NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT.
1. Khái niệm pháp luật
Trong xã hội cần phải có một số trật tự nhất định, cần có sự điều chỉnh nhất định
đối với các quan hệ xã hội – quan hệ giữa người với người trên các lĩnh vực.
Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong bất kỳ xã hội nào cũng điều được thực
hiện dựa trên cơ sở các quy phạm xã hội, nhưng nguyên tác về hành vi, nguyên tắc xử sự
của con người.
Các vi phạm xã hội ở nước ta hiện nay rất đa dạng bao gồm: các quy phạm chính
trị do các cơ quan, tổ chức của đảng đề ra; các quy phạm do các tổ chức chính trị - xã hội
đặt ra; các quy phạm đạo đức, phong tục, tôn giáo…và pháp luật. Trong đó, pháp luật là
những quy tắc sử dụng chung nhất, phổ biến nhất trong việc điều chỉnh các quan hệ xã
hội khác.
Theo quan niệm phổ biến hiện nay: pháp luật là hệ thống các quy phạm (quy tắc
hành vi hay quy tắc xử sự) có tính chất bất buộc chung vả thực hiện lâu dài nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước
và được nhà nước bảo đảm thực hiện bắng các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục,
cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước. Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức hoạt động của
đời sống xã hội và nhà nước, là công cụ để nhà nước thực hiện quyền lực.
2. Bản chất của pháp luật.
Như bản chất của nhà nước, trước hết pháp luật nói chung thể hiện ý chí của giai
cấp thống trị. Ý chí của giai cấp thống trị được nhà nước thể chế hóa thành pháp luật.
Nhờ có pháp luật, ý chí của giai cấp thống trị trở thành ý của nhà nước. Nhận xét về pháp
luật tư sản, C. Mác và ph. Ăngghen trong tuyên ngôn Đảng Cộng Sản viết: “pháp luật
của các ông là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật, mà nội dung của do
những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định”(1).
Nhà nước là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, nên pháp luật
thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức và những người lao
động khác trong xã hội. pháp luật thể hiện và bảo vệ lợi ích số đông nhân dân trong xã
hội. Thông qua pháp luật ý chí của nhân dân trở thành ý trí của nhà nước.
luật toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung.
Thứ ba : Tính cưỡng chế của pháp luật.
Cưỡng chế là một thuộc tính thẻ hiện bản chất giai cấp và tính xã hội của pháp
luật. Mọi kiểu pháp luật đều mang tính cưỡng chế. Cưỡng chế của háp luật là cần thiết
khách quan của đời sống cộng đồng nhằm thiết lập một trật tự xã hội. Bời trong xã hội
luôn có những người không thi hành nghiêm chỉnh, thậm chí chống lại sự thi pháp luật.
Do đó, việc cưỡng chế buộc mọi người phải nghiêm chỉnh thi hành pháp luật là điều cần
thiết. ình thức biện pháp cưỡng chế của pháp luật phụ thuộc nhiều vào bản chất của pháp
luật.
Thứ tư : Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện.
Khác với các quy phạm xã hội khác, pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận và vì vậy được nhà nước bảo đảm thực hiện. Sự bảo đảm thực hiện bằng nhà nước
thể hiện ở chổ là nước tạo cho các quy phạm pháp luật tính quyền lực bắt buộc đối với
mọi cơ quan, tổ chức và công dân. Như vậy , pháp luật trở thành quy tắc xử sự có tính bắt
buộc chung, nhờ vào sức mạnh, quyền lực nhà nước. Hơn nữa, nhà nước tạo ra các tiền
đề, điều kiện, áp dụng các biện pháp khác nhau để bảo đảm cho pháp luật thực hiện.
Ngoài các thuộc tính cơ bản nói trên, pháp luật còn thể hiện tính sáng tạo, tính
truyền thống và tính thời đại, tính hệ thống.
4. Chức năng của pháp luật.
Chức năng của pháp luật là những hướng, phương diện, mặt tác động chủ yếu của
pháp luật tới các quan hệ xã hội, phản ánh bản chất giai cấp và giá trị của pháp luật.
