PHÒNG GD & ĐT SỐP CỘP Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
TRƯỜNG THCS DỒM CANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Giáo viên : Đỗ Văn Hưng
Chuyên ngành: GDCD - Địa.
Trường THCS . Dồm Cang
Năm học 2010 -2011
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm.
Để nâng cao chất lượng dạy- học trong giai đọan phát triển mới của đất nước,
đòi hỏi chúng ta phải đổi mới chương trình cũng như cả về phương pháp dạy học .
Nước ta đang phấn đấu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp – mà
con người là nhân tố quyết định. Cho nên chúng ta phải lo nguồn lực con người
ngay từ bây giờ. Để có nguồn lực con người đáp ứng tốt cho yêu cầu trên thì đòi
hỏi ngành giáo dục phải đổi mới chương trình cũng như phương pháp dạy học mới.
Phương pháp dạy học mới này được hiểu là: Học sinh tự học, tự hiểu, tự rèn kĩ
năng nhiều để từ đó có thể phát triển tư duy nhưng phải nhờ vào sự hướng dẫn của
giáo viên.
Phương pháp dạy học này hiện đang được coi là phương pháp chủ yếu, sử
dụng rộng rãi trong các trường học và ở tất cả các môn học .
Đối với môn Địa lí ở THCS việc dạy như thế nào để thể hiện đúng sự đổi mới
là vấn đề cần thiết đặc biệt đối với những giáo viên đang giảng dạy môn Địa lí 8
hiện hành.
Là chương trình mới, là cách dạy mới nhưng đều dựa trên những cái đã có sẵn,
cái cũ, chỉ có cái khác đó là học sinh được làm việc nhiều, hoạt động nhiều, rèn kĩ
năng, thành thạo để trở thành kĩ xảo trong môn học .
Bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng
trong bước đi ban đầu này, vì thế trong các tiết giảng tôi cảm thấy hoạt động của
thầy và trò còn chưa đạt hiệu quả cao, học sinh còn chưa biết khai thác kiến thức từ
kênh hình mà đặc biệt là các kiến thức cũ thì học sinh miền núi hầu như không thể
khai thác được. Nhưng tôi vẫn mạnh dạn chọn Địa lí 8 – Tiết 39 – Bài 20: Khí
lĩnh hội tri thức một cách thực sự mà không bị thụ động - Đây là điều mà cả giáo
viên và học sinh hiện nay đang hướng tới.
2
4.Phạm vi sáng kiến kinh nghiệm
Trong cấu trúc nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lí 8 gồm 2 phần :
Phần một : Thiên nhiên, con người ở các châu lục ( tiếp)
Gồm 21 bài thuộc 2 chương
XI.Châu Á
-15 tiết lí thuyết
- 3 tiết thực hành
XII.Tổng kết địa lí tự nhiên các châu lục
- 3 tiết lí thuyết
Phần hai: Địa lí Việt Nam (Địa lí tự nhiên )
Gồm -18 tiết lí thuyết
- 5 tiết thực hành
Phần này không có cấu trúc chương
Nhưng do thời gian có hạn nên đề tài này tôi chỉ thực hiện ở hoạt động 1 Khí
hậu trên trái đất.
Bài 20 Khí hậu và cảnh quan trên trái đất ( tiết 24) thuộc phần một.
PHẦN II- NỘI DUNG
1.Cơ sở lí luận
Mục tiêu của giáo dục THCS – theo điều 23 luật Giáo dục là “nhằm giúp học
sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn
phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp
tục học THPT ,hoặc đi vào cuộc sống lao động “.
Để phục vụ mục tiêu trên, sách giáo khoa Địa lí 8 được biên soạn theo hướng
tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học là biết sử dụng các
phương pháp đặc trưng của bộ môn địa lí phù hợp với yêu cầu bài giảng, với trình
độ tiếp thu của học sinh, là đổi mới cách đánh giá học sinh, là biết tổ chức hướng
dẫn học sinh tự tiếp thu kiến thức tại lớp.
* Khó khăn.
- Việc trao đổi kinh nghiệm có trao đổi nhưng chưa thường xuyên.
- Thiết bị đồ dùng còn thiếu cho công tác giảng dạy.
- Học sinh còn chưa nâng cao ý thức học tập lên kết quả còn yếu.
* Điều tra khảo sát.
4
- Các em học sinh đa số là con em dân tộc nên ngôn ngữ phổ thông chưa phổ
biến, gia đình ở xa trường lớp, điều kiện gia đình còn khó khăn, quản học sinh
trong các buổi học buổi tối còn hạn chế. Phong tục tập quan còn lạc hậu nhất là học
sinh thuộc dân tộc H Mông
Tổng số học sinh toàn khối 8 là 71 học sinh.
