Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Trong môi trường cạnh tranh kinh doanh khốc liệt như hiện nay, ngoài
việc quan tâm đến sản xuất, sản phẩm và dịch vụ các công ty còn quan tâm
đến hoạt động marketing. Đây là hoạt động vô cùng quan trọng nếu các công
ty muốn tồn tại và phát triển vững mạnh trên thị trường.
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn đi cùng
với nó là việc tràn ngập các sản phẩm trên thị trường. Có rất nhiều các loại
sản phẩm cùng thoả mãn một nhu cầu và hàng loạt các sản phẩm thay thế
khác. Người tiêu dùng sẽ lựa chọn những sản phẩm mà họ nắm rõ được thông
tin về sản phẩm đó. Nếu một công ty không quan tâm đến hoạt động
marketing thì sản phẩm và dịch vụ của họ sẽ ít được người tiêu dùng biết đến,
đồng thời họ sẽ bị các công ty khác chiếm mất thị trường và dần dần sản
phẩm dịch vụ của họ sẽ bị mờ nhạt trong tâm trí khách hàng.
Sau khi nước ta ra nhập WTO, hoạt động marketing ở nước ta trở nên
sôi động hơn bao giờ hết. Các công ty nhỏ và vừa đã bắt đầu chú ý hơn đến
hoạt động marketing còn các công ty lớn đã bỏ ra không biết bao nhiêu tiền
của cho hoạt động này. Có rất nhiều hoạt động marketing đã mang lại thành
công rực rỡ nhưng cũng có nhiều hoạt động marketing đã làm cho công ty rơi
vào tình trạng khủng hoảng về tài chính buộc họ phải thu hẹp quy mô sản
xuất hoặc xa hơn nữa là rơi vào tình trạng sắp phá sản… Hoạt động
marketing không phải lúc nào cũng được như ý xong nếu có một chiến lược
marketing phù hợp và gây được ấn tượng với thị trường mục tiêu thì hiệu quả
của nó mang lại cho công ty là rất lớn đó không chỉ là lợi nhuận cho công ty
mà nó còn củng cố địa vị, hình ảnh, uy tín, của công ty trong tâm trí người
tiêu dùng.
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
1
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần ô tô TMT. Em nhận thấy
hoạt động marketing của công ty còn rất yếu kém mặc dù công ty đã có sự
thuật phức tạp.
Một số nhà nghiên cứu marketing ở Hoa Kỳ cho rằng truyền tin được
hiểu là: “ Một quá trình mà theo đó thông tin được trao đổi giữa các cá nhân
thông qua một hệ thống chung về biểu tượng, dấu hiệu, hành vi ”.
Trong sách marketing căn bản định nghĩa về hệ thống thông tin
marketing như sau: “Hệ thống thông tin marketing là hệ thống hoạt động
thường xuyên có sự tác động giữa con người, thiết bị và các phương pháp
dùng để thu thập, phân loại, phân tích, đánh giá và truyền đi những thông tin
cần thiết chính xác kịp thời để người phụ trách lĩnh vực marketing sử dụng
chúng với mục đích thiết lập, tổ chức, thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra các kế
hoạch marketing ”.
Hoạt động marketing thực chất là quá trình truyền tải thông tin về sản
phẩm, dịch vụ của công ty đến người tiêu dùng nhằm gây ảnh hưởng đến thái
độ, hành vi và nhận thức của họ.
Một công ty tạo ra một sản phẩm tốt, ấn định một mức giá hấp dẫn,
được bán ở một địa điểm thuận lợi là điều lý tưởng song sẽ không hiệu quả
nếu sản phẩm đó chưa được khách hàng mua. Tất nhiên sản phẩm đó bán
được hay không còn phụ thuộc vào phía người mua. Song để tác động vào thị
hiếu, hành vi của họ thì điều quan trọng là nhà kinh doanh phải có các quan
hệ giao tiếp với khách hàng. Các quan hệ giao tiếp này nếu được xây dựng và
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
3
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
duy trì tốt sẽ tạo cơ hội cho khách hàng tiếp cận được sản phẩm, tiếp cận được
công ty và rất có thể họ sẽ mua hàng của công ty và các quan hệ giao tiếp này
được thực hiện qua hệ thống truyền thông marketing.