Pháp luật có ba chức năng chủ yếu: chức năng điều chỉnh; chức năng bảo vệ; chức
năng giáo dục.
- Chức năng điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội được thể hiện
theo hai hướng chính: một mặt xã hội ghi nhận các quan chủ yếu trong xã hội, mặt khác
pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội và bảo vệ các quan hệ xã hội
khi bị xâm phạm. chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật được thực hiện
thông qua các hình thức: quy định, cho phép, ngăn cấm, quy định nghĩa vụ, quy định
quyền và nghĩa vụ qua lại giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.
- Bên cạnh chức năng điều chỉnh, pháp luật có chức năng bảo vệ các quan hệ xã
chính thức trong sự tồn tại và phát triển của các quan hệ kinh tế. Trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, khi mà của cải vật chất chưa thật sự dồi dào, pháp luật chính là phương
tiện thực hiện tốt nhất nguyên tắc: làm theo năng lực hưởng theo lao động. Cúng vd[í
điều đó pháp luật chính là phương tiện thể chế hóa các quan hệ tiền – hàng, hạch toán
kinh tế, hợp đồng kinh tế, các quan hệ về lợi ích và đặc biệt là thể chế hóa và hoàn thiện
cơ chế quản lý về mặt tổ chức và hoạt động, làm cho nó có hiệu lực thực thi trong quy mô
toàn xã hội.
* Vai trò của pháp luật đối với xã hội.
Là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật là một những nhân tố bảo
đảm và bảo vệ sự tồn tại của xã hội. Một mặt pháp luật ghi nhận và thể chế hóa các quyền
tự do của công dân và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền tự do đó được thực hiện.
Mặt khác, bặng ghi nhận một cách chính thức các giá trị mà con người có, con người cần,
vì con người mà các thành viên của xã hội bằng phương tiện pháp luật có điều kiện bảo
vệ lợi ích hợp pháp của mình.
Các vấn đề xã hội như lợi ích xã hội, an toàn tính mạng, tài sản, danh dự và nhân
phẩm, tự do bình đẳng và công bằng… đều gắn liền với sự điều chỉnh của pháp luật.
Chính vì vậy pháp luật là một phương tiên không thể thiếu cho sự tồn tại và ổn định của
một xã hội.
* Vai trò của pháp luật đối với hệ thống chính trị - xã hội.
- Trước hết đối với Đảng lãnh đạo, pháp luật là phương tiện thể chế hóa đường lối
lãnh đạo của Đảng làm theo đường lối đó có hiệu lực thực thi và bất buộc chung trên quy
mô toàn xã hội. Mặt khác xã hội là công cụ để bảo vệ đường lối, chủ trương chính sách
của Đảng.
- Đối với nhà nước, pháp luật là cơ sở cho tổ chức và hoạt dộng của nhà nước, là
sự ghi nhận về mặt pháp lý trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và cá nhân công dân,
là phương tiện quản lý có hiệu lực đối với mọi của đời sống xã hội. hơn bất ký phương
tiện nào, pháp luật là phương tiện chứa đựng trong mình nó có sự kết hợp giữa năng động
sáng tạo với kỷ cương và kỷ luật. Do đó khi thực hiện các chức năng của mình nhà nước
không thể không sử dụng phương tiện pháp luật.
