Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiết trả bài viết trên lớp - Pdf 26

Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CÀ MAU
TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
******************
ĐỀ TÀI:
NAÂNG CAO NĂNG LỰC LÀM VĂN
CHO HỌC SINH LÔÙP 5 QUA TIẾT
TRẢ BÀI VIẾT TRÊN LỚP
Giáo viên thực hiện: Mai Thị Anh

Naêm 2013
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
Mở đầu
I/. Lí do chọn đề tài
1/. Mục tiêu và nhiệm vụ môn Tiếng Viết ở trường tiểu học
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
(1) Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết,
nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường học tập, hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn các thao tác tư duy (phân tích,
tổng hợp, khái quát, hệ thống)
(2) Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết
sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người; văn hoá,
văn học của Việt Nam và nước ngoài.
(3) Bồi dưỡng những tinh yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngưởi Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
2/. Vị trí của phân môn Tập làm văn
Những lời được chúng ta nói ra hoặc viết ra khi giao tiếp với nhau gọi là ngôn bản.
Hoạt động lời nói gồm hai bình diện: sản sinh (tạo lập) và tiếp nhận (hiểu) ngôn bản. Phân
môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn bản. Nó có vị trí đặc biệt trong

chất liệu trong cuộc sống thực để xây dựng nhân vật, cốt truyện. Khả năng tư duy logic của
học sinh cũng được phát triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn… Quá trình
sản sinh văn bản cũng giúp học sinh có kĩ năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn.
Để giao tiếp phải có thái độ đúng đắn với đối tựong giao tiếp. Phân môn Tập làm văn
khi dạy các nghi thức cũng đồng thời dạy cách cư xử đối với mọi người như sự lễ phép, lịch
sự trong nói năng. Để viết văn cần có hiểu biết và tình cảm với đối tượng được viết. Vì vậy,
phân môn Tập làm văn đã ạto cho học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến gắn bó với
thiên nhiên, với con người và vạn vật xung quanh: từ một cơn mưa, một buổi sáng đẹp trời,
một em bé bị ngã, một người phụ nữ đang gặp khó khăn đến một chú gà trống, một đồ vật đã
từng gắn bó. Từ đây, tâm hồn và nhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển.
4/. Thực trạng dạy học phân môn Tập làm văn và tiết dạy, tiết trả bài viết trên lớp
Giờ trả bài viết trên lớp từ trước đến nay giáo viên vẫn còn xem là một tiết đơn giản,
bình thường; thậm chí có những giáo viên không chú trọng đến việc soạn một tiết trả bài, chỉ
soạn đại khái, sơ lược các bước thông dụng như: thống kê loại bài, nêu sơ sài ưu – khuyết
điểm… Còn đối với học sinh thì càng ý thức đây là một giờ học “khoẻ” nhất, chỉ cần nghe
thầy cô nói và đọc những bài hay, hoặc nêu những ưu – khuyết điểm chung chung của lớp là
xong, khỏi phải trả bài cũ, không cần tập trung tinh thần tiếp thu kiến thức mới: Đó là một
quan điểm hết sức sai lầm. Theo tôi, tiết trả bài viết trên lớp là một tiết vô cùng quan trọng,
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
vì đây là điều kiện cho học sinh tự đối chiếu kiến thức của mình với kiến thức của giáo viên
truyền đạt, để nhận ra những thiếu sót trong quá trình làm bài của mình, cũng như những ưu
điểm trong bài làm của mình. Từ đó, các em phát huy ưu điểm, đẩy lùi hạn chế để nâng cao
khả năng làm văn của mình.
Trong những năm qua, phần lớn học sinh chưa thích học phân môn Tập làm văn, các
em chưa thấy đuợc tầm quan trọng của nó, cho nên còn hạn chế rất nhiều về khả năng làm
một bài viết. Hạn chế lớn nhất của học sinh là chưa thấy hướng đi của một bài văn. Khi tiếp
xúc với một đề tài mới, các em suy nghĩ bám vào đề bài xem nội dung nói về điều gì, rồi
trình bày đại trà theo quan điểm chủ quan của mình. Từ đó dẫn tới hàng loạt khuyết điểm
như:

