SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG …………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THÔNG
QUA VIỆC XÂY DỰNG PHÒNG TƯ VẤN TÂM LÝ CHO HỌC SINH TRONG
TRƯỜNG THPT
Người viết: Họ và tên
Đơn vị công tác: Trường
TÓM TẮT
Ngày nay với sự phát triển của xã hội, nhu cầu tư vấn tâm lý đã trở thành nhu cầu cấp
thiết trong đời sống tinh thần của mỗi người, nhưng nhu cầu này ở học sinh THPT chưa
được nhà trường quan tâm và đáp ứng thoả đáng. Vì vậy, người nghiên cứu đã tiến hành
đề tài “NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH
THÔNG QUA VIỆC XÂY DỰNG PHÒNG TƯ VẤN TÂM LÝ CHO HỌC SINH
TRONG TRƯỜNG THPT"
Thời gian: tháng 10/2011 - 03/2012
Phương pháp: nghiên cứu tài liệu, phát phiếu điều tra, phỏng vấn, thống kê, xử lý
số liệu.
Kết quả thu được:
- Hầu hết học sinh trường THPT xxx được khảo sát đều có trạng thái tâm lý lo lắng
với các mức độ khác nhau.
- Những khó khăn ảnh hưởng tới tâm lý các em như: khó khăn về vấn đề học tập, về
các mối quan hệ, sức khỏe giới tính…
- Học sinh trường THPT xxx quan tâm nhiều tới các chuyên mục, chương trình tư
vấn trên các phương tiện thông tin nhưng thực tế tham gia dịch vụ tư vấn rất ít.
- Khi gặp vấn đề khó khăn đa số các em tự giải quyết theo cách riêng, âm thầm chịu
đựng hoặc tâm sự với bạn bè. Rất ít học sinh tâm sự, chia sẻ với cha mẹ và thầy cô
cũng như đến với dịch vụ tư vấn tâm lý.
- Thực tiễn công tác tư vấn tâm lý cho học sinh của trường còn yếu, về phía học sinh
các em có nhu cầu tư vấn đều mong muốn mở phòng tư vấn tâm lý tại trường.
Thông qua việc tìm hiểu nhu cầu về phòng tư vấn tâm lý học đường của học sinh
trường THPT xxx - – , căn cứ để có cơ sở xây dựng phòng tư vấn tâm lý cho học sinh
của trường xxx , góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của trường, đồng thời hỗ trợ
về mặt tinh thần cho học sinh, giúp các em giải tỏa các vấn đề tâm lý gặp phải trong cuộc
sống, trong học tập.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
1
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh các khối 10-11-12 của trường THPT xxx - xxx
– xxx .
- Đối tượng nghiên cứu: nhu cầu về xây dựng phòng tư vấn tâm lý của học sinh
trường THPT xxx - xxx – xxx .
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận:
● Khái quát một số vấn đề về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
● Nêu ra những khó khăn về tâm lý của học sinh lứa tuổi này.
● Nêu lên tầm quan trọng của tư vấn tâm lý cho học sinh THPT.
- Nghiên cứu thực trạng:
● Đặc điểm riêng của sự phát triển tâm sinh lý HS trường THPT xxx .
● Những khó khăn tâm lý gặp phải của HS trường THPT xxx trong học tập,
sinh hoạt.
● Xác định nhu cầu tư vấn tâm lý của học sinh trường THPT xxx - xxx –
xxx .
● Xác định nhu cầu xây dựng phòng tư vấn tâm lý của học sinh trong trường
THPT xxx - xxx – xxx
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu: tìm, chọn và nghiên cứu một số sách, báo, bài viết liên quan
đến tâm lý học sinh và tư vấn tâm lý học sinh.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp:5 học sinh của 5 lớp: 10B1, 10B7, 11C10,
11C11,12A8.
- Phiếu điều tra ý kiến học sinh: phiếu điều tra được tiến hành qua 2 giai đoạn:
Vũ Kim Thanh, 2001, “Tư vấn tâm lý - một nhu cầu xã hội cần được đáp ứng”,
tạp chí tâm lý học số 2.