- Đối với các tổ chức chính trị - xã hội, pháp luật là phương tiện đảm bảo cho
ta.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước ta gồm :
Thứ nhất, nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của nhà nước ta là nhà nước của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân, nó đòi hỏi nội dung cuả pháp luật cũng như trong hoạt động
tổ chức thực hiện, áp dụng pháp phải thể hiện tính toàn quyền của nhân dân, quán triệt tư
tưởng nhân dân là chủ thể cao của quyền lực. Nguyên tắc tất cả quyền lực của nhà nước
thuộc về nhân dân là nguyên tắc hiến định, được trực tiếp ghi nhận trong hiến pháp và
các văn bản quy phạm pháp luật khác. Điều 2 Hiến pháp 1992 (đã được sửa bổ sung năm
2001) ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông và đội ngũ trí thức”. Vì vậy, khi ban hành pháp luật các cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền phải mục tiêu vì lợi ích nhân dân, phục vụ đời sống nhân dân là tối cao, tối
thượng, phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Thứ hai, nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Pháp phải thể hiện và phản ánh đầy đủ, sâu sắc các mặt của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa: định ra những hình thức và biện pháp hữu hiệu bảo vệ các quyền tự do, lợi ích
hợp pháp của công dân; tạo một cơ chế thuận lợi để nhân dân tham gia quản lý các công
việc của nhà nước; xã hội nghiêm khắc xử lý những hành vi vi phạm các quyền tự do,
dân chủ của công dân bất luận hành vi đó do cơ quan, tỏ chức hay cá nhân thực hiện. Mặt
khác, pháp luật cần quy định chặt chẻ địa vị chính trị - pháp lý của các bộ phận cấu thành
hệ thống chính trị, đặc biệt là nhà nước, đồng thời xác lập mối quan hệ đúng đắng giữa
các bộ phận đó, tạo điều kiện để tất cả các bộ phận cảu hệ thống chính trị đồng thời thật
sự trở thành những thể chế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, nguyên tắc nhân đạo
Nhân đạo là truyền thống quý báo của dân tộc Việt Nam, được nhân lên từ khi có
Đãng lãnh đạo. Vì vậy nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi nội dung của hệ thống pháp luật phải
thám nhuần quan điểm tất cả vì con người và phục vụ cho con người. Con người là mục
tiêu trung tâm của xã hội, mọi đường lối, chính sách và pháp luật của nhà nước đều phải
thiểu nhất của công quyền và xác lập đầy đủ những đảm bảo cho người bị quản lý nằm
chống những hiện tượng lạm dụng quyền lực, phạm vi các quyền tự do, dân của công
dân.
Trong cương chế nhà nước công bắng có nghĩa là chirphair chịu trách nhiệm pháp
lý khi có lỗi, mức độ vi phạm và mức độ trách nhiệm phải tương xứng với nhau. Nguyên
tắc này cugnx có nghĩa là bất kỳ ai, không kể giữ chức vụ nào, khi vi phạm pháp luật đều
phải trách nhiệm pháp lý. Từ sự công bằng dẫn đến sự bình đẳng mọi công dân trước
pháp luật tọa ra một khả năng, cơ hội như nhau cho mọi thành viên trong xã hội, khi họ
có địa vị như nhau.
II. XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
1. Khái niệm, nguyên tắc xây dựng pháp luật
Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện
thông qua hoạt động lập pháp, lập quy của các cơ quan nhà nước.
Xây dựng pháp luật là hoạt động của các cơ quan nhà nước, những người có thẩm
quyền, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị được trao quyền, nhằm soạn thảo và ban hành
các đạo luật và các vặn bản quy phạm pháp luật khác, thực chất là để thực hiện quyền lập
pháp và quyền lập quy (ban hành theo văn bản quy phạm pháp luật dưới luật).
Quyền lập pháp là quyền ban hành các văn bản theo Hiến pháp Việt Nam 1992,
Quốc hội là cơ quan có quyền làm hiến pháp, sữa đổi hiến pháp, làm luật, sữa đổi luật;
nghĩa là Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Ủy ban thường vụ Quốc hội
ban hành pháp lệnh do Quốc hội giao trên cơ sở kế hoạch ban hành các lệnh được ghi vào
chương trình làm luật của Quốc hội. Như vậy, Quốc hội ủy quyền cho ủy ban thường vụ
Quốc hội ban hành pháp lệnh là văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề mà
luật chưa điều chỉnh (trừ những vấn đề phải điều chỉnh bằng luật). Chẳng hạn như các
vấn đề về quyền chính trị, dân sự, kinh tế của công dân đã dược quy định trong Hiến
pháp và luật; về hình sự; về lao động…
Quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật củ các cơ quan
hành chính nhà nước có hiệu lực dưới luật. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật dưới luật phải trên cơ sở luật và để thi hành pháp luật. Ban hành văn bản quy pháp
luật dưới luật là hoạt động quan trọng của quyền hành pháp, nhờ đó mà các cơ quan hành
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội vào hoạt động xây dựng pháp luật với xu
hướng dân chủ hóa đời sống xã hội. Cần phải đề cao vai trò của các tầng lớp nhân dân lao
động và các tổ chức của họ trong hoạt xây dựng pháp luật, đặc là trong thảo luận, góp ý
các dự án pháp luật.