trên lớp đạt hiệu quả tốt nhất.
III/. Phương pháp nghiên cứu
1/. Nghiên cứu lí thuyết
Đọc tài liệu, tham khảo, phân tích tài liệu có liên quan đến đề tài gồm:
Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 1
Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 2
Giáo trình Hoạt động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở tiểu học
Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 và tập 2
Sách giáo viên Tiếng Việt 5, tập 1 và tập 2
Giáo trình tâm lí học tiểu học
Phương pháp dạy học các môn học
Giáo trình Tiếng Việt 2
Giáo trình Tiếng Việt 3
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 5 tập 1
Giáo trình Dạy học tích cực và cách tiếp cận trong dạy học tiểu học.
2/. Tổng kết knh nghiệm
- Dự giờ đồng nghiệp về phân môn Tập làm văn ở lớp 4 và lớp 5.
- Knh nghiệm có được dựa vào quá trình giảng dạy, kinh nghiệm giảng dạy lớp 5
trong nhiều năm (1999-2013)
3/. Điều tra khảo sát
Điều tra thực tế dạy và học tại trường Hermann Gmeiner Cà Mau; lấy số liệu kết quả
thực tế qua một số bài kiểm tra
4/. Thực nghiệm sư phạm
Soạn kế hoạch bài học (giáo án) và dạy bài: Trả bài văn tả người (Lớp 5A, Trường
Hermann Gmeiner Cà Mau)
Chương I
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỂN
I/. Cơ sở lí luận

MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
1. Định hướng
- Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và
giới hạn đề bài viết (kĩ năng tìm hiểu đề).
- Kĩ năng xác định tư tưởng cơ bản của
bài viết.
2. Lập chương trình nội
dung biểu đạt
- Kĩ năng tìm ý (thu thập tài liệu cho
bài viết).
- Kĩ năng lập dàn ý (hệ thống hoá, lựa
chọn tài liệu).
3. Hiện thực hoá chương
trình
- Kĩ năng diễn đạt (dùng từ đặt câu) thể
hiện chính xác, đúng đắn phong cách bài văn,
tư tưởng bài văn.
- Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo phong
cách khác nhau (miêu tả, kể chuyện, viết thư,
…)
4. Kiểm tra hiệu đính
- Kĩ năng hoàn thiện bài viết (phát hiện
và sửa chữa lỗi).
Mỗi đề bài Tập làm văn đều xác định một nhiệm vụ giao tiếp, việc xác định nhiệm vụ
giao tiếp (định hướng giao tiếp) sẽ được thực hiện dưới dạng tìm hiểu đề bài. Việc tìm hiểu
đề bài phải trả lời câu hỏi nói (viết) để làm gì? (xác định mục tiêu nói năng), nói (viết) về cái
gì (xác định nội dung nói năng), nói (viết) theo thể loại nào? (hình thức nói năng), viết cho ai
(xác định vai, thái độ nói). Các đề Tập làm văn phải có đủ thông tin để giúp học sinh xác
định được những nội dung này.