Cần phải lưu ý rằng, quá trình truyền tải thông tin, tức là quá trình cung
cấp thông tin bắt đầu từ người bán hướng đến khách hàng mục tiêu, tạo ra một
hệ thống các quan hệ giao tiếp từ người sản xuất đến người bán hàng ( người
trung gian), tới những người mua cuối cùng và cả những công chúng liên
dùng thường truyền miệng dưới dạng tin đồn. Đồng thời, qua các nhóm người
tiêu dùng đó mà hình thành thông tin ngược chiều trở lại công ty.
Trong hoạt động marketing, hệ thống marketing - mix ( marketing hỗn
hợp ) được ví như bộ xương sống. Hệ thống marketing - mix là một phức hợp
của các quyết định về sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến hỗn hợp mà
công ty sẽ thực thi nhằm thu được những phản ứng mong muốn từ phía thị
trường mục tiêu. Các thành phần này liên quan trực tiếp và tác động qua lại
lẫn nhau tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất. Đồng thời, nó
cũng quyết định mọi hoạt động của quá trình truyền thông marketing. Sản
phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến hỗn hợp sẽ giúp công ty lựa chọn cách
truyền thông hiệu quả nhất. Nó sẽ quyết định nội dung, phương tiện, quy mô,
ngân sách… của một chương trình truyền thông marketing cụ thể.
Sơ đồ 1.1.a Sơ đồ mô tả mối quan hệ của hệ thống marketing - mix
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
5
Thị trường mục tiêu
P1 ( Sản phẩm) P2 ( Giá cả)
P4 ( Xúc tiến
hỗn hợp)
P3 ( Phân phối)
Marketing
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Các yếu tố của hệ thống marketing hỗn hợp đều ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động truyền thông marketing của công ty. Đồng thời hoạt động
truyền thông marketing cũng tác động ngược trở lại các yếu tố này.
- Chính sách sản phẩm: Đề cập đến việc ra các quyết định một cách
có hệ thống liên quan đến mọi khía cạnh phát triển và quản lý các sản phẩm
của công ty như xác định chủng loại hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho thị
trường, chất lượng hàng hoá, số lượng hàng hoá, sản xuất sản phẩm mới và
bao gồm cả việc tạo lập nhãn hiệu và đóng gói sản phẩm.
người chấp nhận. Quảng cáo là một phương pháp có khả năng thuyết phục
cao, tạo cơ hội cho người nhận tin so sánh thông tin với các đối thủ cạnh
tranh làm tăng thêm sức thuyết phục đối với khách hàng mục tiêu.
Quảng cáo gồm có ba chức năng chính là: Chức năng thông tin, chức
năng thuyết phục, chức năng gợi nhớ.
+ Xúc tiến bán :
Xúc tiến bán là những hoạt động nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản
phẩm thông qua các giải pháp kích thích lợi ích đối với khách hàng mục tiêu.
Các công cụ xúc tiến bán bao gồm: Giảm giá, tặng thưởng, biếu hàng mẫu,
trưng bày, tổ chức các cuộc thi có thưởng, trình diễn thương mại, thẻ mua
hàng ….
+ Quan hệ công chúng ( PR ):
Quan hệ công chúng là cách thức tạo dựng, duy trì và phát triển các
mối quan hệ với công chúng, tạo ra một ấn tượng tốt, một hình ảnh tốt từ
công chúng, làm cho họ yêu thích công ty, qua đó đính chính những thông tin
nhiễu và loại bỏ những thông tin sai lệch chích là mục tiêu của việc xây dựng
quan hệ với công chúng.
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Quan hệ công chúng được thực hiện thông qua một loạt các công cụ
như: Báo cáo, các bài thuyết trình, các tài liệu, số liệu hình ảnh âm thanh và
những hoạt động dịch vụ khác.
Việc phát triển một chương trình quan hệ công chúng có hiệu quả liên
quan đến mối quan hệ với các chương trình truyền thông khác nhau, thời gian
và thời lượng thực hiện chương trình đó.
- Marketing trực tiếp:
Marketing trực tiếp là những hoạt động xúc tiến bán thông qua các
công cụ giao tiếp phi con người. Loại hình này đã xuất hiện từ lâu đời và qui
mô của chúng ngày càng được mở rộng. Chính nhu cầu của người tiêu dùng
1.3.2. Hệ thống sử dụng người trung gian
Đôi khi nhà sản xuất không thể thông tin hiệu quả với thị trường.
Người sản xuất không đủ tài lực để đảm bảo những hoạt động marketing rộng
rãi hoặc người sản xuất thiếu khả năng chẳng hạn như: Thiếu lực lượng bán
hàng không được huấn luyện kĩ càng, thiếu nguồn thông tin về thị trường mới
mà thời gian không cho phép người sản xuất kịp điều tra kỹ lưỡng, thiếu địa
điểm phù bán hàng phù hợp.... Người trung gian trở nên cần thiết khi tiếp xúc
trực tiếp giữa người sản xuất và thị trường không khả thi. Vì người trung gian
sẽ giúp công ty khắc phục những nhược điểm trên.
Sơ đồ 1.3.2 Hệ thống sử dụng người trung gian
Sơ đồ này minh hoạ vai trò của người trung gian (người môi giới) trong
quá trình truyền thông. Hoạt động thông tin của người sản xuất là nhằm vào
người trung gian, sau đó người trung gian sẽ thông tin ra thị trường. Người
trung gian bao gồm các đại lý, các nhà bán buôn, bán lẻ,.. Họ tạo cho người
sản xuất bao quát thị trường cần thiết. Họ biết phạm vi lãnh thổ của họ, họ
biết rõ khàch hàng của minhg và đồng thời khách hàng cũng biết rõ họ, tin
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
9
Người sản xuất Người trung
gian
Thị trường
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
tưởng ở họ hơn do đó họ sẽ là những người truyền thông tin tốt hơn nhiều so
với nhà sản xuất.
1.3.3. Hệ thống phức tạp
Sơ đồ 1.3.3 Hệ thống phức tạp
Sơ đồ này cho thấy nhà sản xuất không chỉ thu những người trung gian
mà còn thông tin với thị trường để hỗ trợ cho những người trung gian, đồng
thời người trung gian cũng thông tin với thị trường.
Quá trình truyền thông marketing có thể đơn giản hay phức tạp. Mức
trả tiền. Người nhận thong tin hiểu được những nội dung mà nguồn phát đã
mã hóa. Như vậy, mã hóa là việc sử dụng những kỹ thuật thông tin riêng biệt
mà người gửi muốn người nhận hiểu được.
Sau đó, công chúng (người nhận) sẽ có những phản ứng nhất định đối
với thông tin nhận được, người gửi sẽ rất mong nhận được sự phản hồi từ
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
Nguồn
thông tin
Phản ứng Công
chúng
Giải mã
Phương
tiện thông
tin
Mã hóa
Thông tin
nhiễu
11
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
công chúng. Tuy nhiên, công chúng lại có những phản ứng khác nhau với
thông tin như: quan tâm nhiều, quan tâm ít, muốn tìm hiểu thêm thông tin,
không quan tâm, không chú ý… và dẫn đến hành động muốn sử dụng sản
phẩm và dịch vụ hoặc không sử dụng sản phẩm dịch vụ đó hoặc sẽ sử dụng
sản phẩm và dịch vụ đó khi cần đến.
Trong quá trình truyền tin, có thể xuất hiện những thông tin nhiễu hay
còn gọi là “tiếng ồn”, chúng gây ảnh hưởng không tốt tới quá trình này. Khái
niệm nhiễu được xác định “ là bất cứ nhân tố nào làm giảm hiệu quả của quá
trình truyền thông tin”. Nhiễu có thể xuất hiện từ bên trong hay bên ngoài của
quá trình truyền tin. Nhiễu bên trong có thể xuất hiện ở bất cứ giai đoạn nào
của quá trình truyền tin, gây tác động tiêu cực và làm cho nguồn thông tin bị
chủ định đòi hỏi nguồn phát phải xác định cho được cái muốn truyền đạt được
đến người nhận tin, giai đoạn xây dựng thông điệp mã hoá phải xác định hình
thức tốt nhất để truyền đạt thông điệp chủ định. Trước khi thiết kế thông điệp
yêu cầu người truyền thông điệp phải nghiên cứu kỹ thị trường mục tiêu và
các yếu tố liên quan đến thị trường để đưa ra được thông điệp phù hợp mang
lại hiệu quả tối ưu cho công ty.
1.4.3. Truyền đạt thông điệp
Quyết định truyền đạt thông điệp là sự lựa chọn các phương tiện truyền
thông và các kênh truyền thông thích hợp để phân phát thông điệp. Trong
quảng cáo các quyết định truyền đạt thông điệp xoay quanh việc lựa chọn các
phương tiện truyền thông đại chúng. Trong bán hàng trực tiếp các quyết định
truyền đạt thông điệp bao gồm việc lựa chọn các nhân viên chào hàng, bán
hàng trực tiếp. Trong PR ( Quan hệ công chúng ) đó lại là việc lựa chọn các
phương tiện truyền thông, người phát biểu trước công chúng, thời gian và địa
điểm diễn ra bài phát biểu …
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Có 3 yếu tố chính liên quan đến việc lựa chọn các kênh truyền thông
marketing đó là: Người nhận, thông điệp và đặc tính của các kênh truyền
thông xem xét.
Mỗi người đều có thói quen xử lý thông tin khác nhau, nó phản ánh qua
việc sử dụng các phương tiện truyền thông của họ và thời điểm mà họ chú ý.
Chính vì vậy mà việc lựa chọn các kênh truyền thông sẽ quyết định thông tin
cần truyền đạt có đến được với khách hàng mục tiêu hay không. Còn các đặc
tính của kênh truyền thông sẽ quyết định hiệu quả cuả việc phân phối thông
điệp. Mỗi kênh đều có điểm mạnh, điểm yếu và giới hạn kỹ thuật của các
phương tiện thông tin.
1.4.4. Người nhận thông điệp
Quá trình truyền thông không thể xảy ra trừ khi người nhận tin nhận
thì một kế hoạch truyền tin marketing có hiệu quả là một kế hoạch được
chuẩn bị đầy đủ, tính toán tới tất cả yếu tố thuận lợi và những bất lợi có thể
xảy ra. Thồng thường một kế hoạch truyền thông marketing do một công ty
cỡ vừa hoặc lớn có thể tiến hành qua một số bước sau:
Bước 1: Xác định thị trường mục tiêu ( đối tượng truyền tin )
Thực chất là xác định đối tượng truyền tin. Câu hỏi đặt ra: đối tượng
nhận tin là ai ? Việc xác định đúng đối tượng cũng có nghĩa là xác định các
khách hàng mục tiêu ở thị trường có triển vọng nhất. Công ty đặt nhiều kỳ
vọng vào lượng khách hàng này và mong muốn họ sẽ là người mua hàng và
tiêu dùng dịch vụ của công ty trong tương lai.
Đây là công việc đòi hỏi phải nghiên cứu thị trường kĩ lưỡng và các
yếu tố liên quan đến thị trường mục tiêu mà công ty định cung cấp sản phẩm
dịch vụ như yếu tố văn hóa, lối sống, nền kinh tế - chính trị, thu nhập .... Từ
đó có những điều chỉnh về sản phẩm và dịch vụ sao cho phù hợp với nhu cầu
của thị trường, đồng thời lập kế hoạch tiếp cận với thị trường mục tiêu thông
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
15
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
qua các biện pháp như quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng trực tiếp,
marketing trực tiếp.
Bước 2: Xác định mục tiêu truyền tin
Bước này thực chất là xác định khách hàng mục tiêu xem họ thuộc
nhóm đối tượng nào để hoạch định mục tiêu truyền thông tin cho phù hợp. Vì
mối khách hàng lại có sự quan tâm khác nhau đến thông tin, mục tiêu truyền
tin có thể là củng cố thương hiệu, nhắc nhớ hay kích thích nhu cầu mua
hàng… Chính vì vậy phải xác định rõ khách hàng mục tiêu của của công ty
trước khi lên kế hoạch thiết kế nội dung truyền tin. Chẳng hạn đối với khách
hàng thuộc nhóm cần thiết tạo lập quan hệ thì mục tiêu thông tin là cung cấp
những thông tin cần thiết và mang tính chất giao tiếp, đối với nhóm đã có
quan hệ thì mục tiêu thông tin là gây ảnh hưởng, còn đối với nhóm đã có nhận
người tham gia hoạt động trong những lĩnh vực cụ thể như văn hóa, thể
thao… Thông tin được truyền tải qua các lĩnh vực hoạt động của họ hay các
buổi thuyết trình.