Thứ tư, nguyên tắc bảo đảm pháp chế.
Xây dựng và ban hành pháp luật phỉa đúng thẩm quyền, phait tuân thủ nghiêm
chỉnh ngặt trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Văn bản luật phảo phù hợp với Hiến
pháp, văn bản dưới luật phải phù hợp với văn bản luật, bảo đảm tính thứ bậc trật tự của
hệ thống văn bản và văn bản cấp độ dưới hơn được ban hành nhằm thực hiện văn bản ở
cấp độ cao hơn.
Hiện nay, cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, đổi mới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng ta tiến hành xây dựng và
hoàn thiện nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là tiếp tục cải cách
nền hành chính nhà nước. Tình hình mới đòi hỏi phải sữa đổi, bổ sung, hệ thống pháp
luật cả về nội dung và hình thức, tăng cường sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan
hệ xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước, các quyền công
dân. Công tác xây dựng pháp luật đang được đẩy mạnh, càng phỉa tuân thủ các nguyên
tắc của quá trình sáng tạo pháp luật.
3. Văn bản quy phạm pháp luật.
Hình thức của văn bản pháp luật bao gồm tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản
quy phạm pháp luật. Ở nước ta văn bản quy phạm pháp luật là hình thức cơ bản của pháp
luật.
a. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành theo thủ tục, trình tự luận định, trong đó các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung
nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định, được áp dụng nhiều là và hiệu lực của
nó không phụ thuộc vào sự áp dụng, được nhà nước bảo đảm thực hiện.
Văn bản quy phạm pháp luật có một số đặc điểm:
- Đó là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền ban hành;
- Văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng những quy tắc xử sự mang tính quy
- Chánh án tòa án nhân dân tối cao, viện trưởng, viện kiểm sát nhân dân tối cao
ban hành thông tư căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của ban thường vụ Quốc hội, lệnh, nghị định của chủ tịch nước.
- Giữa các cơ quan nhà cscos thẩm quyền, giữa các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền với tổ chức chính trị - xã hội ban hành nghị quyết, thông tư liên tịch.
- Căn cứ vào Hiến pháp, luật , nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
ủy ban thường vụ quốc hội, lệnh, quyết định của chủ tịch nước, văn bản của các cơ quan
nhà nước, cấp trên, Hội đòng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành
nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương về kế hoạch phát triển kinh té – xã
hội và ngân sách; về quốc phòng và an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng
cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, làm tròn nghĩa đối với
cả nước.
- ủy ban nhân dân ban hành quyết định và chỉ thị, quyết định, chỉ thị của ủy ban
nhân dân phải phù hợp với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan ành nước cấp trên,
nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp.
- Chủ ủy ban nhân dân có quyền đình chỉ thi hành nghị quyết của hội đồng nhân
dân cấp dưới trực tiếp đồng thời đề nghị hội đồng nhân dân cấp mình bải bỏ nghị quyết
đó, đình chỉ việc thi hành hoặc bải bỏ những văn bản sai trái của cơ quan chuyên môn
thuộc ủy ban nhan dân, của ủy ban nhân dân cấp dưới.
4. Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động có ý nghĩa thực tiễn rất
quan trọng nhằm hoàn thiện pháp luật, đưa pháp luật vào một hệ thống nhất định, tạo
điều kiện thuận lợi cho công tác thực hiện áp dụng pháp luật.
Nhờ công tác hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật mà các cơ quan nhà nước
có thẩm quyeenfcos sự nhìn nhận, đánh giá một cách tổng quát đối với hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật hiện hành, đặc biệt đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
do mình ban hành, phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo, những bất hợp lý, từ đó có
những biện pháp để khắc phục, hoàn thiện về nội dung và hình thức của pháp luật.
Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp phục vụ cho việc thực hiện
pháp luật, đặc biệt là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, người có
hợp hóa và pháp điển hóa pháp luật nhằm tạo ra một hệ thống pháp luaatjhaonf thiện về
nội dung và hình thức. Tập hợp hóa và pháp điển là những công việc phức tạp, đòi hỏi
phải được tiến hành phù hợp với những kỹ thuật lập pháp, lập quy. Để có được hế thống
pháp luật hoàn thiện, trước hết cần phải hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, lập quy, cần xác
định rõ những loại quan hệ xã hội nào cần được điều chỉnh bằng văn bản luật, hay bằng
văn bản dưới luật, cần hoàn thiện kỹ thuật xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật.
III. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT.
1. Thực hiên pháp luật.
Nhà nước ban hanh luật nhằm xác định những khã năng hành vi cách xử sự của
mọi người, mọi tổ chức, cơ quan nhà nước. Khã năng đó chỉ có thể trở thành hiện thực
trong đời sống khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật.
Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp
luật trở thành hoạt động thực tế cảu các cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Tất cả những hành vi, xử sự được tiến hành phù hợp với các yêu câu của pháp luật
đều được coi là thực hiện pháp luật, phù hợp với pháp luật.
Căn cứ vào tính chất hoạt động thực hiện pháp luật, khóa học pháp lý đã chia ra
các hình thức thực hiện pháp luật sau; tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng
pháp luật, áp dụng pháp luật.
- Tuân thủ pháp luật là việc thực hiện pháp luật mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức
kiềm chế không thực hiện các hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Ở hình thức nayfchir
đòi hỏi con người tự kiềm chế mình thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm.
Chủ thể tuân thủ pháp luật là mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân,
cán bộ, công chức …công dân. Thí dụ: công dân kiềm chế không thực hiện những hành
vi vi phạm pháp luật.
- Thi hành pháp luật là việc thực hiện pháp luật mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức
thực hiện nghĩa vụ của mình bằng hoạt động tích cực.
Hình thức chấp hành pháp luật đòi hỏi thực hiện nghĩa vụ pháp lý một cách tích
cực. Ở đây cần phải thực hiện hành động tích cực, cụ thể và chỉ có thể bằng hoạt động
tích cực mới thực hiện nghĩa vụ của mình. Chủ thể của hình thức chấp hành pháp luật là
Khi phát sinh tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham
gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được;
- Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần phải tham gia để kiểm
tra, giám sát thanh tra hoạt đọng của các bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nước xác
nhận sự tồn tại hay tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế; thí dụ: việc xác nhận di
chúc, chứng thực thế chấp, sao các văn bằng chứng chỉ…
b. Đặc điểm của áp dụng pháp luật.
- Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức – quyền lực nhà
nước. Vì vậy, hoạt động này chỉ do những cơ quan nà nước, người có thẩm quyền tiến
hành.
Pháp luật quy định mỗi loại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện một số
những hoạt động áp dụng pháp luật nhất định. Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến
hành theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không phụ
thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng; sự áp dụng này có tính chất bất buộc đối với chủ
thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan; trong trường hợp cần thiết, quyết định áp dụng
pháp luật được bảo đảm thực hiện bởi các biện pháp cưỡng chế nhà nước.
- Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động được thực hiện theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định chặt chẽ.
- Thí dụ: việc giải quyến quyết một vụ án hành chính được điều chỉnh bởi luật tố
tụng hành chính hoặc việc xử phạt hành chính được điều chỉnh bởi những quy phạm thủ
tục xử phạt hành chính. Các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và các bên có liên
quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính
thủ tục.
- Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với quan hệ
xã hội. Đối tượng của hoạt động áp dụng là những quan hệ điều chỉnh cần sự điều chỉnh
cá biệt, bổ sung trên cơ sở những quy phạm pháp luật chung. Bằng hoạt động áp dụng
pháp luật, những quy phạm áp dụng pháp luật chung được cá biệt hóa, cụ thẻ hóa đối với
những cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể.
- Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo. Khi áp dụng pháp luật,
các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải phân tích vụ việc, làm sáng tỏ nội dung
+ Lựa chọn quy phạm pháp luật và làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của nó để giải
quyết vụ việc.
Lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng giải quyết vụ việc là hành vi tiếp theo
của quá trình áp dụng pháp luật. Trước hết cần đặt ra câu hỏi: quy phạm pháp luật thuộc
ngành nào điều chỉnh tình huống đó? Sau đó chọn quy phạm pháp luật cụ thể và nghiên
cứu nội dung của nó. Khi đó người có thẩm quyền áp dụng quy phạm pháp luật cần phải
phân tích nghiên cứu quy phạm pháp luật dưới những gốc độ sau:
- Phải khẳng định chắc chắn rằng văn bản quy phạm pháp luật đó là văn bản chính
thức. Không nên có quan niệm rằng trước khi hình như quy phạm pháp luật này đã điều
chỉnh trong các trường hợp đó, thì ngày nay cứ đem áp dụng.
- Phải tính chính xác xem văn bản quy phạm pháp luật này đã có văn bản thay thế
nó hay chưa, nói cách khác phải lựa chọn văn bản ở lần ban hành cuối cùng, gần nhất.
- Phải tìm hiểu xem văn bản quy phạm đó ở thời điểm hiện tại còn hiệu lực nay đã
bị bãi bỏ.
- xem xét quy phạm pháp luật đó có hiệu lực vào thời gian xảy ra sự việc đang
tiến hành hay không.
Tóm lại, giai đoạn thứ hai của quá trình áp dụng pháp luật yêu cầu: lựa chọn đúng
quy định pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; xác định quy phạm được lựa chọn là
đang có hiệu lực và không mâu thuẫn với các đạo luật và các văn ban quy phạm khác;
xác định tính chân chính của văn bản quy phạm chứa đựng quy phạm này; nhận thức
đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật.
+ Ra quyết định áp dụng pháp luật.
Đây là giai đoạn trung tâm của quá trình áp dụng pháp luật. Ở giai đoạn này,
những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những biện pháp
trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm được quyết định.
Khi ra quyết định, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải vô tư, khách
quan, không vụ lợi. Quyết định áp dụng pháp luật phải phù hợp với lợi ích của nhà nước,
tập thể, cá nhân được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Quyết định áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, tên gọi, có
cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý, theo đúng mẫu đẫ quy định. Nội của quyết định phải rõ
Giải thích chính thức gồm : Giải thích mang tính quy phạm và giải thích trong
những vụ việc cụ thể.
Giải thíh chính thức mang tính quy phạm là sự giải thích cí tính chất bắt buộc
chung, được đúc rút, tổng kết từ thực tế thực hiện và áp dụng pháp luật, nhằm bảo đảm sự
thực hiện, áp dụng thống nhất pháp luật. Thí dụ: bộ, cơ quan ngang Bô, cơ quạn thuộc
chính phủ ra thông tư hường dẫn để thực hiện nghị định của chính phủ, hoặc Hội đồng
thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ra nghị quyết hướng dẫn hoạt động xét xử.
Giải thích chính thức cụ thể có hiệu lực đối với một vụ việc pháp lý cụ thể, còn
đối với vụ việc khác không có giá trị. Trong quản lý hành chính thường gặp các trường
hợp cấp dưới xin ý kiến cấp trên trong việc giải quyết vụ việc cụ thể khi pháp luật chưa
được giải thích hoặc giải thích chưa đầy đủ.
Ở nước ta, Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền giải thích chính thức Hiến pháp,
luật, pháp lệnh. Về nguyên tắc cơ quan nào có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật thì có quyền giải thích chính thức văn bản đó, hoặc có thể ủy quyền cho cơ
quan cấp dưới giải thích.
b. Giải thích không chính thức.
Giải thích không chính thức là sự giải thích tư tưởng, nội dung của các quy phạm
pháp luật hoặc của một văn bản quy phạm pháp luật không không mang tính chất bắt
buộc phải xử sự theo cách giải thích đó. Loại giải thích này có thể được tiến hành bởi mọi
cá nhân, tổ chức, mặc dù có ý nghĩa bắt buộc đối với các cơ quan nàh nước, tổ chức,
người có thẩm quyền trong hoạt động áp dụng pháp luật, nhưng sự giải thích không chính
thức có ý nghĩa quan trọng tác động tới sự hình thành ý thức pháp luật của các chủ thể
pháp luật và thông qua đó tác động tới hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật.
c. Các phương pháp giải thích pháp luật.
