SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI BIỆN PHÁP HẠN CHẾ LỖI LÀM VĂN CỦA HỌC
SINH THPT"
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trong trường THPT việc viết các bài văn có vai trò rất quan trọng. Các bài viết
văn không chỉ đánh giá học sinh về mặt điểm số mà còn rèn luyện tính kiên nhẫn, cách
nói năng, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh.
Hiện nay, nhiều học sinh lơ là trong việc rèn luyện kĩ năng làm văn dẫn đến chất
lượng bài làm văn của học sinh ngày càng bị giảm sút. Tình trạng phổ biến là học sinh
yếu kĩ năng làm văn. Hầu hết học sinh mắc lỗi trong việc viết văn từ một đoạn văn
ngắn cho đến một bài luận dài với rất nhiều kiểu lỗi.
Giáo viên giảng dạy Ngữ văn trong trường THPT đã có cố gắng trong việc rèn
luyện kĩ năng cho học sinh nhưng kết quả vẫn chưa được như mong đợi. Vậy để làm gì
có thể củng cố, rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh? Người viết bài này xin đưa ra
2
một số kinh nghiệm mình đã tích lũy được qua quá trình dạy học môn Ngữ văn ở lớp
11A4 trường THPT số 1 Bảo Yên.
2. Mục đích của đề tài:
Đề tài này chỉ xin dừng ở việc chỉ ra các lỗi về kĩ năng chủ yếu mà học sinh mắc
phải và đề cập một số biện pháp khắc phục những lỗi đó.
3. Ý nghĩa của đề tài:
Trong tình hình hiện nay khi kĩ năng làm văn của học sinh yếu và nhiều em chưa
có kĩ năng làm văn, đề tài này góp phần vào việc phát hiện ra và khắc phục những lỗi
viết văn mà học sinh lớp 11A4 trường THPT số 1 Bảo Yên đang mắc phải. Người viết
cũng hi vọng, đồng nghiệp và học sinh sẽ có thêm tư liệu về các lỗi kĩ năng làm văn
của học sinh.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 11A4 trường THPT số 1 Bảo Yên.
chương trình sách giáo khoa đều toát lên vẻ đẹp riêng.Tác phẩm văn học mang đặc trưng
riêng của cấu trúc tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Đó là một chỉnh thể bao gồm các thành
tố nhà văn – văn bản - người đọc tương tác với nhau. Nội dung thẩm mĩ của tác phẩm
văn học gắn liền với tầm đón nhận của người đọc. Tiếp nhận văn học tức là đọc hiểu để
4
biến văn bản thành một thế giới hình tượng sinh động và nắm bắt được ý nghĩa của nó.
Cùng với quá trình đọc hiểu văn bản, trong trường phổ thông, học sinh còn phải
viết các bài làm văn theo quy định. Việc viết bài của học sinh không chỉ kiểm tra xem
các em lĩnh hội kiến thức, khả năng cảm nhận văn chương mà còn rèn khả năng ngôn
ngữ, cách diễn đạt. Thông qua các bài làm văn khả năng vận dụng và diễn đạt ngôn ngữ
của các em được cải thiện rất nhiều. Như vậy, trong trường phổ thông các bài làm văn
giữ vị trí hết sức quan trọng.
2. Những yêu cầu của một bài văn đúng và hay:
2.1 Trước khi làm bài học sinh phải xác định được phần tìm hiểu đề:
Xác định trọng tâm nội dung của đề.
Xác định các thao tác lập luận: phân tích, so sánh, chứng minh…
Xác định phạm vi tư liệu
2.2 Lập dàn ý:
Việc lập dàn ý giúp người viết bao quát được vấn đề, đảm bảo được tính hệ thống
của lập luận, tính cân đối của bài viết, xác định được mức độ trình bày mỗi ý, từ đó
phân bố thời gian hợp lí. Lập dàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hay hơn nhờ
biết lựa chọn đúng cách diễn đạt, cách trình bày bài viết.
Dàn ý gồm cấu trúc 3 phần:
a. Mở bài: Có vai trò quan trọng đối với một bài văn. Mở bài đúng và hay sẽ khai
thông được mạch văn. Ở phần mở bài người viết cần giới thiệu khái quát vấn đề sẽ nghị
luận, sẽ làm sáng tỏ trong bài viết. Để có được mở bài hay, cần nêu trọng tâm và phạm
vi vấn đề sẽ bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc chiết và mới mẻ.
5
b. Thân bài: Có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề mà mở bài đã nêu. Thân bài gồm
nhiều đoạn. Giữa các đoạn có câu hoặc từ chuyển tiếp.
Truyền cảm: Để có tính truyền cảm câu văn có tính chất triết lí tạo nên tính suy
ngẫm và tính tư tưởng sâu sắc trong bài. Người viết phải tạo ra những câu văn giàu hình
ảnh; giàu cảm xúc; có giọng điệu, nhịp điệu…
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
1. Thực trạng viết văn của học sinh hiện nay:
Hiện nay, tình trạng học sinh các cấp viết sai lỗi chính tả, dùng sai từ, ngữ pháp đang
lên đến mức báo động. Thực trạng này không chỉ xảy ra ở học sinh các cấp dưới mà
thậm chí ngay cả sinh viên bậc đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cũng mắc
phải. Có những sinh viên học xong đại học, cao đẳng rồi nhưng vẫn không phân biệt
được khi nào thì viết “L” hay “N”; “S” hay “X”; “R” hay “D” nên mỗi khi viết hoặc
đánh máy văn bản thường nhầm lẫn một cách trầm trọng. Có những cử nhân không phân
biệt được lúc nào thì dùng từ “ điểm yếu”, lúc nào dùng “ yếu điểm”…
7
Vậy do đâu mà có tình trạng trên? Trước hết là do chính bản thân học sinh các cấp
lười học, lười đọc sách báo, thiếu ý thức rèn luyện ngôn ngữ tiếng Việt nên kiến thức và
khả năng vận dụng ngôn từ của các em còn yếu kém, mắc nhiều lỗi về chữ và nghĩa của
câu.
Có không ít học sinh khi kiểm tra đã quá ỷ lại vào sách hướng dẫn, sách học tốt mà
chép y nguyên đáp án, lời giải vào bài kiểm tra nên không phát huy được tính tích cực
của mình, khi tự viết một bài tập làm văn thì mắc mắc rất nhiều lỗi về chính tả, ngữ
pháp. Do không được rèn luyện nên ngày càng có nhiều học sinh, sinh viên mắc phải các
lỗi về chính tả, ngữ pháp. Một nguyên nhân nữa dẫn đến tình trạng này là do sự chủ
quan, lơ là việc rèn luyện kỹ năng viết chính tả của một số thầy, cô giáo khi không dành
thời gian để sửa lỗi chính tả, ngữ pháp cho học sinh, lúc chấm bài chỉ phê rất chung
chung như: Bài viết sơ sài, câu văn lủng củng,… nên khi học sinh xem bài thì không hề
biết mình mắc những lỗi gì cụ thể.
Bên cạnh đó, nhiều thầy cô giáo dạy các bộ môn toán, lý, hóa, sinh,… lại không bao
giờ quan tâm sửa lỗi chính tả, ngữ pháp cho học sinh vì cho rằng đây là trách nhiệm của
giáo viên dạy bộ môn văn. Thậm chí có thầy, cô giáo khi chấm bài cho học sinh còn vô
trách nhiệm đến mức chỉ nhìn bài dài hay ngắn, chữ đẹp hay chữ xấu mà phê điểm 8,
nhân của nó, xét về mặt khách quan lẫn chủ quan.
9
b. Lỗi viết tắt :
Lỗi viết tắt xuất hiện trong bài viết của học sinh thấp hơn nhiều so với lỗi viết hoa.
Tuy nhiên, trong việc rèn luyện chính tả cho học sinh, lỗi viết tắt cũng cần được lưu ý
đến.
Thông thường, lỗi viết tắt bao gồm hai kiểu lỗi nhỏ: viết tắt sai quy định chính tả và
viết tắt tùy tiện.
Viết tắt sai quy định chính tả :
Viết tắt sai quy định chính tả là viết tắt không theo đúng quy định chính tả về viết
tắt. Chẳng hạn như các em dùng mẫu chữ thường, dùng dấu chấm hay dấu gạch xéo giữa
các chữ cái viết tắt
Ví dụ : P/V, đ/c, T.P, H.Ð.N.D v.v
Lẽ ra, theo quy định chính tả, phải viết : PV, ÐC, TP, HÐND (phóng viên, đồng
chí, thành phố, hội đồng nhân dân).
Ví dụ : Trường P.T.T.H.B.Y (Trường trung học phổ thông Bảo Yên)
Viết tắt tùy tiện:
Viết tắt tùy tiện là dùng các kí hiệu viết tắt mang tính chất cá nhân vào bài viết
chính thức. Ðây là các kí hiệu bằng chữ viết Việt Nam hay chữ viết nước ngoài, được
chế biến lại, lẽ ra chỉ được dùng khi ghi chép, nhưng học sinh lại đưa vào bài kiểm tra,
bài thi, do đó trở thành lỗi chính tả.
Ví dụ : ( ta (người ta), ( vật (nhân vật), ( (nhấn), ( (nhận), ( (sau), ((trước), ( (trên),
( (dưới), ( (trong), of (của), on (trên), (những), (nhưng), fê fán (phê phán), ffáp
(phương pháp), tình thg (tình thương), fg tiện (phương tiện), ndung (nội dung), t2 (tư
tưởng), hthức (hình thức), chnghĩa (chủ nghĩa), chthắng (chiến thắng), xlc (xâm lược)
10
v.v
Hiện tượng viết tắt tùy tiện rất dễ khắc phục nếu như học sinh có ý thức tránh loại
lỗi chính tả này khi làm bài thi, kiểm tra.
c. Lỗi dùng số và chữ biểu thị số:
Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính:
Âm vị siêu đoạn tính là loại âm vị không được định vị trên tuyến thời gian khi phát
âm, mà được thể hiện lồng vào các âm vị đoạn tính. Trong âm tiết tiếng Việt, thanh điệu
là âm vị siêu đoạn tính. Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi sai
thanh điệu của âm tiết.
Tiếng Việt có tất cả sáu thanh điệu, được ghi bằng năm dấu thanh: sắc, hỏi, ngã,
nặng, huyền và thanh không dấu. Hiện tượng ghi sai thanh điệu chỉ xảy ra ở hai thanh
hỏi, ngã. Trong bài viết của học sinh lớp 11A4 mà người viết đã khảo sát, kiểu lỗi sai
này xuất hiện khá nhiều. Hầu như bài nào cũng có lỗi hỏi, ngã. Thậm chí, chép đề cũng
sai hỏi, ngã. Dưới đây là những từ sai hỏi, ngã của học sinh lớp 11A4:
Gố, rế, mớ, đá làm… Đúng ra phải là: Gỗ, rễ, mỡ, đã làm…
Nguyễn Trãi thì các em viết Nguyễn Trá
Lỗi chính tả âm vị đoạn tính :
Âm vị đoạn tính là các âm vị được phân bố nối tiếp nhau trên tuyến thời gian khi
12
phát âm. Trong âm tiết tiếng Việt, âm vị đoạn tính gồm có phụ âm đầu, âm đệm, âm
chính và âm cuối / bán âm cuối. Lỗi chính tả âm vị đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi
sai các âm vị vừa nêu. Cụ thể là :
Ghi sai phụ âm đầu :
Hiện tượng ghi sai phụ âm đầu trong bài viết của học sinh thường thể hiện ở sự lẫn
lộn các chữ cái hay các tổ hợp chữ cái ghi phụ âm đầu sau đây :
- ch / tr : chung thành, trà đạp, chống chả, từng chải, chăng chối, chủ chương,
chông đợi, chầy chật, xáo chộn
- s / x : sương máu, xum họp, sâu sa, đi xứ, đổi sử xúc vật, xúc tích, xi mê, sống
xót, xỉ nhục, bổ xung
- gi / d : thúc dục, dan dối, dành lại, giả man, để giành, dèm pha, che dấu, dòn dã,
gia chạm, vấn thân, bởi gì.
- g (gh) / r : ranh tị, hàn rắn , gàn buộc, đói ghét, gắn gỏi
- h /q : huênh quang, quang vắng , quyển quặc, quyền bí, quà quyện, quyên
náo
- o /u : báo vật, cao có, lao lách, láo lỉnh, mếu máu, trao chuốt, trao dồi v.v
- i /y : ái nái, đai nghiến, đài đọa, lai động, mai mắn, mỉa may, phơi bài, tai chân,
14
sai mê, van lại
Giữa bốn kiểu lỗi chính tả âm vị đoạn tính, trong bài viết của học sinh, hiện tượng
ghi sai âm cuối xuất hiện nhiều hơn. Kế đến là ghi sai âm chính và ghi sai phụ âm đầu.
Lỗi ghi sai âm đệm xuất hiện ít nhất.
2.2.Lỗi diễn đạt:
a. Lỗi dùng từ:
Lỗi dùng từ sai phong cách: Thông thường hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai
loại chính: hoàn cảnh giao tiếp theo nghi thức và hoàn cảnh giao tiếp không theo nghi
thức. Hoàn cảnh giao tíêp theo nghi thức đòi hỏi ngôn ngữ được gọt giũa. Nhưng nhiều
khi học sinh trong bài viết của mình thường sử dụng khẩu ngữ:
Hàn Mặc Tử bị hủi về thể xác nhưng tâm hồn nhất quyết không bị hủi cho.
Đúng ra học sinh phải viết là:
Hàn Mặc Tử bị đau đớn về thể xác nhưng tâm hồn ông vẫn tràn ngập cảm
hứng sáng tạo.
Lỗi về nghĩa của từ: Mỗi từ được dùng phải đúng nghĩa. Nhiều học sinh dùng từ
sai nghĩa:
Trong bài văn tả về mẹ, một học sinh viết:
Mẹ em vất vả lang thang, lảng vảng ở chợ để bán hàng nuôi hai chị em ăn học.
Trong trường hợp này, học sinh đã sai khi dùng từ “ lang thang’, “ lảng vảng”.
Khi phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của nhà văn
Nguyễn Tuân một học sinh viết:
15
Huấn Cao đã đồng hóa viên quản ngục.
Lỗi lặp từ: Trong một câu văn học sinh có thể dùng một từ đến hai ba lần:
Khi phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, một học sinh viết:
Nhà thơ Xuân Diệu là một nhà thơ lớn. Xuân Diệu có nhiều bài thơ trong đó có bài
thơ Vội vàng.
vẫn thấy được nhân cách cao đẹp của viên quan coi ngục đối với tử tù Huấn Cao là một
trong những phạm của xã hội. Nhưng viên quản ngục vẫn kính trọng Huấn Cao bởi tài
năng của người này đã làm viên quản ngục không còn sợ chết mà tới vái người tù một
vái để xin chữ của ông về treo trên nhà dù bị Huấn Cao coi thường. Và viết điều đó là sẽ
liên lựa đến mình nếu bọn thực dân biết thì sẽ bị giết. Nhưng viên quản ngục cũng không
thể làm trái mệnh lệnh và phải thi hành.”
Ở đoạn văn trên, người viết chưa biết cách dựng đoạn văn. Các câu văn còn lan man
dài dòng, không tập trung vào chủ đề chính
Khi viết về khổ hai trong bài Đây thôn Vĩ Giạ, một học sinh đã xây dựng đoạn văn
17
như sau:
“Mở đầu đoạn thơ, Hàn Mặc Tử đã sử dụng nghệ thuật lặp từ gió và từ mây. Gió và
mây là hai thứ mà theo người ta cảm nhận là có ở trong không gian. Gió mây lúc nào
cũng song hành, gắn kết với nhau. Nhưng trong thơ Hàn Mặc Tử, gió mây lại gợi sự chia
xa, ngăn cách, gió thì đi lối gió mây theo đường mây.Câu thơ gợi sự chia cách, li xa bởi
dấu phẩy ở giữa gió và mây, gió và mây không còn có điểm gặp nhau. Câu thơ ở dòng
thứ hai gợi nỗi buồn man mác. Từ buồn hiện thực của nó đã rất buồn, ở đây tác giả sử
dụng buồn thiu, hoa bắp vì thế mà cũng bị lay.
Hai đoạn văn trên điển hình cho những lỗi mà học sinh mắc phải từ dùng từ đến viết
câu, dựng đoạn.
d. Lỗi bố cục bài văn:
Điều đáng buồn là còn một bộ phận học sinh không biết xác định, xây dựng bố cục
một bài văn. Điều này tập trung nhiều hơn ở học sinh khối lớp 10. Tuy nhiên, học sinh
lớp 11 cũng có những em không biết phải viết một bài văn như thế nào. Hạn chế này
được thể hiện rất rõ khi các em làm bài thi học kì. Lớp 11A4 có một em học sinh lập dàn
ý thay cho bài viết văn, có ba em bài viết không đủ bố cục ba phần trong bài thi học kì I.
2.3. Lỗi sai kiến thức:
Trong bài thi học kì I năm học 2011- 2012 có học sinh viết:
“Vũ Trọng Phụng là nhà văn nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam.”
Đúng phải là “ văn học hiện đại trước 1945”.
Lỗi chính tả âm vị
đoạn tính
30/33
Lỗi dùng từ Lỗi dùng từ sai phong
cách
20/33
19
Lỗi diễn
đạt
Lỗi về nghĩa của từ 15/33
Lỗi lặp từ 18/33
Lỗi viết câu Nhầm trạng ngữ và
chủ ngữ
20/33
Lẫn lộn giữa vị ngữ và
thành phần phụ chú
22/33
Câu lan man dài dòng 24/33
Lỗi dựng đoạn 21/33
Lỗi bố cục bài
văn
3/33
Lỗi sai
kiến thức
2/33
3. Nguyên nhân:
Theo suy nghĩ và kinh nghiệm của một nhà giáo, tôi xin mạnh dạn nêu lên những
nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, ảnh hưởng Internet. Ngày nay đông đảo học sinh sử dụng Internet, ngoài
số ít biết khai thác, tận dụng để học tập thì phần lớn chỉ để chơi game và chat chít. Khi
21
những năm học cấp I, cấp II, học sinh đã học thuộc lòng bài văn mẫu, hiếm có giáo viên
nào có “con mắt xanh”, cho HS điểm cao vì bài viết “sáng tạo”. Lên đến cấp III, áp lực
thi tốt nghiệp lớp 12 càng đè nặng. Từ đầu năm học, các em đã được phát đề cương môn
Văn để học thuộc lòng như cháo, để chỉ cần viết đủ ý cũng đạt điểm trung bình.
Một nguyên nhân quan trọng nữa là ý thức học văn của học sinh chưa tốt. Nhiều
em lười học môn văn, khi viết bài thì không đầu tư thời gian. Các em viết theo kiểu
chống đối. Cá biệt có em cho bài về nhà cũng không làm. Khi viết thì kệ, chính tả muốn
sai thế nào cũng được. Viết bài không cần chấm câu, không chú ý dùng từ. phần lớn học
sinh thiếu kiên nhẫn luyện viết. Các em không coi trọng “chữ viết” bằng “chữ số”. Các
môn tự nhiên vẫn hấp dẫn các em hơn bởi “viết ít điểm nhiều” (lời của học sinh) và có
nhiều cơ hội lựa chọn ngành nghề thi vào đại học, cao đẳng.
Đối với học sinh lớp 11A4 trường THPT số 1 Bảo Yên còn một nguyên nhân nữa
là các em học sinh dân tộc thiểu số phát âm không chuẩn; phát âm như thế nào thì viết
như thế nên sai rất nhiều.
III. NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LỖI VIẾT VĂN CHO HỌC SINH:
Việc rèn kĩ năng cho học sinh là một vấn đề nan giải đã làm đau đầu nhiều thầy cô
giáo và cán bộ quản lí giáo dục. Đã có rất nhiều Hội thảo được tổ chức đề nhằm nâng
cao trình độ làm văn của học sinh. Sau đây người viết bài này xin đưa ra một số kinh
nghiệm mà mình đã áp dụng:
1. Cần bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu thích văn chương, thích môn Văn. Có
yêu thích thì các em mới học: Để học sinh yêu thích môn mình dạy, mỗi giáo viên có
những cách riêng: một trong những cách được nhiều giáo viên áp dụng là quan tâm đến
22
học sinh; đặc biệt chú ý đến những học sinh yếu nhưng cũng không nên tạo áp lực nhiều
quá khiến các em sợ. Khen thưởng kịp thời khi học sinh học yếu có cố gắng. Khen
thưởng bằng nhiều hình thức: cho quà, cho điểm khuyến khích… Còn có giáo viên
hướng các em tới thế giới mà các tác phẩm văn chương đã tạo ra. Học sinh thường rất
thích thú khi giáo viên kể truyện hoặc bình những câu văn, câu thơ hay. Đặc biệt, giáo
viên phải hết sức nhiệt tình truyền đạt cho các em cái hay cái đẹp của văn chương.
khi các em trả lời bài và sửa trên bài kiểm tra, sau đó yêu cầu các em viết lại. Khi chấm
bài, giáo viên cần chỉ ra những lối viết câu mà học sinh mắc phải và yêu cầu học sinh
sửa. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh viết câu theo suy nghĩ ra giấy, sau đó sửa lại.
5. Rèn cách viết đoạn văn:
Giáo viên thường xuyên ra các bài tập nhỏ viết một đoạn văn về một vấn đề nhỏ
nào đó. Sau đó chấm và cho điểm. Việc này cần làm thường xuyên.
6. Rèn bố cục một bài văn:
Sau khi đã cung cấp kiến thức về bố cục bài văn cho học sinh, giáo viên cần kiểm
tra thường xuyên và yêu cầu các em thực hành. Đối với học sinh khối 10, giáo viên
trường THPT số 1 Bảo Yên yêu cầu các em phải viết đúng: mở bài, các ý phần thân bài
và kết bài. Còn học sinh lớp 11A4, giáo viên yêu cầu khi viết bài các em cần triển khai
24
đủ ba phần. Khi viết đặc biệt giáo viên để ý cách mở bài, việc triển khai ý phần thân bài
và phần kết bài.
7. Giáo viên phải giao bài thường xuyên cho học sinh và yêu cầu các em viết
bài nhiều. Khi học sinh viết xong, giáo viên cần chấm kĩ và sửa lỗi, chỉ ra những điểm
đã được và chưa được yêu cầu học sinh phát huy và khắc phục, tránh viết nhận xét
chung chung. Giáo viên cần dành thời gian và tâm huyết cho việc này.
8. Học sinh cũng có thể học cách dùng từ, viết câu, dựng đoạn của các nhà văn
mà các em được học.
Sau khi tiến hành rất nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bài làm của học
sinh lớp 11A4, người viết đã tiến hành khảo sát lần hai.
Kết quả khảo sát lần thứ hai:
Kết quả này được thống kê dựa trên bài viết số 5 của học sinh lớp 11A4.
Sĩ số lớp thời điểm này là 33 học sinh, trong đó có 24 học sinh người dân tộc thiểu
số:
Lỗi học sinh mắc phải Số học sinh mắc lỗi
Lỗi chính
tả
Lỗi viết hoa Viết hoa sai quy định