(*) Em hãy cho biết số lượng phần tử sẽ
nhập trong chương trình:........................
(*) Vai trò của biến i trong chương trình:
(*) Em hãy ghi lệnh xuất phần tử thứ 2
trong các phần tử đã nhập.
Trang 9
BM03-TMSKKN
..................................................................
Đáp án các gói câu hỏi
Gói câu hỏi 1
Nhập và xuất ra hiển thị 5 giá trị từ bàn
phím?
(*) Em cần sử dụng bao nhiêu bao nhiêu
biến: 5
(*) Em ghi các dòng lệnh thực hiện nhập
và xuất dữ liệu:
Readln(a,b,c,d,e);
Write(a,’ ’,b,’ ’,c,’ ’,d,’ ’,e);
(*) Em có nhận xét gì khi nhập và xuất
nhiều biến cùng một lúc?
Ta cần sử dụng nhiều biến, thực hiện
nhập và xuất nhiều lần các biến đó.
Gói câu hỏi 3
Gói câu hỏi 2
Cho đoạn chương trình sau:
For i:=1 to 5 do
Begin
Write(i,’: ’);Readln(a);
End;
(*) Em hãy cho biết số lượng phần tử sẽ
nhập trong chương trình: 5
(*) Vai trò của biến i trong chương trình:
duyệt các giá trị nhập vào
(*) Em hãy ghi lệnh xuất phần tử thứ 2
trong các phần tử đã nhập.
không thực hiện được (vì không biết biến
chỉ số kèm theo)
30 10 40 20 50
(*) Em hãy cải tiến chương trình trên
bằng vòng lặp for…do?
+ Số lần lặp: 5; Câu lệnh lặp lại:
Câu lệnh xuất phần tử
+ Chương trình cải tiến:
For i: = 1 to 5 do write(a[i],’ ’);
Hình 7. Bảng trả lời các gói câu hỏi thảo luận nhóm tìm hiểu nội dung
tìm hiểu nhập và xuất mảng một chiều
Sau khi các nhóm hết thời gian thảo luận, tôi cho các em dán nội dung lên bảng, nhận
xét chéo bài làm của nhau để tìm ra ưu và nhược điểm của từng chương trình.
Khi các nhóm đã nhận xét bài làm của nhau, tôi đưa ra câu hỏi: “Em thấy điểm hạn
chế của gói câu hỏi số 2 trong việc ghi nhớ dữ liệu?”
F HS trả lời: Dữ liệu mới sẽ ghi đè lên dữ liệu cũ.
Trong gói câu hỏi số 2, các em thấy khi ta nhập giá trị mới thì giá trị cũ sẽ bị ghi đè
lên. Với gói câu hỏi số 3, nhược điểm trên sẽ được giải quyết như thế nào?
FHS trả lời: Dữ liệu mới sẽ lưu trữ trên mảng theo chỉ số (giống STT [1]). Khi cần
truy cập cũng thuận lợi hơn.
Khi sử dụng mảng để lưu dữ liệu, chúng ta sẽ lưu các phần tử vào các ô nhớ, mỗi ô
nhớ sẽ có một chỉ số. Với cách lưu như vậy, ta dễ dàng truy cập một phần tử khi nó được
lưu trên mảng.
Qua các gói câu hỏi thảo luận, tôi đặt câu hỏi: “Để khai báo biến cho bài toán kiểu
mảng một chiều nhập và xuất mảng, ta cần khai báo các biến nào?”. Hầu hết các em sẽ trả
lời, ta sẽ cần biến mảng a, i, N. Để củng cố nội dung vừa học, tôi chiếu 2 các câu hỏi ngắn
về khai báo biến cho bài toán nhập xuất mảng.
Câu hỏi 1
Câu hỏi 2
Em hãy viết khai báo biến mảng một Em hãy viết khai báo biến mảng một
chiều gồm 5 phần tử và các biến liên chiều gồm N phần tử và các biến liên
Em hãy viết khai báo biến và chương
trình tính tổng các số chẵn từ 1 đến N
(với N nhập từ bàn phím)?