khi viết, không có sự hỗ trợ của các yếu tố phi ngôn ngữ. Người ta phải triển khai đầy đủ ý ở
dạng lời viết, phải dùng các dấu câu để tách câu, phân chia văn bản thành từng đoạn – tách
đoạn, dùng các kiểu chữ khác nhau.
Ở các lớp đầu cấp bậc tiểu học, học sinh mới được làm quen với ngôn ngữ dạng viết –
bút ngữ nên cần có phương pháp dạy học đặc biệt.
Kĩ năng viết ngày càng phát triển ở các lớp trên. Tập làm văn có vai tró hàng đầu
trong việc phát triển kĩ năng này, đồng thời chúng ta cần biết tận dụng các cơ hội viết bài của
các phân môn khác của môn Tiếng Việt và các môn học khác để trau dồi năng lực viết cho
học sinh.
2/. Ngữ pháp văn bản và ứng dụng vào dạy học Tập làm văn
- Tính thống nhất của văn bản và việc dạy học Tập làm văn
Để tạo lập một văn bản phải tạo nên tính thống nhất thể hiện cả hai mặt: sự liên kết về
nội dung và liên kết hình thức. Sự liên kết này có được là nhờ tính hướng vào mục đích của
văn bản. Vì vậy, để rèn luyện kĩ năng viết văn cho học sinh, chúng ta phải giúp học sinh xác
định được mục đích của bài viết, chủ đề của bài viết và duy trì chủ đề này trong suốt bài viết
để bài văn không lan man, thiếu nhất quán.
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
Mặt khác, sự liên kết nội dung là liên kết bên trong khó nhận thấy nên trong dạy học
Tập làm văn, nhiều người thường chú ý đến hình thức ngôn từ mà không coi trọng đúng mức
đến logic của các ý trong bài, trong khi chữa văn bản cho học sinh, nhiều giáo viên thường
chú ý chữa lời mà không chữa ý. Đây là một thiếu sót cần được khắc phục.
Bên cạnh liên kết nội dung, ngữ pháp văn bản còn chỉ ra cả một hệ thống các biện
pháp liên kết hình thức. Nó là sự biểu hiện ra bên ngoài của liên kết nội dung. Những hiểu
biết về liên kết hình thức mà ngữ pháp văn bản đem lại giúp nhiều cho giáo viên trong việc
hướng dẫn viết bài, chữa bài viết cho học sinh.
Bên cạnh duy trì chủ đề, để đạt được mục đích giao tiếp, văn bản phải có sự phát
triển. Chủ đề cần phải được triển khai. Các đề bài Tập làm văn cần phải chỉ ra các hướng
triển khai: theo trật tự thời gian, trật tự không gian, từ toàn thể đến bộ phận, theo trật tự tâm
lí,…

Có hiểu biết về cốt truyện, về ngôi kể, về kết cấu mới có thể hiểu và hướng dẫn được các tiết
tìm ý, lập dàn bài trong văn kể chuyện (thực chất là xây dựng cốt truyện, lựa chọn kết cấu và
ngôi kể, tình tiết cho câu chuyện…)
II/. Cơ sở thực tiễn
1/. Chương trình, nội dung phân môn Tập làm văn lớp 5
Chương trình Tập làm văn lớp 5 gồm các kiến thức và kĩ năng làm văn hình thành qua
từng bài học của các tuần học như sau:
Tuần Tên bài học
1
- Cấu tạo của văn tả cảnh
- Luyện tập tả cảnh (một buổi sáng trong ngày)
2
- Luyện tập tả cảnh (một buổi sáng trong ngày)
- Luyện tập làm báo cáo thống kê
3
- Luyện tập tả cảnh (một hiện tượng thiên nhiên)
- Luyện tập tả cảnh (một hiện tượng thiên nhiên)
4
- Luyện tập tả cảnh (trường học)
- Kiểm tra viết (tả cảnh)
5
- Luyện tập làm báo cáo thống kê
- Trả bài văn tả cảnh
6
- Luyện tập làm đơn
- Luyện tập tả cảnh (sông nước)
7
- Luyện tập tả cảnh (sông nước)
- Luyện tập tả cảnh (sông nước)
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU

19
- Luyện tập tả người (dựng đoạn mở bài)
- Luyện tập tả người (dựng đoạn kết bài)
20
- Viết bài văn tả người
- Lập chương trình hoạt động
21
- Lập chương trình hoạt động
- Trả bài văn tả người
22
- Ôn tập về văn kể chuyện
- Viết bài văn kể chuyện
23
- Lập chương trình hoạt động
- Trả bài văn kể chuyện
24
- Ôn tập về tả đồ vật
- Luyện viết lời hội thoại
25 - Ôn tập về tả đồ vật
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
- Viết bài văn tả đồ vật
26
- Luyện viết lời hội thoại
- Trả bài văn tả đồ vật
27
- Ôn tập về tả cây cối
- Viết bài văn tả cây cối
28 - Ôn tập (2 tiết)
29 58 - Trả bài văn tả cây cối

chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học.
2/. Hoạt động dạy học
a/. Hoạt động dạy của giáo viên
Bên cạnh đội ngũ giáo viên có hiểu biết về lí luận dạy học, thông hiểu nội dung,
chương trình dạy học, biết tích lũy kinh nghiệm dạy học để vận dụng sáng tạo vào dạy Tập
làm văn . Vẫn còn một lực lượng không nhỏ giáo viên yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, không
tâm huyết nghề nghiệp; ít quan tâm học sinh, không trăn trở, không lo cái lo cùng học sinh.
Mặc nhiên, lực lượng này vẫn đứng trong đội ngũ nhà giáo với trình độ chuẩn hoặc trên
chuẩn.
Nhiều giáo viên chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc trưng của phân môn
trong dạy Tập làm văn. Họ chỉ dạy qua loa, đại khái; đặc biệt, họ rất lúng túng trong các tiết
dự giờ, thao giảng phân môn này.
Nhược điểm lớn nhất hiện nay là nhiều giáo viên, nhiều trường tiểu học chưa chú
trọng đẩy mạnh đẩy mạnh các hoạt động thực tiễn, hoạt động ngoại khóa hỗ trợ cho việc dạy
Tập làm văn. Học sinh bị gò ép trong bốn bức tường của lớp học và gia đình. Đây là nguyên
nhân sâu xa ảnh hưởng đến chất lượng dạy - học Tập làm văn .
Ngoài ra, hiện nay một số trường tiểu học đã thực hiện việc dạy chuyên các môn.
Trong đó, mỗi giáo viên chỉ đảm nhiệm dạy một môn. Môn Tiếng Việt được giao cho những
giáo viên không những có năng lực, có hiểu biết về lí luận dạy học mà họ còn có giọng nói
truyền cảm, thu hút, có khiếu và sự đam mê văn chương. Đây là một hướng đi tốt.
b/. Hoạt động của học sinh
Đa phần học sinh chưa ham thích học Tập làm văn . Nhiều học sinh khi làm bài văn
cảm thấy khó, thấy bí, không biết viết gì, nói gì vì các em thiếu vốn sống, vốn hiểu biết.
Chính vì vậy, các em gặp rất nhiều khó khăn cả về tri thức, phương pháp, hiểu biết và cảm
xúc về đối tượng cần tả, cần kể. Các em không có nguyên liệu để làm ra sản phẩm. Từ đó,
tâm lí chán học, ngại học Tập làm văn . Chính vì thế, những hành vi sao chép văn của khác
hoặc sao chép văn mẫu thường xảy ra.

Chương II
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KĨ NĂNG LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 5

+ Nhận xét cụ thể về bài văn của học sinh theo bố cục ba phần: mở bài, thân bài, kết
bài.
* Hướng dẫn chữa lỗi về mở bài – kết bài (theo cách đã học), về thân bài (sắp xếp ý
theo trình tự một cách hợp lí); sau đó tổ chức cho học sinh tiến hành tự chữa lỗi cá nhân và
trao đổi bài cho nhau để cùng kiểm tra, chia sẽ kinh nghiệm.
+ Hướng dẫn học sinh học tập cách viết văn hay.
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
* Đọc cho học sinh nghe đoạn văn, bài văn hay trong lớp (hoặc lớp khác, năm học
trước do giáo viên sưu tầm được).
* Gợi ý học sinh nhận xét, trao đổi để học tập những ưu điểm trong bài văn của bạn
(về bố cục sắp xếp ý, diễn đạt, dùng từ, đặt câu, sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh hay
nhân hóa sinh động).
+ Hướng dẫn chọn viết lại một đoạn văn trong bài làm cho tốt hơn.
Tùy điều kiện thời gian cho phép. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện yêu
cầu này tại lớp hoặc luyện tập thêm ở nhà để nâng cáo kĩ năng viết văn. Đoạn văn học sinh
chọn viết lại cho tốt hơn có thể là đoạn văn còn mắc nhiều lỗi 9chính tả, dùng từ, đặt câu…),
đoạn văn viết chưa hay, có thể là đoạn viết theo cách khác. Ví dụ: Từ mở bài trực tiếp thành
mở bài gián tiếp, từ kết bài không mở rộng thành kết bài mở rộng… sau khi học sinh viết lại,
giáo viên cần cho học sinh so sánh để thấy rõ được sự tiến bộ và tự rút kinh nghiệm về cách
làm văn đạt kết quả tốt.
II. BIỆN PHÁP TRẢ BÀI VIẾT TRÊN LỚP ĐẠT HIỆU QUẢ
PHẦN 1: CHUẨN BỊ
Để có một tiết trả bài viết thành công thì khâu chuẩn bị của thầy và trò là rất quan
trọng. cũng giống như bất kì công việc gì muốn đi đến kết quả tốt đẹp thì sự chuẩn bị phải
tốt, phải chu đóa. Khâu chuẩn bị cho tiết trả bài không những cần có thời gian, có sự sắp xếp
theo trình tự hôp lí, khoa học mà nó cần sự đầu tư sức lực, trí tuệ của người giáo viên. Nó đòi
hỏi người giáo viên phải tập trung cao độ vận dụng kiểu bài và nhiều yếu tố khác một cách
sáng tạo, mang lại hiệu quả tốt nhất.
1. Phải thiết lập được sự đồng bộ giữa thầy và trò

