Trường THCS Hòa Hiệp S¸ng kiÕn kinh nghiÖm §Þa lÝ
Phần I - Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
Để nâng cao chất lượng dạy- học trong giai đọan phát triển mới của đất nước,
đòi hỏi chúng ta phải đổi mới chương trình cũng như cả về phương pháp dạy học .
Nước ta đang phấn đấu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp – mà con
người là nhân tố quyết định. Cho nên chúng ta phải lo nguồn lực con người ngay từ
bây giờ. Để có nguồn lực con người đáp ứng tốt cho yêu cầu trên thì đòi hỏi ngành
giáo dục phải đổi mới chương trình cũng như phương pháp dạy học mới.Phương
pháp dạy học mới này được hiểu là: Học sinh tự học, tự hiểu, tự rèn kĩ năng nhiều để
từ đó có thể phát triển tư duy nhưng phải nhờ vào sự hướng dẫn của giáo viên.
Phương pháp dạy học này hiện đang được coi là phương pháp chủ yếu, sử dụng
rộng rãi trong các trường học và ở tất cả các môn học .
Đối với môn Địa lí ở THCS việc dạy như thế nào để thể hiện đúng sự đổi mới
là vấn đề cần thiết đặc biệt đối với những giáo viên đang dạy Địa lí 8 hiện hành.
Là chương trình mới, là cách dạy mới nhưng đều dựa trên những cái đã có sẵn,
cái cũ, chỉ có cái khác đó là học sinh được làm việc nhiều, hoạt động nhiều, rèn kĩ
năng và kĩ xảo địa lí nhiều, thành thạo .
Bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng
trong bước đi ban đầu này. Nhưng tôi vẫn mạnh dạn chọn Địa lí 8 – Tiết 39 – Bài
33:Đặc điểm sông ngòi Việt Nam( phần 1:Đặc điểm chung ) để thể hiện đôi điều
suy nghĩ của riêng bản thân mình về cách Rèn kĩ năng phát hiện, tìm hiểu, phân
tích, giải thích các mối quan hệ địa lí trong dạy – học một bài lí thuyết Địa lí 8.
2. Mục đích
Được giảng dạy bộ môn Địa lí ở tất cả các khối lớp từ khi thực hiện chương trình
thay sách giáo khoa mới từ năm 2002 cho đến nay, tôi nhận thấy nội dung các bài
trong sách giáo khoa mới có phần phong phú, đa dạng và có yêu cầu cao hơn so với
sách cũ ( mặc dù cũng còn có những hạn chế nhỏ ở từng mục, từng bài ); do đó, đòi
hỏi học sinh phải làm việc với cường độ cao hơn để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo địa
lí.Thông qua từng bài học, tiết học giáo viên sẽ là người trực tiếp hướng dẫn các em
rèn luyện kĩ năng đó. Đây cũng được coi là một trong các phương pháp dạy học tích
Phần này không có cấu trúc chương
Nhưng do thời gian có hạn nên đề tài này tôi chỉ thực hiện ở hoạt động1 -Đặc
điểm chung
Bài 33- Đặc điểm sông ngòi Việt Nam ( tiết 39) thuộc phần hai.
Phần II- Nội dung
1.Cơ sở lí luận
Mục tiêu của giáo dục THCS – theo điều 23 luật Giáo dục là “nhằm giúp học
sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn
phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục
học THPT ,hoặc đi vào cuộc sống lao động “.Để phục vụ mục tiêu trên, sách giáo
khoa địa lí 8 được biên soạn theo hướng tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới
phương pháp dạy học là biết sử dụng các phương pháp đặc trưng của bộ môn địa lí
phù hợp với yêu cầu bài giảng, với trình độ tiếp thu của học sinh, là đổi mới cách
đánh giá học sinh, là biết tổ chức hướng dẫn học sinh tự tiếp thu kiến thức tại lớp.