Các nghiên cứu trên đã thúc đẩy một phần nào sự ra đời của các trung tâm tư vấn
tâm lý ở một số nơi nhưng hầu như chưa có tác giả nào tìm hiểu thực tế nhu cầu về xây
dựng phòng tư vấn tâm lý của học sinh trong trường THPT. Vì vậy người nghiên cứu
bước đầu tìm hiểu về vấn đề này.
1.2. Vai trò của tư vấn tâm lý
Trong bối cảnh hiện nay tư vấn tâm lý có vai trò quan trọng trong đời sống tinh
thần con người.
● Vai trò của tư vấn tâm lý trong xã hội:
- Công tác tư vấn nhằm vào mục tiêu giáo dục mang tính năng phát triển đời sống
lành mạnh, ngăn ngừa tệ nạn và điều trị những rối loạn do thiếu khung tư duy trưởng
thành, nên ngành này đã đóng một vai trò quan trọng tích cực với an toàn và phát triển xã
hội.
3
- Trong thực tiễn triển khai các chính sách, chương trình phát triển xã hội, tư vấn
tâm lý tỏ ra là một trong những kỹ năng quan trọng, giúp các cán bộ xã hội thực thi
nhiệm vụ của mình.
- Tư vấn tâm lý được sử dụng trong những trung tâm có chức năng lâm sàn và
chức năng giáo dục sức khỏe cộng đồng.
Theo Phạm Minh Hạc chủ tịch hội khoa học tâm lý - giáo dục Việt Nam: “Tư vấn
tâm lý - giáo dục ở nước ta có sứ mệnh vẻ vang là động viên mọi người và toàn xã hội,
tạo nên một vốn xã hội- vốn người tốt, cùng nhau đoàn kết, bảo đảm an sinh xã hội, ổn
định xã hội, góp phần tiếp tục đổi mới đất nước, tạo dựng nên một đất nước độc lập,
phồn vinh, mọi người được hưởng các quyền của con người, của mọi công dân” (trích
dẫn bởi Nguyễn Thơ Sinh, 2006).
● Đối với học sinh, người nghiên cứu thấy tư vấn tâm lý có 5 vai trò sau:
- Thứ nhất giúp các em hiểu rõ những quy luật phát triển về tâm lý, sinh lý cơ thể,
đặc biệt là sự phát triển đời sống tình cảm và sự trưởng thành nhân cách trong xã hội.
Trong hành trình trưởng thành của con người, đa số chúng ta ai cũng gặp những khó
khác phụ thuộc vào những điều kiện xã hội đó). Ngày nay hoạt động lao động và hoạt
động xã hội ngày càng phức tạp. Do đó mà có sự kéo dài của thời kỳ tuổi thanh niên và
tính không xác định của các giới hạn lứa tuổi.
Cũng theo Lê Văn Hồng (1998): “Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ đạt được sự
trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ
thể người lớn. Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý”.
Từ khái niệm trên, ta có thể rút ra những đặc điểm cơ thể của tuổi thanh niên như
sau:
Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại. Các em gái đạt được
sự tăng trưởng trung bình vào khoảng tuổi 16-17, các em trai vào khoảng 17-18.
Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong
của não phức tạp và các chức năng của não phát triển gần như cấu trúc tế bào não của
người lớn. Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng
hợp…của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập. Đa số các em đã vượt qua thời kỳ
phát dục. Nhìn chung thì đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khỏe và đẹp.