Ánh nắng lại chiếu xuống rực rỡ trên thảm cỏ xanh lấp lánh. Những hàng cây hai ven
đường . Mấy chú chú chim không biết tránh mưa ở đâu đó giờ đã đậu trên cành cây hót véo
von. Chị gà mái tơ.(…) Đàn gà con.(…) Chú mèo khoang.(…)
Đạo văn tả cơn mưa:
Mưa càng ngày càng nặng hạt. Sấm sét ầm ầm to hơn sấm thứ nhất làm cho một vài
mọi con người tưởng tượng sấm sét đánh to. Mưa giảm dần rồi tạnh hẳn. Có mấy ba, bốn
chú bé ra ngoài rồi tạnh mưa.
- Đối với lỗi về bố cụ bài văn: có thể học sinh thiếu mở bài hoặc kết bài; thiếu một
phần trong thân bài: ghi chữ V vào phần khuyết đó.
- Đối với những lỗi về sự liên kết nội dung và hình thức, những học sinh viết không
đúng với yêu cầu đề bài (lạc đề) thì giáo viên chỉ có thể phê trên lời phê không thể dùng kí
hiệu.
Sau đây là một ví dụ tổng hợp những kí hiệu của giáo viên chấm bài tả một cơn mưa
của em Trần Xuân Huyền lớp 5A, Trường Hermam Gmeiner Cà Mau
Bài làm
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
Quê tôi hạn hán đã lâu, đất đai nức nẻ, cây cối héo tàn, người dân ở đây đang mong
chờ có một đám mưa rào trôi qua như mong mẹ về chợ.
Bầu trời đang nắng chang chang bỗng những đám mây đen từ đâu ùng ùng kéo đến.
trời sai lính cầm dùi lên và bắt đầu rõ vào chiếc trống tùng tùng… để báo hiệu cho mọi
người là trời sắp mưa. Lộp độp, lộp độp những hạt mưa bắt đầu rơi xuống trần gian những
hạt mưa mảnh mai, nhẹ nhàng rơi xuống các nhành cây, kẽ lá mát rượi. và hạt mưa càng lúc
càng nhiều và nặng hạt hơn. lúc này, mọi người tấp dưới mái hiên để chú mưa. Những thằng
cu tí cởi trần trùng trục thỏa thích tắm mưa, nước văng tung tóe, chúng cười toe toét. Một số
thanh niên chạy xe dù về nhà, mình ướt sũng, môi run lập cập. những máy hiên, nóc nhà
nước từ trên đổ xuống(…)V
Khi Xuân Huyền nhận lại bài văn của mình, nhìn vào kí hiệu của giáo viên em biết:
bài mình có 2 lỗi dùng từ, 6 lỗi chính tả, 1 lỗi diễn đạt chưa trọn vẹn, thiếu phần kết bài.
2. Cần phải tính đến sơ đồ lớp học đối với tiết trả bài viết

từng dạng bài.
+ Tỉ lệ điểm được xác định như sau:
Mở bài: 1 điểm
Thân bài: 7 điểm
Kết bài: 1 điểm
Trình bày và chữ viết: 1 điểm
+ Khung điểm trừ:
Lỗi chính tả: - 0,2 điểm/ 1 lỗi
Lỗi dùng từ: - 0,5 điểm/ 1 lỗi
Lỗi vế câu: - 1 điểm/ 1 lỗi
+ Bài viết lạc đề: không ghi điểm
Ví dụ: Cho đề bài sau: Tả hình dáng và tính tình của một cụ già 9cụ già có thể là ông,
bà em hoặc người em quen biết).
Tác phẩm Biểu điểm Đáp án
Mở bài 1 điểm - Giới thiệu tên cụ già định tả
- Mối quan hệ của cụ già với em
(7 điểm)
3,5 điểm - Tả hình dạng
+ Tả bao quát, tuổi tác, tầm vóc, dáng vẻ, cách
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
Thân bài
3,5 điểm
ăn mặc.
+ Tả chi tiết: chọn những chi tiết nổi bật để tả
(làn da, mái tóc, giọng nói, khuôn mặt)
- Tả tính tình
+ Cách đối xử của cụ già với con cháu
+ Thái độ của cụ già đối với mọi người xung
quanh

MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
phiếu chấm bài cho học sinh, giáo viên ghi ưu điểm, tồn tại của học sinh trong từng bài một
cách cụ thể. Mỗi một trang sổ như vậy sẽ sử dụng từ đề đầu tiên đến đề cuối cùng của năm
học. sau khi giáo viên chấm bài của học sinh, giáo viên dùng viết đó để kí hiệu các lỗi sai và
tổng hợp ưu điểm thiếu sót cụ thể và ghi điểm số vào phiếu chấm.
Ví dụ: Một trang sổ giáo viên sử dụng làm phiếu chấm cho 1 học sinh như sau:
STT Đề bài Ưu điểm Khuyết điểm
Điểm
số
1
Tả một cơn
mưa trên quê
em
Trình bày
sạch, đẹp, sắp
xếp ý hợp lí, bài
văn có hình ảnh
và thể hiện cảm
xúc tốt.
Sai 5 lỗi chính tả, 2 lỗi
dùng từ, thiếu phần kết bài.
7
2
Tả một cảnh
đẹp ở địa
phương
Trình bày
sạch đẹp, bố cục
đủ 3 phần, dùng

tích và nhận xét về:
a. Ưu điểm:
- Đánh giá về sự nhiệt tình, cố gắng của học sinh.
- So sánh với bài trước có tiến bộ không?
- Đa số học sinh co ưu điểm ở chổ nào?
- Học sinh nắm thể loại bài viết ra sao?
Trong phần phân tích nhận xét ưu điểm bài viết của học sinh, giáo viên cần biểu
dương thích đáng các ưu điểm về nội dung hình thức của bài làm, nhằm khuyến khích động
viên các em. Trong các ưu điểm ấy cần chú ý những suy nghĩ riêng, những cảm xúc hồn
nhiên, tế nhị, sâu sắc, những cách vận dụng kiến thức khéo léo; những nhận xét mới mẻ,
những đoạn văn hay; những bố cụ sáng tạo; những cách dùng từ đặt câu hay (Mỗi nhận xét
ưu điểm, giáo viên phải đưa ra những dẫn chứng cụ thể và nêu tên những học sinh có ưu
điểm đó để các em phấn khởi).
b. Khuyết điểm:
- Có thể sẽ có nhiều học sinh mắc phải những khuyết điểm giống nhau, giáoviên tổng
hợp và xếp những học sinh sai cùng một mảng vào một loại khuyết điểm. tránh tình trạng dài
dòng, trùng lặp mất thời gian.
Ví dụ: Có 10 em sai chính tả từ 8 – 10 lỗi
Có 5 em diễn đạt câu chưa đủ ý, 3 em diễn đạt câu dài dòng, lủng củng.
Có 6 em trình bày thiếu nội dung trong đó có 2 em thiếu mở bài, 4 em thiếu kết
bài.
Có 1 em làm lạc đề.
(Giáo viên có thể lấy dẫn chứng cụ thể một số khuyết điểm nhưng tránh nêu tên học
sinh, nêu với một thái độ chân thành không đưa ra chế giuêỹ, xúc phạm học sinh).
- Tổng kết chất lượng bài làm của học sinh theo bảng.
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
Số học
sinh
làm bài