Sách giáo khoa địa lí 8 đề cập đến những sự vật, hiện tượng địa lí đó là: Châu
Á; Tổng kết địa lí tự nhiên và điạ lí các châu lục ( tiếp nối kiến thức của địa lí 7 -
Thiên nhiên và con người ở các châu lục) và Địa lí Việt Nam ( tự nhiên ).Vì thế,
cách rèn cho học sinh có kĩ năng phát hiện, tìm hiểu, phân tích các mối quan hệ địa
lí trong việc dạy–học là vô cùng cần thiết và đây được coi là một phương pháp dạy
học tích cực. Điều đó được thể hiện rõ nhất ở những điểm sau:
- Giáo viên huy động được vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh trong suốt bài
giảng để từ đó cung cấp kiến thức mới cho học sinh.
- Giáo viên khuyến khích học sinh mạnh dạn phát biểu các nhận xét, cách nhìn
nhận và các quan điểm riêng của mình đối với từng sự vật, hiện tượng địa lí để qua
GV: Đoàn Lê Anh Vũ 2
Trường THCS Hòa Hiệp S¸ng kiÕn kinh nghiÖm §Þa lÝ
đó rèn luyện óc tư duy và phán đoán địa lí cho học sinh để từ đó tạo lập được các
mối quan hệ địa lí .
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh sử dụng kiến thức vừa học để giải các bài
tập hoặc ứng dụng vào thực tế cuộc sống hàng ngày.Trong đó đáng lưu ý là khả năng
2
,…)
Gv: Vì sao nước ta có rất nhiều sông suối, song phần lớn lại là các sông ngắn
nhỏ và dốc( 93% là sông nhỏ, ngắn; diện tích lưu vực dưới 500 km
2
)?
Hs : nhiều sông suối vì:
+ địa hình 3/4 diện tích là đồi núi
+lượng mưa nhiều(1500-2000 mm/năm)
-sông nhỏ, ngắn và dốc vì:
+3/4 diện tích nước ta là đồi núi
+ đồi núi lan ra sát biển
+ chiều ngang lãnh thổ hẹp
+sông chảy theo hướng TB-ĐN
GV: Đoàn Lê Anh Vũ 3
Trường THCS Hòa Hiệp S¸ng kiÕn kinh nghiÖm §Þa lÝ
Như vậy, học sinh đã xác lập được mối quan hệ địa lí đầu tiên của bài: ảnh
hưởng của đặc điểm địa hình tới mạng lưới sông và đã phân tích được mối quan
hệ địa lí này.
Để xác lập được mối quan hệ này học sinh phải nhớ lại kiến thức. Bài 28: Đặc điểm
địa hình Việt Nam-đồi núi là bộ phận quan trọng nhất của cấu trúc địa hình Việt
Nam (3/4 diện tích lãnh thổ ).
nếu học sinh nào ham tìm hiểu các em sẽ nhớ lại khái niệm lưu vực sông: là diện
tích đất đai cung cấp nước thường xuyên cho một con sông- (địa lí 6 ) và học sinh
sẽ nhớ lại lưu vực sông Hồng 170000 km
2
; lưu vực sông Mê Công 795000 km
2
để
nắm chắc đặc điểm này hơn.
Hs: Sẽ suy ngay ra được, chế độ nước sẽ liên quan đến chế độ mưa (khí hậu
điều hoà=>chế độ nước điêù hoà).
Từ việc lưu nhớ lại kiến thức của bài cũ Hs giải thích dựa vào hai bảng số liệu là
bảng
GV: Đoàn Lê Anh Vũ 4
Trường THCS Hòa Hiệp S¸ng kiÕn kinh nghiÖm §Þa lÝ
31.1 và bảng 33.1
Gv yêu cầu H đọc, quan sát bảng 33.1 .Mùa lũ trên các lưu vực sông
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Các sông ở Bắc Bộ + + ++ + +
Các sông ở Trung Bộ + + ++ +
Các sông ở Nam Bộ + + + ++ +
Ghi chú: tháng lũ: + ; tháng lũ cao nhất: ++
Hs: Quan sát bảng 31.1.Nhiệt độ và lượng mưa các trạm khí tượng Hà Nội
, Huế và thành phố Hồ Chí Minh nhận xét được mùa lũ trên các lưu vực sông
không trùng nhau ( giống nhau) .