Hoạt động của thanh niên ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò xã hội và
hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến
đổi cả về chất lượng. Ở thanh niên ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và họ
thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và có tinh thần trách nhiệm cao (Bùi
Ngọc Oánh và ctv, 1996)
Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm, cha mẹ đã trao đổi
với các em một số vấn đề và các em cũng biết quan tâm đến nhiều mặt sinh hoạt trong
gia đình. 14 tuổi, các em bắt đầu gia nhập đoàn thanh niên cộng sản. Trong tổ chức đoàn
các em có thể tham gia công tác tập thể, công tác xã hội một cách độc lập hơn và có trách
5
nhiệm hơn. 18 tuổi có quyền bầu cử, có chứng minh thư, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ
lao động. Tất cả các em đều có suy nghĩ về việc chọn ngành nghề…
Theo Lê Văn Hồng (1998): thanh niên mới lớn có hình dáng người lớn, có những
nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn. Các em còn chịu sự quyết định về nội
dung và xu hướng chính trong hoạt động của mình bởi người lớn. Ở trường và ngoài xã
thống và toàn diện hơn. Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu
thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ. Song quan sát của thanh niên học
sinh cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên.
Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ của các em, đồng
thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một phát triển. Đặc biệt
các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ.
Do sự phát triển của các quá trình nhận thức và ảnh hưởng của hoạt động học tập
mà hoạt động tư duy của thanh niên học sinh có thay đổi quan trọng. Các em có khả năng
tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo. Tư duy của các em chặt chẽ
hơn, có căn cứ và nhất quán hơn. Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển.
Tuy nhiên số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên
hiện nay còn chưa nhiều.
Tóm lại ở tuổi thanh niên mới lớn những đặc điểm chung của con người về mặt trí
tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tục hoàn thiện (Lê Văn
Hồng, 1998).
1.3.3. Sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi.
1.3.3.1. Sự phát triển của tự ý thức
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của
thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh
niên (Lê Văn Hồng, 1998).
Sau đây là những đặc điểm cơ bản của quá trình:
● Ở tuổi thanh niên các em vẫn tiếp tục chú ý đến hình dạng bên ngoài của mình
như (hay soi gương, chú ý sửa tư thế, quần áo…). Hình ảnh về thân thể là một thành tố
quan trọng của sự tự ý thức ở thanh niên mới lớn.
● Sự hình thành tự ý thức ở lứa tuổi thanh niên là một quá trình lâu dài, trải qua
những mức độ khác nhau và diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi với tính chất đặc thù riêng. Thanh
niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình, vì vậy các em
quan tâm sâu sắc đến đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng của bản
thân.
● Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên là sự tự ý thức của họ
nhóm, có uy tính, có vị trí nhất định trong nhóm. Trong các lớp học dần dần xảy ra một
sự “phân cực” nhất định, xuất hiện những người được lòng nhất và những người ít được
lòng nhất. Những em có vị trí thấp (ít được lòng các bạn) thường băn khoăn và suy nghĩ
nhiều về nhân cách của mình (Bùi Văn Huệ, Vũ Dũng, 2003).
Ở giai đoạn này quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hẳn so với các mối quan hệ
với người khác. Điều này do lòng khao khát muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi
phối. Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt, quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần
dần cũng được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập.
8
Trong giao tiếp, thanh niên hướng vào bạn bè nhiều hơn là hướng vào cha mẹ.
Nhưng khi bàn đến những giá trị sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị
đạo đức thì ảnh hưởng của cha mẹ lại mạnh hơn.
Cũng theo Bùi Văn Huệ và Vũ Dũng (2003), sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự
phức tạp hóa hoạt động riêng của thanh niên học sinh khiến cho lượng nhóm quy chiếu
của các em tăng lên rõ rệt. Việc tham gia vào nhiều nhóm sẽ dẫn đến những sự khác nhau
nhất định và có thể có xung đột vào vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò
khác nhau ở các nhóm.
b. Đời sống tình cảm
Đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn rất phong phú và nhiều vẻ. Đặc điểm đó
được thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình thức
đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc và mặn nồng (Nguyễn Quang Uẩn,
2003).
Ở tuổi thanh niên mới lớn nhu cầu về tình bạn được tăng lên rõ rệt và mức độ
cũng sâu sắc hơn. Trong quan hệ với bạn các em cũng nhạy cảm hơn: không chỉ có khả
năng xúc cảm chân tình, mà còn phải có khả năng đáp ứng lại xúc cảm của người khác
(đồng cảm). Tình bạn của thanh niên mới lớn rất bền vững, và tồn tại rất lâu.
Tình bạn được các em coi là mối quan hệ quan trọng nhất của mình. Thanh niên
thường lý tưởng hóa tình bạn. Họ nghĩ về bạn thường giống với điều mình mong muốn ở
bạn hơn là thực tế. Sự quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít nhận thấy
những đặc điểm thực tế ở bạn.
Triệu chứng thể lý của stress bao gồm các chứng: nhức đầu, mất ngủ, căng thẳng, tức
ngực, đau nhức những bộ phận khác của cơ thể và mệt mỏi kinh niên. Cảm giác căng
thẳng đưa đến stress có thể tích lũy trong cơ thể và tự nó thường thể hiện qua những cơn
đau nhức khó chịu.
◘ Phản ứng tình cảm
Trong quan hệ giao tiếp, phản ứng tình cảm của người đang bị stress có thể biểu hiện
qua những triệu chứng: thiếu tự chủ, trầm cảm mãn tính, dễ cáu kỉnh, mất niềm vui ở
cuộc sống…
◘ Sai sót về tâm lý
Stress có thể gây ra những vấn đề tâm lý như: thiếu tập trung, khó quyết định, hay
nhầm lẫn và nhạy cảm một cách thái quá.
Sự thay đổi về kích thích tố và những phát triển diển ra khốc liệt ở tuổi thanh thiếu
niên có thể gây ra hầu hết những căng thẳng liên tục.
Cũng theo Charmaine Sauaders (2004) stress của tuổi thanh thiếu niên là do:
Chính bản chất của lứa tuổi thanh thiếu niên.
Đương đầu với những vấn đề thường ngày của gia đình.
Những thay đổi về sinh lý và áp lực xảy ra trong cuộc sống.
Phải hứng chịu những áp lực từ nhà trường, từ công việc và từ chính cá nhân.
10
Tiếng ồn, vấn đề tiền bạc, những yêu cầu của công việc…
Phát sinh những cảm xúc tính dục khi đối diện với người khác phái.
1.4.2. Những áp lực ở học sinh THPT
1.4.2.1. Áp lực từ gia đình
Mái ấm gia đình là nơi bình yên cho mỗi thành viên trong gia đình trở về sau một
ngày làm việc, học tập mệt mỏi. Nhưng đôi khi gia đình lại là nơi tạo áp lực cho các em,
bởi những nguyên nhân sau:
Cha mẹ lao vào kiếm tiền với hy vọng con mình sẽ đầy đủ vật chất, họ không có
thời gian để trò chuyện, quan tâm tới học hành của con cái. Họ lãng quên đi nhu cầu cần
chia sẻ, hướng dẫn từ người lớn của các em (Như Lịch, Thiên Long, 2007).
Có gia đình khó khăn kinh tế phải hạn chế chi tiêu, mẹ khó tính, bố nghiện rượu
quá trình trưởng thành khiến các em có những hành vi vô lý hoặc gây khó khăn cho
người khác nhưng nguyên nhân sâu xa của vấn đề là do xuất hiện bất mãn trong tâm lý
các em.
Khi còn nhỏ, cha mẹ xuất hiện như những thần tượng, đáng yêu và là những người
đem đến mọi sự, mặc dù có thể trong thực tế họ không như vậy. Đến khi trở thành một
thanh thiếu niên, các em đánh mất vầng hào quang này và nhìn thấy cha mẹ với tất cả
những bất toàn của họ.
◘ Ly dị (tr 56)
Đây là một vấn đề chưa xảy ra ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nhưng nếu trong gia
đình có tình trạng này, thì có thể gây ra những ảnh hưởng lâu dài đối với các em làm đảo
lộn nền tảng an toàn của gia đình và khó lường hết những tác hại đau lòng.
1.4.2.2. Áp lực từ nhà trường
Ở trường, hầu hết những stress của các em phát sinh từ 3 lĩnh vực: áp lực từ bạn
bè, những vấn đề về học tập và mâu thuẩn với thầy cô giáo (Charmaine Sauaders, 2004).
◘ Áp lực từ bạn bè
Các bạn trẻ hầu hết có tư tưởng cực đoan thậm chí muốn buông thả, chấp nhận trả
giá cao cho lối sống hoàn toàn tự do, không lệ thuộc vào bất cư điều gì. Có những em
khước từ những người bạn vì lối ăn mặc của họ hoặc học hành quá chăm chỉ hoặc có lối
sống quá tĩnh lặng hoặc tỏ ra quá tôn trọng người khác và đôi khi không vì lý do rõ rệt
nào cả. Các em thường lo lắng về vị trí của mình trong nhóm. Nhiều em có ý định hoặc
nghĩ đến việc tự vẫn, thậm chí còn đưa ra tình trạng bị khước từ và cảm giác cô độc như
là nguyên nhân cho hành động của mình. Các em thường lý tưởng hóa tình bạn, có sự
quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít thấy những đặt điểm thực tế ở bạn
nên rất dễ bị “vỡ mộng”.
Áp lực từ bạn bè là sự ảnh hưởng của những người đồng trang lứa trực tiếp tác
động lên nhau theo thời gian. Bạn bè thường có khuynh hướng hay đưa ra nhận xét về tất
cả những điều mà các em làm và sự tán thành của họ rất quan trọng. Đối với nhiều thanh
thiếu niên, điều nguy hiểm là các em rất nhạy cảm và quá bận tâm đến sự tán thành hay
12
chê bai của bạn bè. Các em liên tục muốn thử sức mình và có thể bị bạn bè xấu khiêu
các em còn phải đối diện với thực tế phức tạp hơn nhiều, đó là sự canh tranh gay gắt về
công ăn việc làm, những trở ngại lớn lao, cụ thể là nạn thất nghiệp tràn lan, tất cả những
điều này đòi hỏi các bạn trẻ luôn phải phấn đấu vượt qua.
13
1.4.2.3 Áp lực từ vấn đề sức khỏe giới tính
Lứa tuổi thanh thiếu niên dễ bị stress vì các bạn đang sống trong cảm giác mờ ảo
của những cảm xúc lẫn lộn và đầy ảo giác về sự phát triển tâm sinh lý bản thân: mặc cảm
về hình thức, lo lắng băn khoăn về những biểu hiện của cơ thể, về mối quan hệ với bạn
khác giới. Các em thường rất dễ bị lúng túng, đôi khi là sự bế tắc, sự sai lầm trong cách
giải quyết vấn đề, trong cách xử lý các tình huống “gay cấn”.
Bậc phụ huynh vẫn thường hay nói với các thanh thiếu niên rằng họ không còn là
đứa trẻ thơ nữa và nên hành động một cách có trách nhiệm, nhưng mặt khác, những tiêu
chuẩn về cách cư xử mà người lớn đặt ra cho các em lại có nhiều giới hạn, khiến các bạn
thấy bối rối không ít, đặc biệt nhất trong lĩnh vực tính dục (Lê Văn Hồng và ctv, 1998).
Xong ở các em đã có sự quan tâm nhiều đến những vấn đề tình dục, về sinh sản,
về tình yêu nhưng rất ít hiểu biết. Nên việc tìm đọc, xem tranh ảnh về nội dung giới tính
là một nhu cầu tất yếu. Điều này không có gì sai trái nhưng với luồng thông tin đa dạng
đó, có cả tốt lẫn xấu nếu không có sự hướng dẫn, kiểm soát của bậc phụ huynh thì các em
khó mà chọn lọc, biết cái gì nên hay không nên, dễ rơi vào thế bị động và hoang mang.