Kết quả đánh gia sau bài học của năm học 2007-2008
Tổng số. Giỏi. Khá. Trung bình Yếu Kém.
71 0 2 18 29 12
3.Các bước tiến hành
Đây là kiểu bài cung cấp lí thuyết- mục tiêu là cung cấp cho học sinh về kiến
thức trên cơ sở rèn kĩ năng tìm, phân tích các mối quan hệ địa lí( giáo dục cho
học sinh có kĩ năng đúng, chính xác là điều rất quan trọng). Dựa vào mục tiêu đó,
giáo viên có những định hướng giảng dạy cho phù hợp và hiệu quả.
Bài 20: Khí hậu và cảnh quan trên trái đất.
Hoạt động 1( trọng tâm): Khí hậu trên trái đất.
Muốn tạo được kĩ năng nhận biết, phân tích các mối liên hệ địa lí thì yêu cầu học
sinh phải tự chuẩn bị bài ở nhà, đồng thời kết hợp dựa trên những đơn vị kiến thức
đã được học ở những bài trước, đặc biệt là chương trình lớp 6 và lớp 7( yêu cầu
học sinh học đến đâu phải nắm bài, nắm chắc kiến thức đến đấy “ tạo vốn ” ngay
từ ban đầu) thì mới có thể làm tốt được kĩ năng này).
Mục tiêu của hoạt động này sau bài học, học sinh phải:
- Các đới khí hậu và một số kiểu khí hậu.
- Giải thích được các câu hỏi lệnh trong sách giáo khoa.
5
0
27' B đến 23
0
27' N
- Đới ôn hoà ( Ôn đới ) .) 23
0
27' B đến 66
0
33' B
23
0
27' N đến 66
0
33' N
Từ đó giáo viên yêu cầu học sinh đề xuất.
(?) Nêu đặc điểm của ba kiểu môi trường ( Nhiệt đới, Ôn đới, Hàn đới.)
Thông thường đối với học sinh miền núi thường không trả lời được câu hỏi này.
Vì thế giáo viên phải có sự chuẩn bị bằng bảng phụ và câu hỏi gợi ý.
Đặc diểm Đới nóng, hay nhiệt đới.
(?) Ở đới nóng là nơi nhận được nhiều lượng ánh sáng mặt trời thì nhiệt độ quanh
năm ở đây ra sao.
HS. Nhiệt độ quanh năm cao (nóng)
(?) Ở địa phương chúng ta thì thảm thực vật như thế nào.
HS. Thảm thực vật xanh tốt.
GV điểu đó chứng tỏ lượng mưa nhiều.
GV treo bảng phụ.
7
- Là khu vực quanh năm có góc chiếu của ánh sáng mặt trời lúc giữa trưa
tương đối lớn và thời gian chiếu sáng trong năm chênh nhau ít.
- Lượng nhiệt hấp thu được tương đối nhiều nên quanh năm nóng. Mùa đông
Gợi ý đường xích đạo là ranh giới bán cầu Bắc và bán cầu Nam. GV xác định cho
HS biết.
HS trả lời. - Việt Nam nằm chủ yếu ở đới nóng thuộc bán cầu Bắc.
- Oen - lin - tơn nằm chủ yếu ở đới Ôn hoà. Nằm ở bán cầu Nam.
GV giải thích . Thủ đô Oen - lin - Tơn của Niu- Di - Lân đón năm mới vào những
ngày ấm vì vào tháng 12 tia sáng mặt trời tạo thành góc chiếu lớn với chí tuyến
nam, (Bán cầu Nam ngả về phía mặt trời) địa điểm này nhận được nhiều nhiệt nên
nóng ấm.
Ảnh chứng minh.
9
Việt Nam.
Oen - lin
- tơn
Đối với phân tích biểu đồ cần có sự trợ giúp của giáo viên, và đưa ra bốn dạng
biểu đồ.( Nhiệt đới gió mùa, Xích đạo, Cận nhiệt địa trung hải, Ôn đới lục địa.)
Biểu đồ A.
Nhiệt độ
tháng thấp
nhất
Nhiệt độ
tháng Cao
nhất.
Biên độ
nhiệt
Tháng khô
hạn
Tháng mưa
nhiều hay
mùa mưa.
GV đưa ra bảng đáp án.
Biểu đồ A.
Nhiệt độ
tháng
thấp nhất
Nhiệt độ
tháng Cao
nhất.