Để làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng của các quy phạm pháp luật, thường sử dụng
những phương pháp giải thích sau:
Phương pháp lôgic là phương pháp dựa trên cơ sở những suy đoán lôgic để làm
sáng tỏ nội dung quy phạm pháp luật, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, được sử
dụng trong trường hợp lời văn của quy phạm không trực tiếp nói đến các yêu cầu của nhà
nước.
hợp pháp của tập thể và công dân đều bị xử lý theo pháp luật”. Như vậy, ở khía cạnh này
có thể hiểu: “pháp chế là những yêu cầu, đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải tuân thủ, chấp hành,
thực hiện đúng đắn, nghiêm chỉnh pháp luật trong mọi hoạt động, hành vi xử sự của
mình; đồng thời phải không ngừng đấu tranh phòng ngừa, chống các tội phạm và các vi
phạm pháp luật khác, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật.
Tình trạng pháp chế đất nước tùy thuộc vào tình trang mức độ thực hiện pháp luật
của các cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân, tình trạng tội phạm vi phạm pháp luật. Do
vậy nếu có sự thực hiện đúng đắn, nghiêm chỉnh pháp luật của tất cả của cơ quan, tổ
chức, công dân thì xã hội mới có pháp chế, trật tự pháp luật.
Pháp chế và pháp luật là hai hiện tượng có quan hệ mặt thiết với nhau, hưng
không thống nhất. Muốn có pháp chế trước hết phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện
về nội dung và hình thức. Pháp luật hoàn thiện về nội dun g và hình thức. Pháp luật là
tiền đề của pháp chế. Nhưng để có pháp chế, bên cạnh hệ thống pháp luật hoàn thiện phải
có sự tuân thủ, chấp hành, sử dụng, áp dụng pháp luật thường xuyên, liên tục, nghiêm
minh của mọi cơ quan, tổ chức, công dân.
Pháp chế = pháp luật + Tuân thủ, thi hành + Sử dụng + Áp dụng đúng đắn pháp
luật.
Pháp chế và dân chủ quan hệ chặt chẻ với nhau. Dân chủ là cơ sở để tăng cường
pháp chế. Do đó, khong có dân chủ sẽ không có pháp chế. Ngược lại pháp chế là điều
kiện để bảo vệ, củng cố và phát triển dấn chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để tăng cường pháp chế phải mở rộng dân chủ, đồng
thời càng mở rộng dân chủ đòi hỏi phải tăng cường pháp chế nhằm duy trì trật tự, kỷ
cương xã hội.
Pháp chế còn có liên hệ với ý thức pháp luật. Ý thức pháp luật đó là sự hiểu biết
của con người về pháp luật, là thái độ tâm lý, tình cảm của họ đói với pháp luật. Muốn
tuân thủ, chấp hành, thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh cần phải có ý thức pháp
luật tốt.
b. Những yêu cầu của pháp chế
Trong tác phẩm “song trùng trực thuộc và pháp chế”, Lê nin đã khẳng định những
công dân khi bị xâm phạm. Trong cụ thể hóa quyền của công dân phải bảo dảm nguyên
tắc việc hạn chế quyền công dân ghi trong Hiến pháp và luật phải được hạn chế bằng văn
bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tránh sự hạn chế một cách tùy tiện.
Công khi sử dụng các quyền, thực hiện nghĩa vụ được pháp luật quy định không
được xâm tới quyền, tự do lợi ích hợp pháp của công dân khác, gây thiệt hại cho lợi ích
nhà nước, xã hội và tập thể. Ngăn chặn kịp thời và xử lý nhanh chóng, công minh mọi vi
phạm pháp luật.