14
Chương 2: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ THẢO LUẬN
2.1. Khó khăn tâm lý của học sinh trường THPT xxx
2.1.1.Tâm lý hiện tại của học sinh trường THPT xxx
Bảng 2.1: Tâm lý hiện tại của học sinh trường THPT xxx
Từ bảng 2.1: có 6% số học sinh được khảo sát là có trạng thái tâm lý “hài lòng và
hoàn toàn yên tâm” với cuộc sống của mình, con số này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Số còn lại tới 94% có tâm trạng lo lắng ở các mức độ khác nhau, trong đó 5,2%
“thường xuyên lo lắng”. Những em này có nguy cơ cao dẫn tới sự lo âu và rối nhiễu tâm
lý, cần được sự hỗ trợ kịp thời và đúng lúc từ phía gia đình, nhà trường và 2% “ ý kiến
khác”: “các em chẳng hài lòng mà cũng chẳng lo lắng”. Cũng từ số liệu trên cho thấy
Bảng 2.2 Các khía cạnh thể hiện khó khăn lý tâm của HS trường THPT xxx
Nội
dung
Mức độ Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng
% M % M % M % M
Quan hệ
gia đình
Rất khó khăn
30 2,1 37,5 2,25 12,5 1,65 26,8 2
Hơi khó khăn
53 50 40 48
Không khó
khăn
17 12,5 47,5 25,2
Quan hệ
bạn bè
Rất khó khăn
57,8 2,35 37,5 1,94 8,75 1,4 35,6
1,9
Hơi khó khăn
20 43,75 22,5 20,4
Không khó
khăn
22,2 23,75 68,75 44
Quan hệ
thầy trò
Rất khó khăn
67,8 2,53 23,75 1,78 16,25 1,66 37,2
2
Hơi khó khăn
áp lực lớn ảnh hưởng tới tâm lý các em. Như lịch học dày đặc, chương trình học quá
nặng, có quá nhiều bài tập, bài kiểm tra, yêu cầu của giáo viên đặt ra cao, giảng bài khó
hiểu… Làm các em “căng ra” không có thời gian giải trí, mà chỉ học và học.
Trong mối quan hệ với gia đình cũng là một khía cạnh gây khó khăn tâm lý cho
các em chiếm tỷ lệ 74,8%, M=2. Các em lo lắng vì bố mẹ không hiểu mình, hay áp đặt,
không tin tưởng các em không khí gia đình căng thẳng. Qua đây phụ huynh nên quan
tâm học tập của các em trước khi đưa ra yêu cầu của mình. Làm được điều này sẽ tránh
được tình trạng các em không đủ sức khỏe và năng lực hoàn thành kỳ vọng của cha mẹ
nhưng vẫn cố sức dẫn đến suy kiệt tinh thần và thể chất.
16
66% các em gặp khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè: các em cảm thấy xấu hổ
với nhận xét của các bạn về khiếm khuyết trên cơ thể mình, bị khước từ khó hòa nhập
vào tập thể, hoặc vị trí của mình trong nhóm không cao. Đặc biệt trong mối quan hệ này
sự xuất hiện của tình cảm khác giới cũng đang là thắc mắc của các em.
64 % các em gặp khó khăn trong mối quan hệ với thầy cô. Giáo viên không công
bằng hay la mắng, giảng bài khó hiểu, cho bài tập nhiều và khó… là những nguyên nhân
gây khó khăn cho các em.
Khó khăn về sức khỏe giới tính chiếm tỷ lệ ít nhất trong các nội dung trên. Với
46% các em không gặp khó khăn, điều này cũng dễ hiểu vì ngày nay trên các phương tiện
thông tin đại chúng đề cập vấn đề này khá nhiều. Nhưng không gặp khó khăn không hẳn
là các em có kiến thức căn bản về nội dung này, bên cạnh đó có tới 54% các em gặp khó
khăn. Sức khỏe giới tính ở tuổi này là một vấn đề được coi là tế nhị, khó nói, khó chia sẻ.
Vì vậy cần có sự tư vấn để các em hiểu và giữ gìn sức khỏe tốt, tâm hồn trong sáng.