- Kênh truyền tin mang tính chất xã hội: Loại kênh này bao gồm các
loại phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh, đài truyền
hình, internet, các địa điểm bán hàng, các sự kiện mang tính chất cộng đồng.
Tùy thuộc vào sự tính toán của công ty mà người ta có thể lựa chọn
kênh truyền thông mang tính chất cá nhân hay kênh truyền thông mang tính
chất xã hội hoặc có thể kết hợp cả hai loại để mang lại hiệu quả cao hơn.
Bước 5: Xác định ngân sách truyền thông
Xác định ngân sách cho hoạt động truyền thông là một quyết định
marketing khó khăn và nó chi phối lớn đến sự thành công, hiệu quả của hoạt
động truyền thông. Nhà quản trị thường căn cứ vào mục tiêu và đối tượng
truyền tin để dự liệu số lượng tiền cần thiết chi cho hoạt động này. Thông
thường các công ty không quyết định chi bao nhiêu cho một chương trình
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
17
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
truyền thông cụ thể mà họ chỉ giành một tỷ lệ nhất định của tổng ngân sách
cho các hoạt động này. Người có trách nhiệm trong lĩnh vực truyền thông có
nhiệm vụ phải dự kiến xem chi phí cụ thể cho từng chương trình truyền thông
là bao nhiêu. Mỗi chương trình truyền thông cụ thể yêu cầu một khoản ngân
sách cần thiết. Số lượng các cuộc xúc tiến truyền thông thường gia tăng khi
công ty có kế hoạch tung sản phẩm mới vào thị trường hoặc thời kỳ doanh số
bán có nguy cơ bị giảm sút.
Có bốn phương pháp xác định ngân sách mà các công ty thường sử
dụng là:
- Phương pháp xác định theo tỷ lệ % trên doanh số bán
- Phương pháp cân bằng cạnh tranh
- Phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ phải hoàn thành
cảm động hay không cảm động, quan tâm hay không quan tâm, thái độ đối
với sản phẩm và dịch vụ của công ty sau khi nhận được thông tin…Để thu
nhận thông tin phản hồi cần phải tổ chức điều tra nghiên cứu chu đáo. Thu
nhận thông tin phản hồi cần phải đầy đủ và chính xác mới có thể đánh giá
đúng mức hiệu quả của hoạt động truyền thông.
Sau mỗi chương trình hoạt động truyền thông người có trách nhiệm về
lĩnh vực này phải tổng kết, đánh giá và báo cáo bằng văn bản gửi cho giám
đốc marketing hoặc những người quản lý cấp cao.
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
19
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN
THÔNG MARKETING CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ TMT
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần ô tô TMT.
Tiền thân của công ty là: " Công ty Vật tư thiết bị cơ khí giao thông
vận tải " được thành lập theo quyết Quyết định số 410 - QĐ/TCCB - LĐ ngày
27/10/1976 của Bộ giao thông vận tải.
Năm 1993 Bộ giao thông vận tải ra Quyết định số 602/QĐ/TCCB - LĐ
ngày 05/07/1993 thành lập doanh nghiệp Nhà nước đổi tên công ty thành: "
Công ty vật tư thiết bị giao thông vận tải " trực thuộc liên hiệp xí nghiệp cơ
khí giao thông vận tải. Trụ sở chính đặt tại:83 phố Triều Khúc - Quận Thanh
Xuân - Hà Nội.
Ngày 01/09/1998 theo Quyết định số 2195/1998/QĐ - BGTVT của Bộ
trưởng Bộ giao thông vận tải đổi tên công ty thành: " Công ty thương mại và
sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải " trực thuộc công ty cơ khí giao
thông vận tải.
Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là sản xuất và cung ứng vật tư thiết bị
giao thông vận tải.
Ngày 28/02/2000 công ty chuyển trụ sở chính về 199B đường Minh
khủng hoảng và phát triển đứng vững trên thị trường.
Những thành tích công ty đã đạt được trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh:
- Năm 2002 công ty được cấp chứng chỉ về Quản lý chất lượng ISO
9001 - 9002 của Tổ chức BVQI Vương quốc Anh và được trao tặng " Cúp
vàng quốc tế về chất lượng và Uy tín kinh doanh " của Tổ chức BID tại
Hội nghị quốc tế cấp cao về chất lượng ở New York.
- Năm 2003 công ty được Tổ chức cam kết chất lượng quốc tế tặng cúp
" Ngôi sao bạch kim " .
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
21
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
- Năm 2005 công ty được Tổ chức BID tặng cúp " Kim cương " tại Hội
nghị thường niên Frankfurt 2005.
Ngoài ra công ty còn đạt nhiều giải thưởng khác trong nước như hàng
Việt Nam chất lượng cao…
2.2. Bộ máy tổ chức quản lý và chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần
ô tô TMT
2.2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty cổ phần ô tô TMT
Trước đây công ty là doanh nghiệp nhà nước với bộ máy quản lý đơn
giản đứng đầu là giám đốc sau đó là phó giám đốc và các phòng ban. Sau khi
Công ty cổ phần hóa bộ máy tổ chức quản lý của công ty trở nên rườm rà,
cồng kềnh, và phức tạp hơn.
Bộ máy tổ chức của công ty vẫn được tổ chức theo kiểu trực tuyến
chức năng. Đứng đầu công ty là: Chủ tịch hội đồng quản trị, sau Chủ tịch hội
đồng quản trị là Phó chủ tịch hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát và tổng
giám đốc của công ty, sau đó là các Phó tổng giám đốc, các giám đốc nhà
máy, giám đốc chi nhánh, cuối cùng là các phó giám đốc nhà máy và chi
nhánh cùng các phòng ban chức năng trực thuộc.
Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận quản lý: Tổng giám đốc là
chính
Phòng
tài
chính
Phòng
bán
hàng
Phòng
thị trư
ờng
Phòng
xuất
nhập
khẩu
Phòng
nội địa
hoá
Phòng
quản
lý chất
lượng
Phòng
dịch vụ
sau
bán
hàng
Phòng
kỹ
thuật
Giám đốc
PGĐ
nhà ăn
Kế
toán
nhà ăn
Các
phòng
chức
năng
Các
phân
xưởng
sản
xuất
Các
phòng
chức
năng
Các
phân
xưởng
sản
xuất
Các
phân
xưởng
sản
xuất
Các
phân
việc quản lý và điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy
SV: Đào Thị Khánh Linh Quảng cáo 45
24
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
cần thiết theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ
đông, nhóm cổ đông.
Tổng giám đốc: Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị lựa chọn.
Chức năng: Điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty,
chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng
quản trị và pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
Nhiệm vụ: Tổng giám đốc có các nhiệm vụ chủ yếu sau
- Quyết định các vấn đề lien quan đến công việc kinh doanh hàng ngày
của công ty mà không cần phải có quyết định của Hội đồng quản trị.
- Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị.
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của
công ty.
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công
ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị.
- Quyết định lương và phụ cấp đối với người lao động trong công ty, kể
cả người quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Tổng giám đốc.
- Tuyển dụng lao động trong công ty.
- Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật doanh
nghiệp Nhà nước, Điều lệ công ty và quyết định của Hội đồng quản trị.
Các phó tổng giám đốc:
Chức năng: Giúp Tổng giám đốc thực hiện công việc quản lý hoạt động
sản xuất của công ty, điều hành một số lĩnh vực hoạt động của công ty theo sự
phân công, uỷ quyền của Tổng giám đốc. Chịu trách nhiệm trước Tổng giám
đốc và pháp luật về quyền và nhiệm vụ được giao.
Nhiệm vụ: Triển khai, chỉ đạo thực hiện các công việc được Tổng giám
đốc giao. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giải quyết các công việc