đó giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra.
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
Đoạn văn học sinh viết lại có thể là sai chính tả nhiều hoặc lời diễn đạt, lời dùng từ.
Cũng có thể là một mở bài gián tiếp, một kết bài mở rộng hay một đoạn văn có sử dụng biện
pháp liên tưởng, so sánh, nhân hóa.
PHẦN 3. TIẾN TRÌNH SOẠN GIẢNG VÀ TỔ CHỨC MỘT TIẾT TRẢ BÀI
TRÊN LỚP
1. Mục tiêu
a. Học sinh lĩnh hội kiến thức:
- Học sinh nhận thức những ưu – khuyết điểm của mình qua bài viết.
- HS nhận biết một số vấn đề mới, sánh kiến mới từ bài của các bạn (hoặc các cách
dùng từ, diễn đạt sáng tạo).
- HS rút kinh nghiệm từ sai sót của bạn bè.
b. Củng cố kiến thức cho HS
- Củng cố phương pháp làm bài viết và ôn lại đặc trưng của thể loại, kiểu bài.
c. Rèn luyện kĩ cho HS
- Rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn văn đúng quy cách.
- Rèn luyện kĩ năng trình bày có bố cục có ba phần theo thể loại.
- Rèn luyện kĩ năng sử sụng từ, ngữ, diễn đạt trong đoạn văn.
2. CHUẨN BỊ
- GV: Chấm bài + ghi phiếu chấm + tổng hợp ưu khuyết điểm, tổng hợp điểm số và tỉ
lệ xếp loại, so sánh với đề bài trước.
- HS: Xem lại phương pháp và thể loại của bài viết.
3. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU
a. Ổn định lớp
b. Kiểm tra
- Kiểm tra về tinh thần, thái độ học tập của HS.
- HS nêu lại cấu tạo của một thể loại, kiểu bài (cấu tạo bài văn tả người, tả cảnh,…).
c. Tiến hành trả bài

- Nhận biết được lỗi trong bày văn và viết lại một đoạn văn cho đúng.
II. Chuẩn bị
- GV: Chấm bài + ghi phiếu chấm + tổng kết ưu khuyết điểm + tổng kết chất lượng
bài làm + đáp án và ghi biểu điểm của từng phần trong đáp án viết sẵn vào bảng phụ
- HS: Xem lại về lí thuyết của văn tả người.
III.Các hoạt động dạy học chủ yếu
MAI THỊ ANH – TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER CÀ MAU
Nâng cao năng lực làm văn cho học sinh lớp 5 qua tiêt trả bài viết trên lớp
1. Ổn định tổ chức
2. Kiểm tra
- Kiểm tra tinh thần học tập của HS.
- 2 HS nêu lại dàn bài chung của văn tả người.
- Nhận xét chung.
3. Tiến hành trả bài
* Hoạt động 1: Tìm hiểu lại yêu
cầu đề bài và xây dựng đáp án, biểu điểm.
- GV yêu cầu 1 HS đọc lại đề bài,
GV kết hợp ghi bảng.
- GV gợi ý để HS nhắc lại yêu cầu
đề bài, GV gạch dưới từ ngữ trọng tâm
của đề bài.
- Hướng dẫn cả lớp xây dựng đáp
án.
- GV treo bảng phụ ghi sẵn đáp án,
thang điểm từng phần lên bảng lớp; yêu
cầu họa sinh đọc lại
* Hoạt động 2: Tổng kết ưu khuyết
điểm
- GV phân tích ưu điểm kết hợp nêu
dẫn chứng cụ thể đối với mỗi loại ưu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status