Như vậy, học sinh trường THPT xxx đang gặp khá nhiều khó khăn trong giao tiếp
và hoạt động của mình. Gia đình, nhà trường và xã hội nên có phương pháp giáo dục,
giúp đỡ thích hợp giúp các em vượt qua những khó khăn trong này.
2.1.3. Quan điểm của học sinh trường THPT xxx khi chọn nghề nghiệp cho tương
lai
Bảng 2.3: Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS trường THPT xxx
Xu hướng chọn nghề Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng
Rất ảnh hưởng 75,2 73,2 52,3 66,9
Ít ảnh hưởng 19,3 22,9 45,9 29,4
Không ảnh hưởng 5,5 3,9 1,8 3,7
Qua bảng 2.4 ta thấy ảnh hưởng của khó khăn tâm lý đến đời sống và học tập của
học sinh trường THPT xxx là rất lớn. 96,3% các em cho rằng khó khăn tâm lý ảnh
hưởng đến đời sống của mình, trong đó 66,9% là “ rất ảnh hưởng” chỉ có rất ít các em
cho rằng vấn đề đó “ không ảnh hưởng” (3,7%). Vấn đề trợ giúp các em học sinh giải
thoát những khó khăn có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của các em.
So sánh giữa các khối lớp, có sự khác biệt đáng kể về mức độ ảnh hưởng đối với học
sinh khối 12 và hai khối còn lại. 52,3% “rất ảnh hưởng” ở khối 12 và 73,2% (khối 11),
75,2% (khối 10). Vậy tính độc lập và chủ động của HS khối 12 có phần phát triển hơn so
với khối 10 và 11.
2.1.5 Cách thức giải quyết những khó khăn tâm lý của học sinh trường THPT xxx
Bảng 2.5 Cách thức giải quyết khó khăn của HS
Các cách giải quyết
Khối
10
Khối
11
Khối
12
Tổng
% % % % Thứ bậc
Âm thầm chịu đựng
49 46,25 47,5 47,6 1
Tự giải quyết theo cách riêng
24,5 25 23,75 24,4 4
Tìm hiểu qua các phương tiện thông tin
25,5 32,5 28,75 28,9 3
Tự an ủi, làm gì đó, viết nhật ký
Tuy nhiên với cách giải quyết này là điều đáng ngại ở tuổi các em, vì trong nhiều
trường hợp các em mất bình tĩnh, nông nỗi sẽ dẫn tới những hậu quả đáng tiếc.
Qua kết quả cho thấy các em có xu hướng tự giải quyết vấn đề của mình nhiều
hơn là tâm sự với cha mẹ và thầy cô. Họ luôn là người gắn bó, gần gũi và tiếp xúc với
các em khá nhiều trong cuộc sống hằng ngày, vậy mà khi khó khăn các em lại không tâm
sự, chia sẻ với người lớn. Đây là vấn đề lớn mà bậc phụ huynh và giáo viên nên xem xét
lại. Cuối cùng cách giải quyết chiếm tỷ lệ thấp nhất: nhờ trung tâm tư vấn 4%. Tại sao
cách giải quyết này chiếm tỷ lệ thấp vậy? Phải chăng dịch vụ tư vấn tâm lý trong xã hội
hiện nay chưa phù hợp đặc điểm tâm lý các em, còn nhiều rào cản khiến các em không
đến với dịch vụ này
19
Với các cách thức giải quyết khó khăn và sự lý giải của các em, càng làm rõ tính
chất của lứa tuổi “tồn tại giữa trẻ em và người lớn”. Do đó sự phối hợp giáo dục giữa gia
đình - nhà trường - xã hội sẽ giúp các em đi đúng hướng, phát triển nhân cách hoàn thiện
hơn.
2.2 Mức độ tiếp cận của học sinh trường THPT xxx với dịch vụ tư vấn tâm lý trong
xã hội
2.2.1 Sự hiểu biết của HS trường THPT xxx về các chuyên mục tư vấn tâm lý
Bảng 2.6: Sự hiểu biết của HS trường THPT xxx về các chuyên mục tư vấn
Nội dung Mức độ Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng
% M % M % M % M
Tình yêu,
hôn nhân,
gia đình
Hiểu rõ 22,2 2 37,5 2,2 56,25 2,5 38
2,3
Biết mơ hồ 64,4 48,75 35 50
Không biết 13,4 13,75 8,75 12
Học tập Hiểu rõ 32,2 2,1 42,5 2,3 50 2,5 41,2
2,3
cũng được ưu tiên nhiều nhất. Xuất phát từ những yêu cầu khách quan của học tập đòi
hỏi các em phải tu bổ kiến thức về nội dung này.
Tiếp theo là 86,5% HS biết về mục sức khỏe giới tính, 83,6% biết về các nội dung
tư vấn khác như: việc làm, pháp luật, làm đẹp…
Kết quả thu được từ bảng 2.6 cho ta nhận xét khả quan về sự hiểu biết của các em.
Ngoài kiến thức phổ thông được học ở trường các em đã có sự tìm tòi, tham khảo thêm từ
các nguồn khác để nâng cao trình độ của mình.
2.2.2 Mức độ tham gia tư vấn của học sinh trường THPT xxx
Bảng 2.7 Mức độ tham gia tư vấn của HS trường THPT xxx Tuy sự quan tâm, hiểu biết của học sinh trường THPT xxx với các chuyên mục tư
vấn trên các phương tiện thông tin là rất lớn. Xong mức độ tham gia tư vấn khi giải quyết
vấn đề của mình là rất ít.
Kết quả từ bảng 2.7: có tới 79,3% HS chưa bao giờ tham gia tư vấn, 20,7% có tham gia
tư vấn nhưng “chỉ một vài lần” (17,1%), chủ yếu bằng hình thức viết thư gửi báo, đài, gọi
điện hoặc trao đổi qua các diễn đàn trên internet.
● Lý do học sinh trường THPT xxx không tham gia dịch vụ tư vấn:
Bảng 2.8 : Lý do học sinh trường THPT xxx không tham gia dịch vụ tư vấn
Nội dung
Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng
Mức độ tham gia
Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng
% % % %
Thường xuyên 0 5 6,25 3,6
Một vài lần 15 17,5 18,75 17,1
Chưa bao giờ 85 77,5 75 79,3
21
% % % % Thứ bậc
E ngại, xấu hổ 25,5 23,75 21,25 23,5 1
1,9. Trong cách cư xử và giao tiếp hằng ngày các em thường ứng dụng những kiến thức
nghe và đọc được trên các tạp chí hay radio, ti vi.
Với nội dung sức khỏe giới tính: 73,2% HS chịu ảnh hưởng từ các chuyên mục tư
vấn, M=1,8. Những kiến thức này được các em coi là “quân sư tin cậy” cho hành vi của
các em.
Học tập, hướng nghiệp: 55,6%, M=1,7. Nội dung này chỉ mang tính chất tham khảo
đối với các em.
Cuối cùng là nội dung tình bạn- tình yêu, chỉ có 38% HS chịu ảnh hưởng từ các
mục tư vấn, M= 1,5. Vì tuổi các em tình bạn cũng như tình yêu nảy sinh ngẩu nhiên và
các em hành động theo cảm xúc là chính.
Như vậy, dù tác động của các mục tư vấn có ảnh hưởng tới các em nhưng với trung
bình khảo sát của các nội dung tình bạn- tình yêu (M=1,5), học tập, hướng nghiệp (M=
1,7), giao tiếp (M= 1,9), sức khỏe giới tính (M= 1,8) nhỏ hơn trung bình kỳ vọng (M =2)
nên mức độ ảnh hưởng là chưa sâu sắc lắm.
Nội dung
Mức độ
Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng
% M % M % M % M
Tình bạn,
tình yêu
Mạnh mẽ
12,2 1,2 11,25 1,5 17,5 1,9 13,65
1,5
Hời hợt 11,1 25 50 28
Không ảnh
hưởng
76,7 63,75 32,5 57,65
Học tập
và hướng
nghiệp