Hành vi vi phạm pháp luật nào xâm phạm trực tiếp hay gián tiếp tới lợi ích của
nhà nước, xã hội và công dân thì các cơ quan nhà nước, người có thảm quyền phải xử lý
nhanh chóng, công minh đối với những vi phạm đó, nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong
xã hội, đời sống nhà nước, nhằm phục hồi lại những quan hệ xã hội bị xâm phạm pháp
luật xâm hại.
c. Những bảo đảm đối với pháp chế.
Những bảo đảm đối với pháp chế là những điều kiện, tiền đề khách quan của sự
phát triển xã hội và những phương tiện do cơ quan nhà nước, tổ chức thực hiện bảo đảm
cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và mọi
công dân thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật.
Những bảo đảm đối với pháp chế bao gồm:
- Những bảo đảm kinh tế. Sự phát triển nền kinh tế nhiều thàn phần vận theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay tạo ra những điều kiện năng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là
cơ sở vững chất để thực hiện các quyền, tự do, bảo vệ lợi ích hợp pháp cảu công dân. Nền
kinh tế phát triển và phồn thịnh góp phần sẽ loại những nguyên nhân cội nguồn, những
nguyên nhân có tính kinh tế - xã hội của nhiều vi phạm pháp luật. Những điều kiện kịnh
tế là cơ sở để thực hiện những bảo đảm khác đối với pháp chế.
- Những bảo đảm chính trị. Để có nền pháp chế bền vững trước hết phải tạo ra sự
ổn định về chính trị, thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và quản lý nhà nước. Sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nà nước và xã hội là bảo đảm chính trị quan
trọng. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trung tâm của quyền lực chính
Những bảo đảm pháp chế luôn phát triển thường xuyên, liên tục về nội dung và
hình thức, ngày càng được cũng cố và mở rộng cùng với sự phát triển của đời sống xã hội
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2. Tăng cường pháp chế trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Tăng cường pháp chế là một trong những yêu cầu khách quan và cấp thiết của
công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội ở nước ta hiện
nay. Để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt
Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật phải thực hiện tốt một số biện pháp sau:
a. Đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật
Với quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân, vấn đề hoàn thiện pháp luật nhằm tạo ra một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn
chỉnh về nội dung, hình thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để hoàn thiện pháp luật ở
nước ta hiện nay cần phải : “ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Ư tiên xây dựng luật về kinh tế, về các quyền công dân và các luật
điều chỉnh cồn cuộc cải tạo bộ máy nhà nước, các luật điều chỉnh các hoạt động văn hóa,
thông tin… năng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với
những quy định cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở
các nguyên tắc chung muốn thực hiện phải có nhiều văn bản hướng dẫn”.
Pháp luật là tiền đề của pháp chế, do đó muốn tăng cường pháp chế và quản lý xã
hội bằng pháp luật phải xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ. Trước hết
phải rà soát và hệ thống hóa pháp luật, loại những văn bản sai trái và không còn thích hợp
với thực tế đồng thời chú trọng việc xây dựng và ban hành đạo luật mới. Trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, đều hết sức quan trọng là pháp luật phải phản
ánh đúng và phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng về công tác tổ chức, về cán bộ,
công chức, về quản lý cán bộ, công chức, và phải có tính khả thi cao.
Việc xây dựng pháp luật phải theo đúng thẩm quyền đã được quy định của Hiến
pháp, Trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đồng thời phải bảo đảm mở rộng
dân chủ xã hội chủ nghĩa.
b. tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật.
Tổ chức thực hiện pháp luật là khâu trung tâm quan trọng nhất của công tác tăng
quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật.
d. sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tăng cường pháp chế.
Công tác tăng cường pháp chế phải đăt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các cấp ủy
Đảng từ trung ương tới địa phương, từ trên xuống dưới phải thường xuyên lãnh đạo công
tác pháp chế, tăng cường cán bộ có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực
cho lĩnh vực pháp chế và kiểm tra chặt chẽ hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan
nhà nước tổ chức, cán bộ, công chức.
Mọi cơ quan, tổ chức, Đảng viên của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ của
Hiến pháp và pháp luật, thực hiện đúng pháp luật, không can thiệp, làm thay thẩm quyền
của các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước.