TÊN ĐỀ TÀI:
“TẠO SỰ SAY MÊ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÍ THÔNG
QUA VIỆC TÍCH HỢP TƯ LIỆU ĐỊA LÍ VÀO BÀI GIẢNG.”
PHẦN THỨ NHẤT
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Xuất phát từ việc đổi mới phương pháp dạy học: Chuyển phương pháp: “Lấy
giáo viên làm trung tâm”, sang “Lấy học sinh làm trung tâm”, Trên cơ sở phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong việc khám phá, tìm tòi tri thức. Sự chủ
động tích cực, sáng tạo trong học tập của học sinh được nảy nở hình thành trên cơ sở
nền tảng của sự say mê, yêu thích học tập bộ môn.
2. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới, áp dụng phương pháp giảng dạy theo phương
pháp nhóm, phương pháp vấn đáp tìm tòi, phương pháp phát hiện và giải quyết tình
huống có vấn đề, hiệu quả của các phương pháp dạy nêu trên gắn liền với sự tự giác,
tích cực, chủ động, sáng tạo, say mê học tập bộ môn.
3. Xuất phát từ: Việc thực hiện nguyên lí giáo dục “ Học đi đôi với hành – Lý
luận gắn liền với thực tiễn”.
Nguyên lí trên được thực hiện thông qua việc tích hợp các tư liệu địa lí trong
giờ học.
4. Xuất phát từ đặc trưng phương pháp giảng dạy địa lí : Tư liệu địa lí giàu
hình ảnh, sống động, sẽ trở thành hình ảnh trực quan địa lí góp phần đánh thức sự
đam mê trong học tập nâng cao chất lượng giảng dạy.
5. Xuất phát từ kiến thức địa lí: Kiến thức tự nhiên – kiến thức xã hội được
minh họa soi sáng bằng các tư liệu địa lí.
6. Xuất phát từ đặc điểm của “học viên bổ túc văn hóa” (BTVH): “ Kiến thức
còn hay quên, không vững chắc, kiến thức thực tiễn phong phú, sử dụng các tư liệu
địa lí sẽ là nhịp cầu làm cho bài giảng trở nên gần gũi với cuộc sống.
7. Xuất phát từ thực trạng giảng dạy và học tập môn địa lí, nhiều giáo viên hiện
nay chưa thực sự say mê, hứng thú trong việc giảng dạy bộ môn địa lí, trong giờ dạy
trở nên khô khan, thiếu sự hấp dẫn, chưa tạo thích thú, cuốn hút học sinh trong học
tập.
8. Xuất phát từ yêu cầu: Nâng cao chất lượng bộ môn: Thông qua việc sử dụng
c. Khả năng: Nghe, nhìn hạn chế ( HV lớn tuổi).
d. Trí nhớ máy móc giảm sút.
e. Ghi nhớ ý nghĩa ( Có bản chất ): Không cao.
g. Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống: Máy móc, thiếu sáng tạo.
3.5. Xuất phát từ thực trạng của việc dạy và học bộ môn địa lí hiện nay nói chung,
dạy và học bộ môn địa lí ở các trung tâm GDTX nói riêng.
3.6. Xuât phát từ yêu cầu của tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong
thời kỳ “ Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa”. Tư duy kinh tế được nảy nở từ kiến thức
thực tiễn.
3.7. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới dạy học trong giai đoạn hiện nay.
II. MINH HỌA
Minh họa địa lý 10 ( Ban cơ bản).
Bài số 09 địa lí lớp 10: Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất.
I. Phong hóa lý học.
* Sau khi hướng dẫn học viên nắm được kiến thức:
+ Ngoại lực là gì?
+ Các tác động của ngoại lực diễn ra như thế nào?
+ Thế nào là quá trình phong hóa?
* Phong hóa lí học:
Sau khi giáo viên hướng dẫn học viên nắm được khái niệm, Kết quả của quá
trình phong hóa lí học. Đến đây giáo viên lồng ghép tư liệu vào bài dạy ( 1-2 phút).
Tư liệu tựa đề: “Hiện tượng cát hát trên Sa Mạc”. Lời kể của nhà nghiên cứu người
Nga: Elipxep.
“ Trong màn đêm tĩnh mịch của Sa Mạc Xa Ha Ra, đột nhiên trong sự im
lặng tuyệt đối của không gian nóng bỏng, một âm thanh huyền bí văng vẳng ngân
lên như một bản nhạc cổ, khi trầm khi bổng. lúc khác ta lại cảm thấy có tiếng
khóc nỉ non của bà mẹ giữa đêm khuya khi đứa con bị thất lại giữa miền xa mạc
mênh mông, nhưng cũng có lúc ta cảm thấy giật mình hoảng sợ bởi đang có âm
thanh của ngìn con Tuấn Mã đang phi nước đại, phải chăng đó là bọn cướp đang
truy đuổi đâu đây”.
số 1 tháng 2 năm 1978.
“Cảm giác đầu tiên của những người du khác bốn phương khi bước chân
vào hang Tam Thanh động, Nhị Thanh động, … người ta cảm thấy như đang lạc
vào cõi tiên bồng, bởi lẽ ở đây, từ nơi ta đang đứng có nhiều đường lên đỉnh núi
giống như đường đi lên trời, cũng chính nơi ta đang đứng có nhiều đường đi
xuống sâu thăm thẳm vào trong lòng đất, cảm giác như những con đường dẫn ta
về trốn hư vô, trở về với cõi âm. Trong hang núi, nhìn từ núi lên có rất nhiều
mảng đá, cột đá với hình thù khác nhau. Chỗ này là hình thù của một đôi nam nữ
yêu nhau, chỗ kia là hình thù của một con quái vật khổng lồ trong truyện cổ tích
và kia là hình thù những chiếc đầu lâu của người đã chết, ánh sáng bình minh,
hoàng hôn dọi vào trong hang núi làm những giọt nước đang đọng lại trong hanh
núi, mảng đá phản quang lung linh sắc màu, cùng với sự lan tỏa của nước bốc
hơi, tạo cho ta ngỡ chốn Hằng Nga, Cung Đình của giới Thần Tiên”.
Với ngôn ngữ trong sáng dầu hình ảnh của giáo viên, thông qua câu chuyện
trên sẽ mang lại cho học viên nhiều tâm trạng, nhiều cảm xúc. (Ví dụ: sự phấn kích
khi bắt gặp hình ảnh giống như Ông Tiên, Bà Tiên trên cung đình hay cảm tưởng
thấy hình ảnh của Thạch Sanh dùng búa chém Mãng Sà Tinh, tâm trạng hoảng sợ mỗi
khi bắt gặp hình thù của chiếc đầu lâu,…)
Nhờ đó mà sua tan sự căng thẳng mệt mỏi trong giờ học, phát triển thao tác tư
duy, đặc biệt là chí tưởng tượng của học viên, giáo dục ý thức cho học viên về sự bảo
tồn những di sản vô giá do thiên nhiên ban tặng. Cũng qua đó mà giáo dục lòng yêu
quê hương đất nước cho học viên.
Bài 11. ( Tiết 12) Địa lí 10 cơ bản :
Trình bày phần I khí quyển.
Sử dụng tư liệu phần giới thiệu bài.
Sử dụng tư liệu để vào bài nhập đề: đảm bảo lời giới thiệu sống động bất ngờ
hấp dẫn ngay từ lúc giới thiệu bài:
“ Không khí đã mang lại cho con người những âm thanh kỳ thú như tiếng
ca hát của chim muông, tiếng sào sạc của lá rừng, tiếng rì rào của sóng biển.
không khí cũng tạo nên những cảnh sắc bình minh rực rỡ và nguồn thức ăn vô
2
và nhả ra O
2
góp phần điều hòa không khí, trong sạch môi
trường. Không có thực vật không có sự sống trên Trái Đất.
*Khí Hyđrô: Cùng ôxy tạo thành hơi nước, tạo thành mây, mưa, sương, tuyết,
tạo thành vòng tuần hoàn của nước trên Trái Đất. Hơi nước góp phần điều hòa nhiệt
độ trên Trái Đất giữa ngày và đêm “ Không có hơi nước nhiệt độ ban đêm có thể lạnh
xuống tới – 100
0
C.”
Thông qua việc tích hợp các tư liệu trên làm sáng tỏ vai trò của khí quyển đối
với sự tồn tại, phát triển của sinh vật trên trái đất.
*.Vai trò của khí quyển đối với việc bảo vệ trái đất:
Phần không khí dày đặc bao quanh Trái Đất gọi là khí quyển. Nhờ có tầng ô
zôn ở trên cao, khí quyển đã trở thành (Chiếc áo giáp) che trở cho các sinh vật sống
trên Trái Đất. Không bị thiêu đốt trong những ngày hè đổ lửa, Khí quyển cũng là cái
chăn đắp để sưởi ấm cho Trái Đất trong những ngày mùa đông rét lạnh khi không có
tia nắng Mặt Trời đốt nóng. Không khí làm nhiệm vụ điều hòa nhiệt độ, ban đểm nếu
không có không khí sẽ không ngăn cẳn lại được mặt đất bức xạ, làm nhiệt độ thấp
xuống ( VD: Mặt Trăng không có không khí, ban ngày nhiệt độ lên đến 120
0
C,
ngược lại ban đêm nhiệt độ xuống tới – 150
0
C).
Đặc biệt bầu khí quyển làm nhiệm vụ bảo vệ Trái Đất khỏi bị hủy diệt bới các
mảnh vụn của Vũ Trụ ( thiên thạch) khi rơi vào Trái Đất. Ví dụ: Một mảnh vụn của
thiên thạch có thể tích 1m
3
2012 đạt tỉ lệ 76% . Riêng môn Địa Lí đạt trên trung bình của Tỉnh. Trong ba năm
liên tiếp gần đây môn địa lí của Trung Tâm GDTX Năm đạt tỉ lệ cao nằm trong tốp
03 Trung Tâm có tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp cao nhất.
BẢNG THỐNG KÊ CHẤT LƯỢNG THI TỐT NGHIỆP MÔN ĐỊA LÍ QUA MỘT
SỐ NĂM.
2009- 2010 2010- 2011 2011-2012
% Xếp hạng (Tỉnh) % Xếp hạng (Tỉnh) % Xếp hạng (Tỉnh)
41,1 3 70 4 76 4
2. Kiến thức được: Củng cố khắc sau, mở rộng và nâng cao:
- Thông qua các tư liệu địa lí có liên quan đến các hiện tượng tự nhiên, xã
hội… mà soi dọi lại kiến thức trong sách giáo khoa, bổ xung các thông tin mà sách
giáo khoa chưa phản ánh, kiến thức trở nên phong phú đa dạng hơn.
3. Rèn luyện phát triển tư duy người học:
- Thông qua tư liệu địa lí mà làm cho người học có thể tưởng tượng hình dung
suy diễn về các quá trình địa lí đã sảy ra. Qua đó có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
khả năng tư duy: trừu tượng, khả năng tổng hợp khái quát hóa (đây là điểm yếu của
hoạt động tư duy của học viên bổ túc văn hóa)
4. Giáo dục phải rèn luyện thói quen cho người học:
Vân dụng kiến thức đã học, kiến thức thực tiễn để gải thích các hiện tượng
trong tự nhiên xã hội.
- Các hiện tượng trong tự nhiên, xã hội luôn sảy ra với quy luật riêng biệt, đặc
thù của nó. Trước các hiện tượng ấy, học viên luôn đặt câu hỏi: hiện tượng đó là gì?
Bản chất của nó ra sao? Tại sao nó lại xảy ra như vậy? muốn tìm hiểu, khám phá phải
làm như thế nào? Các tư liệu địa lí sẽ góp phần giải quyết được các tình huống nêu
trên. Cũng qua đó mà (rèn luyên, phát triển năng lực giải quyết tình huống có vấn
đề), phát triển tư duy sáng tạo cho học viên.
5. Góp phần thực hiện nguyên lý giáo dục:
- Thông qua tư liệu địa lí mà làm sống dạy các hiện tượng địa lí, làm cho bài
dạy trở nên gần gũi, quen thuộc, gắn bó với cuộc sống hàng ngày, với cuộc sống lao
động sản xuất của con người. Góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục: “Học đi đôi với
dụng các: Tranh ảnh, số liệu thống kê. Điều quan trọng là người giáo viên phải có kỹ
năng khai thác: Tranh ảnh, số liệu, bảng thống kê.
- Người giáo viên phải: Làm cho các bức tranh khô cứng, không có hồn trở
thành những bức tranh sống động, hấp dẫn, làm cho những con số chết, vô hồn trở
thành những con số biết nói, con số đầy ý nghĩa sâu sắc…
Vậy thông qua đó mà giúp cho giáo viên, ngưới học được rèn luyện kỹ năng về
tính nghệ thuật sử dụng tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, số liệu thống kê trong giờ dạy, học
tập môn Địa lý.
10. sử dụng tư liệu địa lí góp phần làm cho người học say mê thấy hứng thú học
tập, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Thông qua những nội dung trình bày ở trên việc sử dụng tư liệu địa lí đã góp
phần làm cho giờ dạy trở nên sinh động hơn, người học trật tự chú ý theo dõi bảng
học viên tích cực sôi nổi thảo luân xây dựng bài. Cũng vì thế mà giờ học trở nên nhẹ
nhàng giảm bớt sự mệt mỏi căng thẳng. Giáo viên nhiệt tình, học viên hứng thú, đam
mê trong giờ dạy. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng học viên bỏ tiết,
không học thuộc bài ở nhà đối với môn địa lí ngày một giảm đi sự đam mê môn học
là sự khởi nguồn cho sự nâng cao chất lượng dạy và học môn địa lí trong thời gian
qua mà bản thân tôi và các đồng nghiệp đã truyền dạy
Năm Căn, Ngày 1 tháng 12 năm 2012
Người viết:
Lê Hữu Tình
PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến :
“TẠO SỰ SAY MÊ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÍ THÔNG
QUA VIỆC TÍCH HỢP TƯ LIỆU ĐỊA LÍ VÀO BÀI GIẢNG.”
Tác giả: Lê Hữu Tình – Trung tâm GDTX huyện Năm Căn
Trường (đối với đơn vị trực thuộc Phòng
GD&ĐT), Tổ chuyên môn (đối với đơn vị
trực thuộc Sở GD&ĐT)