Tháng
Trạm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Hà Nội
Độ cao:5m
Vĩ độ :21
0
01
’
B
Kinh
độ:105
0
’
B
Kinh
Lượng
mưa
(mm)
13,8 4,1 10,5 50,4 218,4 311,7 293,7 269,8 327,0 266,
7
116,5 48,3
- mùa lũ của sông sẽ trùng với mùa gió Tây Nam ( mùa hạ): có lượng mưa lớn
chiếm 80% lượng mưa cả năm.
VD: Lượng mưa trung bình tháng 7(mm)
+ Bắc Bộ ( Hà Nội): 288,2mm=>mưa rào
+ Trung Bộ (Huế):95,3mm=> mưa rất ít (gió Tây khô nóng ,bão)
+ Nam Bộ ( thành phố Hồ Chí Minh):293,7mm => mưa rào
- mùa cạn của sông sẽ trùng với mùa gió Đông Bắc( mùa đông): có lượng mưa rất
ít.
VD: Lượng mưa trung bình tháng 1(mm):
+ Bắc Bộ( Hà Nội): 18,6mm=>mưa phùn
+Trung Bộ(Huế): 161,3 mm=>mưa lớn ( mưa phùn)
+ Nam Bộ( thành phố Hồ Chí Minh): 13,8mm => mưa rất ít vì nắng ,
nóng , khô hạn
Như vậy, chế độ nước sông phụ thuộc vào chế độ mưa ( chế độ mưa gió mùa)
GV: Đoàn Lê Anh Vũ 5
Trường THCS Hòa Hiệp S¸ng kiÕn kinh nghiÖm §Þa lÝ
Gv yêu cầu Hs : Giải thích vì sao có sự khác biệt ấy? Hs phân tích tiếp mối quan hệ
địa lí giữa mùa lũ trên các lưu vực sông với yếu tố khí hậu
Vì chế độ mưa trên mỗi lưu vực( mỗi khu vực ) một khác:
-Bắc Bộ(Hà Nội): mưa nhiều tháng 5=> tháng 10 (tháng 8: 318mm ).
-Trung Bộ + Đông Trường Sơn: mưa nhiều từ tháng 9=> tháng 12(tháng 10:
*Thuận lợi :
- Thiên nhiên : bồi đắp phù sa tạo ra các đồng bằng châu thổ, mở rộng diện tích
đồng bằng, bồi đắp phù sa màu mỡ,…
- Đời sống nhân dân : xuất hiện phong tục, tập quán, lịch canh tác và sản xuất
nông nghiệp (đặc biệt là nghề thâm canh trồng lúa nước ),…
*Khó khăn :
Hàm lượng phù sa của sông ngòi nước ta lớn như vậy còn chứng tỏ một điều, đó là
do độ che phủ của rừng nước ta đang báo động; chỉ có chặt phá, khai thác một cách
bừa bãi không có kế hoạch,…như vậy đã làm cho đất đá từ các vùng thượng nguồn
theo các dòng sông chảy về hạ lưa là rất lớn.
Từ đó đặt ra vấn đề, chúng ta phải làm gì để hạn chế bớt khó khăn trên?( Mặc dù
chúng ta biết rằng hàm lượng phù sa của sông lớn đem lại giá trị không nhỏ cho việc
phát triển kinh tế –xã hội ở nước ta. )
GV: Đoàn Lê Anh Vũ 6
Trường THCS Hòa Hiệp S¸ng kiÕn kinh nghiÖm §Þa lÝ
Có rất nhiều kĩ năng xác lập, nhận xét, phân tích, giải thích,…các mối quan hệ địa
lí trong hoạt động 1 - Đặc điểm chung của bài 33- Đặc điểm sông ngòi Việt Nam
nhưng nói tóm lại, thông các kĩ năng đó học sinh đã được tiếp thu kiến thức mới của
bài học, cụ thể là sông ngòi Việt nam có 4 đặc điểm chính:
1.Mạng lưới sông: dày đặc, phân bố rộng.
2.Hướng chảy: có 2 hướng chính: Tây Bắc- Đông Nam ; vòng cung
3.Mùa nước: có 2 mùa lũ và cạn
4.Hàm lượng phù sa:lớn
Tìm hiểu được bốn đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam học sinh đã được rèn
kĩ năng quan trọng không kém phần chỉ bản đồ, xác định các đối tượng địa lí, phân
tích các đối tượng địa lí trên bản đồ, lược đồ, sơ đồ… Đó là kĩ năng phát hiện, phân
tích, giải thích các mối quan hệ điạ lí.
Dựa trên phần tìm hiểu đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam học sinh vừa tiếp
thu kiến thức mới, vừa được củng cố kiến thức cũ của các bài học trước, của các lớp
trước.
Trường THCS Hòa Hiệp S¸ng kiÕn kinh nghiÖm §Þa lÝ
Qua đề tài này, tôi mong muốn được gửi gắm một vài suy nghĩ của riêng cá
nhân tôi trong quá trình vận dụng đổi mới phương pháp Rèn kĩ năng phát hiện,
tìm hiểu, phân tích, giải thích các mối quan hệ địa lí trong dạy - học một bài
lí thuyết Địa lí 8.
Tôi nhận thấy nếu so sánh hai phương pháp dạy- học rèn kĩ năng phát hiện,
tìm hiểu, phân tích, giải thích các mối quan hệ địa lí trong một bài lí thuyết
thì sách giáo khoa cũ phương pháp dạy- học cũ trước đây đã từng làm, nhưng có
thể phương pháp chưa mới, kĩ năng cũng chưa rõ như hiện nay.
Chính vì vậy mà hiện nay, khi áp dụng phương pháp này để giảng dạy tất cả
các bài địa lí nói chung và Địa lí 8 nói riêng thì tôi thấy rất hiệu quả, bởi học sinh
được rèn kĩ năng nhiều (phát hiện, suy luận, phán đoán, kết luận,…). Đây cũng là
mục tiêu quan trọng trong từng bài học của bộ môn địa lí (kể cả lí thuyết cũng
như thực hành).
Thông qua từng kĩ năng, học sinh xác lập được các mối quan hệ địa lí, học sinh
có thể nhớ lại được, củng cố lại, hệ thống kiến thức cũ và tích luỹ thêm kiến thức
mới. Đó là ưu điểm của việc rèn kĩ năng địa lí này cho học sinh.
Như vậy, đổi mới không có nghĩa là loại trừ cái đã có để bắt đầu hoàn toàn một
con đường mới. Mà đổi mới trên cơ sở tiếp thu những tiến bộ của cái cũ.
Mặc dù vậy, việc giảng dạy, rèn kĩ năng này cho học sinh ở trường THCS Bàng
La còn gặp rất nhiều hạn chế, do mặt bằng chất lượng học sinh đại trà còn thấp;
học sinh rất lười học nên vốn kiến thức tích luỹ qua từng bài học , tiết học rất
nghèo. Muốn làm tốt được kỹ năng này vừa có chất lượng, vừa có hiệu quả đòi
hỏi học sinh phải có ý thức học ngay từ đầu, phải có vốn kiến thức chắc chắn thì
mới có thể thực hiện được.Vì thế, tôi cùng các đồng nghiệp của nhà trường cần
phải cố gắng và nỗ lực hơn nữa để áp dụng phương pháp này tốt hơn, hiệu quả
hơn.
Cuối cùng tôi cũng mong nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng của các
đồng chí, đồng nghiệp để tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt hơn việc dạy một bài
Địa lí 8 nói riêng và bộ môn địa lí nói chung ở trung học cơ sở.
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
GV: Đoàn Lê Anh Vũ 9