Mô phỏng chương trình: Giả sử N = 5,
em hãy nêu cách thức tính tổng các số
chẵn của từ 1 đến N:................................
.................................................................
i
1
2
3
4
5
S←0
Kết thúc chương trình, em có: S = ..........
Câu hỏi 2
Em hãy viết chương trình nhập vào mảng
nguyên và tính tổng nhỏ hơn 50 tấn các
phần tử trong mảng A?
Mô phỏng chương trình: Giả sử N = 5;
A = {30,10,40,20,50}, em hãy nêu cách
thức tính tổng các phần tử < 50:...............
..................................................................
i
1
2
3
4
5
End.
Mô phỏng chương trình: Giả sử N = 5,
em hãy nêu cách thức tính tổng của số
chẵn từ 1 đến N: ta lần lượt cộng dồn
cho tổng S, tại các vị trí I là các số chẵn.
i
1
2
3
4
5
S←0
0
2
0
6
0
Kết thúc chương trình, em có: S = 6
nguyên và tính tổng các phần tử nhỏ hơn
50 trong mảng A?
Program tongMangA;
Var a: array[1..20] of integer;
i,N,S: integer;
Begin
Write(‘Nhap N: ’); readln(N);
S:=0;
For i:=1 to N do
Begin
write(‘a[‘,i,’]=’); readln(a[i]);
lớp.
Khi các em đã nêu quan điểm cá nhân của mình, tôi hỏi các em: “Theo em, điểm khác
biệt cơ bản của việc tính tổng gói câu hỏi 1, gói câu hỏi 2 là gì?”
FHS trả lời: Gói câu hỏi 1 – ta chỉ tính tổng các chỉ số chẵn từ 1 đến N; Gói câu hỏi
2 – ta tính tổng các phần tử nhỏ hơn 50 theo chỉ số của nó trong mảng A.
Trong gói câu hỏi 2, thầy muốn xác định phần tử để cộng dồn vào tổng (S), em sẽ
thực hiện như thế nào?
FHS trả lời: Một phần tử trong mảng được xác định dựa trên <tên biến mảng>[chỉ
số]. Để cộng dồn cho tổng (S), ta chỉ lần lượt lấy S := S + a[i];
Trang 13
BM03-TMSKKN
Sau phần trả lời của HS, tôi nhấn mạnh: “Trong kiểu mảng, các phần tử được xác
định dựa trên biến mảng và chỉ số. Khi thực hiện tính tổng ta sẽ cộng dồn các phần tử a[i]
cho tổng (S) mới và gán kết quả trở lại cho S”.
Kết thúc buổi học, tôi cho các em các bài tập để củng cố các kiến thức đã học và
chuẩn bị cho những buổi thực hành tiếp theo.
1) Hiển thị ra màn hình các phần tử dương trong mảng A nguyên gồm N phần tử đã
nhập.
Ví dụ: Cho N = 5, A={-4,7,-6,2,1}
→
Mang thu duoc: 7 2 1
2) Hiển thị ra màn hình các phần tử chia hết cho 2 trong mảng A nguyên gồm N phần
tử đã nhập.
Ví dụ: Cho N = 5, A={5,4,3,2,10}
→
Phan tu min la: 0
7) Sắp xếp mảng A nguyên gồm N phần tử chẵn giảm dần.
Ví dụ: Cho N = 5, A={1,2,0,1,8}
→
Mang giam dan: 8 2 0
8) Hiển thị các số nguyên tố lớn hơn 7 của mảng A nguyên gồm N phần tử.
Ví dụ: Cho N = 5, A={5,11,7,13,0}
→
Mang nguyen to: 11 13
9) Kiểm tra mảng đã nhập có phải là mảng tăng hay không?
Ví dụ: Cho N = 5, A={1,4,5,7,9}
→
‘Mang A la mang tang’
10) Sắp xếp các phần tử trong mảng xen kẻ nhau.
Ví dụ: Cho N = 6, A = {6,7,5,8,4,9}
→
năm học 2014 – 2015.
* Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra định kì khi chưa áp dụng SKKN cho lớp
11C12 năm học 2014 – 2015:
Sĩ
Lớp
[0;3)
[3;5)
[5;7)
[7;8)
[8;10]
số
S
S
SL
%
SL
%
SL
%
%
%
L
L
11C12 33
4
12.1% 10 30.3% 10 30.3% 4
12.1%
5 15.2%
Hình 11. Bảng thống kê lớp 11C11, 11C13 trước khi thực hiện SKKN
* Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra định kì sau khi áp dụng SKKN cho 2 lớp
bình
Hình 12. Bảng thống kê lớp 11C11, 11C13 sau khi thực hiện SKKN
Qua bảng thống kê khi áp dụng SKKN, tôi nhận thấy các em đã có những nỗ lực đáng
khích lệ trong quá trình học tập, số lượng HS đạt điểm dưới trung bình đã giảm đi rất nhiều
so với trước khi áp dụng SKKN. Với những gì các em đạt được, đó là điều mà tôi cần nỗ
Trang 15
BM03-TMSKKN
lực hơn nữa để tìm ra các phương pháp hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng bài giảng,
nhằm khơi gợi sự hứng thú học tập ở các em đối với bộ môn mà tôi đang giảng dạy.
VI. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
SKKN của tôi phù hợp với khả năng học tập của HS theo định hướng “phát triển khả
năng sáng tạo, tự học” của HS theo Nghị quyết 29-NQ/TW – Về đổi mới căn bản và toàn
diện trong giáo dục định hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện định hướng
nền kinh tế [1].
Qua SKKN này, tôi nhận thấy để HS dễ tiếp cận được kiến thức Tin học 11, chúng ta
nên tìm ra những điểm thú vị và hay ở những môn khác, lồng ghép vào bài giảng ở những
nội dung mà kiến thức môn học này còn hạn chế. Nếu có sự hỗ trợ từ kiến thức liên hệ từ
môn khác thì nó sẽ làm cho HS khắc sâu thêm kiến thức và tăng hiệu quả bài giảng hơn.
Trong chương trình Tin học 11, HS sẽ gặp lúng túng vì mức độ bài tập SGK môn học
đưa ra để các em củng cố bài học. Tôi mong muốn, Bộ Giáo dục Đào tạo nên xem xét lại
vấn đề này và cần xây dựng hệ thống bài tập phù hợp hơn với HS khi học chương trình Tin
học 11.
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tin học 11 – Hồ Sĩ Đàm – NXB Giáo Dục – Năm XB 2006
2. Sách giáo viên Tin học 11 – Hồ Sĩ Đàm – NXB Giáo Dục – Năm XB 2006
3. Sách bài tập Tin học 11 – Hồ Sĩ Đàm – NXB Giáo Dục – Năm XB 2006
4. Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tin học – NXB Giáo dục – Năm XB 2010
VIII. PHỤ LỤC
Danh mục các từ viết tắt trong SKKN
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Từ viết tắt
GDP
CNTT
HS
SKKN
SGK
khogao
NXB
NQ
CP
CT
TW
12
Trang 18
BM04-NXĐGSKKN
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị THPT XUÂN LỘC
–––––––––––
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
Xuân Lộc, ngày
tháng
năm 2015
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2014 - 2015
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH KHI HỌC BÀI
“KIỂU MẢNG”
Họ và tên tác giả: Nguyễn Tri Khánh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THPT Xuân Lộc
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình, nay
tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong Tổ/Phòng/Ban
Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT
Trang 19
Trong ngành
BM04-NXĐGSKKN
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào
cuộc sống:
Trong Tổ/Phòng/Ban
Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT
Trong ngành
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm
vi rộng:
Trong Tổ/Phòng/Ban
Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ
họ tên và đóng dấu)