LỜI NÓI ĐẦU
Ø Cơ sở hình thành đề tài:
Trong cuộc sống xã hội nhu cầu sinh hoạt ngày càng thoải mái cũng như
mong muốn được thưởng thức, tiếp thu của giới trẻ những cái mới mẻ và hiện đại
trong địa bàn tỉnh Tây Ninh nói chung, cũng như huyện Gò Dầu (thuộc tỉnh Tây Ninh)
nói riêng thì vấn đề du nhập một hoạt động mới dành cho giới trẻ (chiếm khoảng 60%
dân số của toàn Huyện) vừa là vấn đề đáng được quan tâm, đồng thời lại là thị trường
đầu tư tương đối dễ dàng cho việc phát triển hoạt động kinh doanh mới nhắm vào thị
trường là các khách hàng trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh trong xã hội phát
triển ngày nay.
Bên cạnh nhu cầu thiết yếu như trên của giới trẻ, ý tưởng hình thành hệ thống
trà sữa LU-AS ra đời, nhằm mang lại cho giới trẻ bản địa những cái nhìn mới mẻ về
phong cách phục vụ, không gian đẹp mắt, những món ăn mới lạ mang phong cách hiện
đại, trẻ trung và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Mặc dù trà sữa không phải là thức uống mới lạ trong thực đơn ăn uống của
giới trẻ ngày nay, nhưng hệ thống trà sữa LU-AS mang lại cho khách hàng không chỉ
đơn thuần là trà sữa, thức ăn nhanh mà còn là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác như
cảnh quan và cung cách phục vụ sẽ làm cho giới trẻ cảm thấy hài lòng và thích thú hơn
với những gì mình có được mà có thể trước đó chỉ có thề thấy được thông qua các
phương tiện truyền thông cũng như ở các thành phố hiện đại.
Ø Phạm vi nghiên cứu:
Bài báo cáo tập trung vào nghiên cứu thị trường giải trí và nhu cầu ăn uống
của giới trẻ ban đầu là khu vực Thị Trấn Gò Dầu và trong thời gian sắp tới sẽ mở rộng
thị trường sang các huyện lân cận, đồng thời sẽ cải thiện chất lượng sản phẩm cũng
như dịch vụ trong hệ thống cửa hàng trà sữa sau thời gian hoạt động ban đầu để có
được những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất. Việc phát triển hệ thống trà sữa trong khu
vực thị trấn Gò Dầu dựa vào các yếu tố tương đối khả thi vì Gò Dầu là khu vực đang
1
phát triển về kinh tế, đồng thời việc du nhập các hình thức giải trí hiện đại vào khu vực
tương đối dễ dàng vì nơi đây có một lượng lớn học sinh cấp 2-3 và tầng lớp thanh niên
trẻ. Bên cạnh đó, ngay vùng lân cận là Huyện Trảng Bàng với hàng chục khu công
thống.
Tài liệu nghiên cứu chính của đề tài là các dữ liệu thu thập được thông qua
báo chí, mạng internet, và quan trọng nhất là qua quá trình khảo sát nhu cầu của giới
trẻ trong địa bàn thực hiện đề tài (học sinh, công nhân trong khu vực và vùng lân cận).
Ø Ý nghĩa đề tài:
Đề tài là quá trình từ đầu khi xây dựng hệ thống bán hàng – thức ăn nhanh
dành cho giới trẻ nói chung và cho cộng đồng nói riêng, không chỉ dành cho hệ thống
trà sữa LU-AS mà hệ thống sẽ còn áp dụng tốt cho nhiều ngành kinh doanh trong đó
có thể nói tới là hệ thống thức ăn nhanh cho học sinh vào buổi sáng, hệ thống cà phê
mang, những hệ thống này có thể đã đạt được những thành công nhất định trong khu
vực phát triển như Tp Hồ Chính Minh, Hà Nội hay một số khu vực phát triển sầm uất
khác, nhưng để phát triển được ở những địa bàn tiềm năng nhưng chưa có một hệ
thống dẫn đầu còn là một thử thách cho nhiều doanh nghiệp trong thời gian sắp tới.
Những vấn đề cần giải đáp xung quanh vấn đề nghiên cứu đề tài:
- Những thách thức và cơ hội sẽ gặp phải trong việc triển khai hệ thống trà
sữa LU-AS trên địa bàn Gò Dầu và khu vực lân cận?
- Rủi ro lớn nhất khi thực hiện hệ thống và cách thức giảm rủi ro?
3
- Điềm khác biệt chính làm nên thương hiệu của LU-AS là gì để có thể gây
ấn tượng và giữ chân khách hàng?
- Những đề xuất ban đầu để có thể tiếp cận được khách hàng mà không làm
mất lòng từ cái nhìn đầu tiên?
Ø Kết cấu chính của đề tài:
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
1.1 Kế hoạch kinh doanh.
1.1.1 Giới thiệu về hệ thống trà sữa LU-AS.
1.1.2 Cơ hội kinh doanh.
1.1.3 Nhu cầu người tiêu dùng.
1.1.4 Mô tả sản phấm.
1.1.5 Lợi thế cạnh tranh.
5
3.1.3.3 Bảng cân đồi kế toán.
CHƯƠNG IV: KẾ HOẠCH NHÂN SỰ
4.1 Mô tả tình hình nhân sự.
4.2 Xác định nhu cầu nhân sự.
4.3 Xác định cơ cấu tổ chức.
4.4 Đội ngũ cán bộ quản lý.
CHƯƠNG V: DỰ PHÒNG RỦI RO
5.1 Các rủi ro có thể gặp.
5.1.1 Rủi ro hiện tại.
5.1.2 Rủi ro về sau.
5.1.3 Đối thủ cạnh tranh.
5.2 Hướng giải quyết các rủi ro.
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
1.1 Kế hoạch kinh doanh:
1.1.1 Giới thiệu về hệ thống trà sữa LU-AS:
6
Hệ thống trà sữa LU-AS dựa trên mô hình kinh doanh của các hệ thống trà
sữa và thức ăn nhanh đang hoạt động thành công trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh, có thể
thấy được qua hệ thống trà sữa Feeling tea, trà sữa TOMBO, trà sữa Hoa Hướng
Dương. Trà sữa -18 độ, ngoài ra còn rất nhiều hệ thống khác đang hoạt động khá thành
công khác. Qua những hệ thống này, có thể nhìn thấy một điểm chung là hoạt động
thành công ở các hệ thống, bên cạnh thương hiệu có được, có thể thấy được phong
cách phục vụ chuyên nghiệp và không gian phục vụ sáng tạo, mỗi thương hiệu mang
một nét riêng làm cho khách hàng khi tới đây sẽ có những ấn tượng riêng.
Loại hình kinh doanh của hệ thống trà sữa LU-AS cũng đi theo mô hình là
hoạt động theo hệ thống, và việc xây dựng thương hiệu để dễ dàng tiếp cận với khách
hàng tiềm năng này nhưng chưa có nhà đầu tư thích hợp để đầu tư vào thị trường ăn
uống mới lạ này. Mới lạ là vì khu vực kinh doanh hệ thống trà sữa LU-AS hiện nay
vẫn có khá ít đối thủ cạnh tranh, và quy mô cạnh tranh của những quán trà sữa khác
vực huyện là khả thi và có yếu tố thành công cao.
1.1.3 Nhu cầu người tiêu dùng:
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường đang phát triển cùng với mức sống của
người tiêu dùng ngày càng nâng cao, nên nhu cầu cần có một không gian thư giãn để
giải tỏa căng thẳng, đồng thời trong xã hội, do vậy nhu cầu của tầng lớp trẻ cũng được
nâng cao, đặc biệt là giới học sinh và thanh thiếu niên. Trước đây, các hoạt động vui
chơi giải trí cho những học sinh thanh niên này thường tập trung vào các buổi hội chợ,
các quán cà phê, những tụ điềm ăn uống trong công việc hoặc những nơi tự phát chưa
8
có tính chuyên nghiệp và đảm bảo an toàn vệ sinh. Cùng với nhịp sống càng phát triển,
các bạn trẻ cần một không gian mới mẻ hơn, hiện đại hơn, và sang trọng hơn để phù
hợp với mức sống tăng cao của xã hội.
Theo kết quả khảo sát của bài báo cáo, thông qua hơn 500 học sinh của trường
cấp 2-3 ở huyện Gò Dầu, thì tỉ lệ thích thú với hệ thống trà sữa LU-AS là 95%, một
con số không hề nhỏ, và khi được hỏi:” nhu cầu để đến hệ thống trà sữa của các bạn là
gì”, thì đa số câu trả lời là:” đến quán để đọc sách, học nhóm, tổ chức sinh nhật, là nơi
hẹn hò, và xem phim, nghe nhạc, đọc báo mạng,…”, với những đáp án trên, cho thấy,
nhu cầu của các bạn khi đến với hệ thống trà sữa là có mục đích rõ ràng, chính điều
này sẽ là nguồn động lực để hệ thống trà sữa LU-AS hoàn thiện về phong cách và đa
dạng về các loại thức uống cũng như phong cách phục vụ cho các bạn tuổi teen.
1.1.4 Mô tả sản phẩm:
Hệ thống trà sữa LU-AS lấy ý tưởng từ các hệ thống trà sữa và thức ăn nhanh
đang hoạt động thành công trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, các hệ thống này
ngoài việc phục vụ cho các bạn tuổi học trò mà còn phục vụ cho các thành viên trong
gia đình, tạo điều kiện trò chuyện và sự gắn bó của các thành viên trong gia đình với
nhau hơn.
Sản phẩm chính của trà sữa là các loại trà sữa. Trà trân châu hay trà sữa trân
châu là tên gọi của người Đài Loan cho một thức giải khát, chế biến từ lá chè trộn với
các hạt trân châu làm từ bột sắn. Đặc điểm của trà trân châu là khi bị lắc, một lớp bọt
nước mỏng được tạo thành trên bề mặt. Do đặc điểm này, trà bong bóng được dùng để
có độ dẻo và dai. Trà trân châu có thể pha chế thành trà trân châu thập cẩm, khi có cả
trân châu và thạch. Có nhiều loại thạch khác như thạch vải, thạch cà phê, thạch cầu
vồng và thạch trái cây hỗn hợp.
10
Nguyên liệu sữa trong pha chế pha trà trân châu, có thể dùng sữa không có
nguồn gốc từ động vật, thay vì sữa thường, khi đó trà có mùi vị khác biệt. Một trong
những lí do dùng loại sữa này là do chúng không gây kết tủa như sữa thường, hay giá
thành của sữa này rẻ hơn, tiện dụng hơn và có nhiều kem hơn sữa thường.
Cách pha chế trà trân châu là trà pha đường, sữa và thường có các hương liệu
khác. Trà uống nóng hoặc uống với nước đá. Trà được lắc kĩ, tạo ra các bong bóng
nhỏ, đó là điểm đặc trưng của thức uống này. Cách pha trà trân châu mỗi nơi mỗi khác.
Trà thường được pha bằng trà đen hoặc trà xanh nóng, rồi đem lắc trong hộp lắc
cocktail hoặc được trộn trong dụng cụ trộn với đá cho tới khi trà lạnh. Hỗn hợp này
thường được cho thêm sữa và hạt bột sắn nấu chín. Li trà đã hoàn thành có thể được
đậy bằng nắp nhựa hình vòm hay giấy bóng kính, người dùng có thể chọc thủng bằng
ống hút.
Hương liệu thêm vào trà trân châu có thể có dạng bột, nước trái cây, dạng bột
nhão hoặc sirô, các loại hương liệu như dâu, chanh dây, sô cô la và dừa.
1.1.5 Lợi thế cạnh tranh của hệ thống:
Văn hóa ăn uống của giới trẻ hiện nay cũng không còn quá xa, từ các quán
nước nhỏ chỉ vài món uống quen thuộc trên vỉa hè hay được bán rong trên đường, đến
các quán tiệm có quy mô lớn với hàng trăm món ăn uống và phong cách phục vụ
chuyên nghiệp hơn rất nhiều lần. Mặc dù với số lượng quán giải khác trên địa bàn
huyện Gò Dầu là không nhỏ, nhưng hầu hết là các quán cà phê chỉ phục vụ cho các
bạn trai, hay những người đi làm cần không gian để nói chuyện, thảo luận vấn đề làm
ăn. Qua đó khi các bạn nữ vào trong các quán caffe này thì sẽ bị gia đình phàn nàn và
có ý không thích, nên nhu cầu để có những quán phục vụ cho giới trẻ, dành riêng cho
các bạn học sinh, sinh viên trong địa bàn huyện là nhu cầu cần thiết.
Bên cạnh những quán caffe này, trong huyện cũng có khá nhiều quán trà sữa
nhưng hầu hết đều giống như các quán nước mía ven đường, có bảng to để giới thiệu
tạo nghiệp vụ trước khi làm việc ở hệ thống, đảm bảo cho khách hàng về sự chu đáo,
nhiệt tình, và cảm giác gần gũi cho dù đó là khách hàng khó tính. Bên cạnh đó, không
gian đa dạng có thể thích hợp cho những cá nhân muốn ngồi thưởng thức một mình,
tới các nhóm lớn có thể tổ chức các buổi tiệc nhẹ như sinh nhật, họp nhóm,…
Bên cạnh sản phầm chính là trà sữa, hệ thống còn phục vụ thêm các món ăn
nhẹ cho thực khách có thể lựa chọn như: bò viên chiên, cá viên chiên, gỏi cuốn, trái
cây dĩa, sinh tố trái cây, các loại kem tuyết, … và nhiều món ăn khác, phục vụ cho nhu
cầu thực khách.
1.2 Tầm nhìn và sứ mệnh của doanh nghiệp:
Tầm nhìn của hệ thống đến năm 2015 sẽ mở rộng thị trường rộng khắp, không
chỉ trong khu vực huyện mà phát triển rộng khắp sang khu vực lân cận như Thị Xã Tây
Ninh, khu vực cửa khẩu Mộc Bài, khu công nghiệp Trảng Bàng, không chỉ phục vụ
trong lĩnh vực trà sữa mà còn phát triển sang các lĩnh vực khác như hệ thống cửa hàng
thức ăn nhanh, hệ thống phục vụ lưu động chuyên phục vụ các bạn học sinh từ bữa
sáng tới bữa trưa tận lớp học.
Hệ thống trà sữa LU-AS với tiêu chí mang đến cho khách hàng cung cách
phục vụ ân cần, hiện đại, mang đến những điều mới mẻ cho khách hàng. Đồng thời
đảm bảo sứ mệnh an toàn sức khỏe trong ăn uống cho những thượng đế trong lĩnh vực
ăn uống trong thời gian sắp tới.
1.3 Các yếu tố quyết định thành công:
Hiện tại các cửa hàng trà sữa trong khu vực huyện đang trong trạng thái làm
nhàm chán cho các thực khách khó tính. Nên hệ thống LU-AS ra đời đảm bảo được
nhu cầu và ham muốn có được một môi trường mới mẻ sẽ dễ dàng được giới trẻ chấp
nhận và để lại ấn tượng cho khách hàng. Mức độ độc quyền của hệ thống đang dẫn đầu
vì hiện tại số lượng trà sữa trong địa bàn là rất ít.
13
Sản phẩm đa dạng, phong phú, đảm bảo sẽ đáp ứng được nhu cầu của mọi nhu
cầu của thực khách dù cho nhu cầu của khách hàng có thay đổi như thế nào.
Không gian hiện đại, bắt mắt phù hợp với những người trẻ, đồng thời có thể
gây sự tò mò cho những thực khách dù chưa từng đi uống trà sữa.
2.1.3 Chiến lược marketting hỗn hợp:
2.1.3.1 Chiến lược về sản phẩm:
Theo khảo sát trên thị trường về nhu cầu thức uống trong các quán cà phê và
các quán ăn uống dành cho giới trẻ hiện nay trong khu vực huyện Gò Dầu đã có từ
trước đó, các sản phầm thuộc về thức uống như cà phê, nước ngọt có gas, sinh tố, các
loại nước ép hay trà sữa thường được bán cùng với nhau trong cửa hàng, chứ không
15
chuyên về sản phẩm nào hay tập trung vào một đối tượng khách hàng cụ thể nào, do
đó, các sản phẩm này chưa thể tạo sự khác biệt và chưa tạo dấu ấn trong lòng người
tiêu dùng trong thị trường đang bảo hòa về sản phẩm thức uống hiện nay. Do đó, hệ
thống cửa hàng trà sữa LU-AS ra đời đáp ứng được những khuyết điểm trên, sẽ tạo cho
khách hàng một cảm nhận mới về trà sữa cũng như cách thức phục vụ hiện đại khác
hẳn với những gì trước đó mà khách hàng cảm nhận được.
Những sản phẩm chính của hệ thống trà sữa LU-AS như chính tên gọi của nó
là chuyên kinh doanh về các sẩn phẩm liên quan tới trà sữa và các món ăn nhẹ (không
chi phối quá nhiều tới sản phầm chính của hệ thống, đồng thời tạo điểm nhấn cho sự
phong phú về sản phầm).
Với hơn 30 thức uống mang hương vị trà sữa và trên 10 loại thức ăn nhanh
được nghiên cứu kỹ về cách thức chế biến cũng như nguyên vật liệu tươi mới, đồng
thời không mất đi hương vị truyền thống của trà sữa đảm bảo sức hấp dẫn và thõa mãn
cho tất cả thực khách dù ở lứa tuổi nào đi nữa.
2.1.3.2 Chiến lược về thương hiệu: LU-AS
Thương hiệu hay tên gọi của sản phẩm mà doanh nghiệp tạo ra thường có ý
nghĩa rất lớn và có nhiều yếu tố để gây ấn tượng cho khách hàng và có thể nhớ đến khi
nghĩ tới một sản phẩm liên quan trong lĩnh vực tương tự. Cụ thể trong bài báo cáo này,
khi khách hàng nghĩ đến trà sữa hay một nơi giải trí, ăn uống thú vị thì khách hàng sẽ
nghĩ ngay đến LU-AS, đó là mục tiêu mà những người điều hành hệ thống đặt ra tiêu
chí để cố gắng đạt được trong thời gian từ 3 đến 5 năm sắp tới.
Với phương châm phục vụ cho các bạn tuổi thanh niên nên hệ thống cũng cần
có tên dễ gọi, dễ nhớ và ngắn gọn, nhằm gợi sự tò mò cho khách hàng.
giao hàng miễn phí trong khu vực huyện với số lượng trên 5 ly trà sữa, hệ thống đảm
bảo sẽ vận chuyện đến cho khách hàng trong thời gian nhanh nhất từ các cửa hàng gần
nhất cho khách hàng.
2.1.3.4 Chiến lược về giá:
Giá cả của từng loại sản phầm sẽ thay đổi tùy thuộc vào giá cả thị trường,
nhưng điều quan trọng trong vấn đề ra giá một sản phẩm là mức sống dựa trên bề mặt
chung của khách hàng trên chính khu vực đang triền khai hệ thống. Mức giá của khách
hàng khi uống tại quán sẽ có sự chênh lệch vài phần trăm đối với các sản phầm mua
mang về hoặc được giao hàng trực tiếp.
Để xác định mức giá cụ thể, trước tiên hệ thống sẽ cho các khách hàng tiềm
năng của hệ thống các mức giá để lựa chọn, nhằm phù hợp nhất với chính nhu cầu của
khách hàng, đồng thời hệ thống sẽ xem xét và đánh giá lại các mức giá đó, phân tích
và cuối cùng sẽ đưa ra mức giá phù hợp nhất cho mọi đối tượng khách hàng.
Qua quá trình khảo sát, mức giá phù hợp nhất cho hệ thống hoạt động trên địa
bàn huyện Gò Dầu và các vùng lân cận là từ 12.000 / ly đến 25.000 / ly, đây là mức giá
đạt sự đồng thuận cao nhất của số lượng lớn khách hàng trong quá trình thực hiện việc
khảo sát, phù hợp với túi tiền của các bạn học sinh và các bạn thanh thiếu niên trong
khu vực.
2.1.3.5 Chiến lược truyển thông:
Công tác truyền thông, quảng bá hình ảnh thương hiệu ở khu vực huyện Gò
Dầu và khu vực lân cận nhằm tạo hình ảnh quen thuộc, gần gửi hơn với khách hàng
trong thời gian hệ thống đi vào hoạt động.
Ø Các công cụ truyền thông:
- Bảng hiệu của hệ thống và các tờ rơi, tờ bướm về hệ thống trà sữa LU-AS.
18
- Băng rôn quảng cáo treo bên ngoài mỗi cửa hàng cua hệ thống.
- Nhân viên trong quán cũng có đồng phục rõ ràng để khi nhìn thấy thương
hiệu này sẽ nhắc nhớ cho khách hàng về hệ thống trà sữa LU-AS.
- Đăng ký xin dán các băng rôn tại các khu vực đông người qua lại như
trước các khu vui chơi giải trí, gần các khu công nghiệp, khu vực bến xe,
bạn nhỏ tại các trường tiểu học xung quanh đó. Các bạn nhỏ này cũng được đánh giá là
lượng khách hàng không thể bỏ qua được khi hệ thống đi vào hoạt động.
2.2 Nội dung kế hoạch marketting.
2.2.1 Phân tích thị trường marketting:
Phân khúc thị trường khách hàng:
Khách hàng 1: trên địa bàn huyện Gò Dầu và trong khu vực lân cận đặc thù là
nền kinh tế mở và đang phát triền mạnh, có nhiều trường học, các khu vui chơi giải trí.
Lứa tuổi phù hợp nhất cho hệ thống trà sữa khai thác là các em học sinh, nắm được
những sở thích của các em là cần có một môi trường mới mẻ, nơi đây là nơi cho các
bạn có thể học tập nhóm, là nơi giao lưu, học hỏi và giải trí của các bạn học sinh khi có
thời gian rãnh rỗi không phải tới lớp học. Khi đến với các cửa hàng của hệ thống, các
bạn học sinh sẽ cảm nhận được môi trường thoải mái và là nơi để các bậc phụ huynh
có thể tin tưởng và cảm thấy an tâm khi con em mình tới đây mà không phải lo lắng
như khi con em họ tới các quán cà phê hay các điểm vui chơi chưa được đầu tư đúng
với lứa tuổi và sở thích của lứa tuổi các bạn học sinh.
Khách hàng 2: nhóm khách hàng thứ 2 cần được hướng đến đó là tầng lớp lao
động với lứa tuổi từ 18 đến 30 tuổi, nhu cầu để có một không gian lạ, cung cách phục
20
vụ hiện đại mà trong khu vực hiện tại chưa có hoặc chưa được đầu tư quy mô như thế,
sẽ làm cho những thực khách này cảm thấy thú vị hơn khi đến với hệ thống này. Với
cuộc sống lao động, họ ít được tiếp xúc với phong cách mới lạ này nên chắc hẳn hệ
thống sẽ làm cho những khách hàng nhóm thứ 2 này cảm thấy hài lòng hơn với những
gì họ cảm nhận được khi đến với hệ thống.
Khách hàng 3: nhóm khách hàng thứ 3 cần được nhắc đến đó là những đôi bạn
trẻ đang yêu, họ có thể đến đây để cần một không gian lắng động và riêng tư để có thể
trò chuyện, chia sẻ buồn vui, hệ thống cũng sẽ có những thiết kế cho những nhu cầu
riêng tư này, hệ thống sẽ cho họ lựa chọn không gian riêng tư mà mình yêu thích dựa
vào khảo sát về sở thích và nhu cầu của các đôi bạn trẻ này khi đến với hệ thống. Thức
uống và không gian thưởng thức của nhóm khách hàng này cũng sẽ được thiết kế riêng
sao cho họ cảm thấy hài lòng nhất vế những gì họ có được khi đến với hệ thống.
quan chức năng tại địa phương, đồng thời đăng ký cam kết với cơ quan y tế về việc
doanh nghiệp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.2.3 Phân tích SWOT:
2.2.3.1 Điểm mạnh:
- Địa điểm kinh doanh có nhiều người qua lại, gần các khu trường học, khu
công nghiệp.
- Là nơi giao thông thuận lợi, giúp cho việc nhập các nguyên liệu hàng hóa
cho hệ thống được nhanh chóng, và các sản phẩm mới, cập nhật các sản
phẩm mới thường xuyên giúp cho hệ thống có nhiều điểm mới lạ hơn.
2.2.3.2 Điểm yếu:
22
- Hệ thống mới ra đời còn thiếu nhiều kỹ năng, kinh nghiệm quản lý hệ
thống.
- Thương hiệu chưa được biết đến, chưa thể cung cấp cho những khách
hàng ở xa hơn, chỉ có thể phục vụ trong phục vụ địa bàn huyện Gò Dầu.
- Khách hàng vẫn chưa quen việc đi đến hệ thống trà sữa mà vẫn còn thói
quen đi các quán cà phê hay các tiệm ăn uống ngoài đường.
- Do số vốn ban đầu còn hạn hẹp nên chưa thể mở rộng thị trường như
mong muốn là 10 cửa hàng trong hệ thống và rộng khắp trên khắp địa bàn
tỉnh Tây Ninh.
o Cách khắc phục:
Xây dựng chiến lược marketting hợp lý để quảng bá sản
phẩm và hệ thống rộng khắp.
Thu thập thông tin từ nhiều hướng, và học học thêm kinh
nghiệm từ các hệ thống lớn đã thành công trước đó.
Tìm hiểu nhu cầu khách hàng để đáp ứng đầy đủ nhu cầu của
khách hàng.
2.2.3.3 Cơ hội:
- Theo nghiên cứu của hội tiêu dùng thì thị trường tiêu dùng của khách hàng
nói chung đang nóng dần lên, qua đó có thể thấy được mức sống của người
phát triển hệ thống rộng khắp toàn tỉnh.
- Thương hiệu chưa được nhiều
người biết đến, cần thời gian phát triển.
24
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm.
- Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp.
- Sản phẩm luôn được nhập mới từ
nhà cung cấp.
- Trước khi đi vào hoạt động đã thu
thập nhiều ý kiến có giá trị từ khách hàng
mục tiêu.
- Chưa thể tiếp cận được với lượng
khách hàng lớn tuổi.
Cơ hội (O) Đe Dọa (T)
- Học sinh đang tiếp cận với một lối
sống mới, hiện đại hơn, cần môi trường
mới.
- Có nhiều khách hàng tiềm năng vì
có vị trí thuận lợi.
- Nguyên liệu luôn được nhập mới.
- Sản phẩm đa dạng dù ở mọi cách
dùng của khách hàng.
- Có khả năng mở rộng thị trường.
- Có nhiều đối thủ cạnh tranh, nếu hệ
thống hoạt động tốt.
- Thói quen có thể chưa được thiết
lập ở nhiều khách hàng.
- Các chiêu trò của các đối thủ cạnh
tranh.