Biên độ
nhiệt
Tháng
khô hạn
Tháng mưa
nhiều hay
mùa mưa.
Kết luận .
Tháng Tháng 4 và Biên độ Tháng 1 Từ tháng 5 Nhiệt độ cao
10
12 và
tháng 1.
Khoảng
27
0
C
tháng 11.
Khoảng 30
0
C
nhiệt
khoảng 3
10
Biểu đồ xích đạo.
Biểu đồ C.
Nhiệt độ
tháng thấp
nhất
Nhiệt độ tháng
Cao nhất.
Biên độ nhiệt Mùa mưa. Kết luận
thuộc kiểu khí
hậu nào.
Tháng 1 và
tháng 12.
Khoảng
- 10
0
C
Tháng 7 gần
30
0
C
Gần 40
0
C Mưa quanh
năm mưa
nhiều từ tháng
6 đến tháng 9
Biểu đồ thuộc
khí hậu ôn đới
lục địa.
Gió là sự di chuyển ngang của không khí tương đối so với mặt đất từ nơi có khí
áp cao đến nơi có khí áp thấp
Hình 51 địa lí 6 trang 59. ( Học sinh đối chiếu hình 20.3)(?) Trên trái đất có những loại gió chính nào. Dựa vào hình 20.3
HS. Gồm có gió Tín phong, gió đông cực và gió tây ôn đới.
(?) Lượng nhiệt trên trái đất có phân bố đồng đều với nhau hay không.
HS. Lượng nhiệt phân bố không đồng đều
GV đó chính là nguyên nhân làm cho khí áp ở các nơi trên trái đất không giống
nhau. ( khí áp cao và khí áp thấp.)
(?) Như vậy hướng gió thổi không giống nhau.
GV giải thích. Do đới nóng nhận được nhiều lượng nhiệt do ánh sáng mặt trời luôn
có góc chiếu sáng lớn, nhiệt độ luôn cao làm cho khí áp luôn thấp. Không khí nóng
nở ra bốc lên cao toả ra hai bên xích đạo, sau đó lạnh dần,giáng xuống khoảng các
vĩ độ30- 35 độ của cả hai bán cầu tạo thành khu khí áp cao, từ đó gió thổi về bổ
sung cho vùng xích đạo. Các luồng khí này thổi đều đặn quanh năm gọi là gió tín
phong hay gió mậu dịch, khu áp cao này còn chuyển động về vĩ tuyễn 60
0
của hai
bán cầu, nơi có khí áp thấp tạo nên gió Tây ôn đới . Cũng tương tự như vậy với gió
ở vùng cận cực. Do trái đất quay quanh trục từ tây sang đông nên các khối khí dịch
chuyển về xích đạo bị lệch sang phía tây ( Chịu tác động của lực Cô -ri - ô - lít.)
GV treo lược đồ về châu phi cho học sinh quan sát.
(?) Châu phi có hình gì.( Nhắc lại kiến thức cũ.)
HS Châu phi có hình khối, đối xứng qua xích đạo.
12
Lược đồ các môi trường tự nhiên ở châu phi.
(?) Phía tây bắc châu phi có dòng biển nào chảy qua.
Năm học Tốt Khá TB Yếu kém
2007- 2008 0 2 18 29 12
2010 - 2011 5 28 35 3 0
2. Bài học kinh nghiệm.
Qua đề tài này, tôi mong muốn được gửi gắm một vài suy nghĩ của riêng cá
nhân tôi trong quá trình vận dụng đổi mới phương pháp Rèn kĩ năng phát
hiện, tìm hiểu, phân tích, giải thích các mối quan hệ địa lí trong dạy - học
một bài lí thuyết Địa lí 8.
Tôi nhận thấy nếu nếu để học sinh tự nghiên cứu thảo luận thì hiệu quả không
được cao vì học sinh không còn nhớ kiến thức cũ, nhìn vào bảng biểu kênh hình
không khai thác được thông tin, tiết học không đảm bảo. Là bài học khó của
chương trình lớp 8, giáo viên phải có sự đầu tư cho tiết dạy rất nhiều, đồ dùng,
tranh ảnh nhiều trong một tiết dạy, năm bắt được tình hình của học sinh.
Chính vì vậy mà hiện nay, khi áp dụng phương pháp này để giảng dạy tất cả
các bài địa lí nói chung và Địa lí 8 nói riêng thì tôi thấy rất hiệu quả, bởi học
sinh được rèn kĩ năng nhiều (phát hiện, suy luận, phán đoán, kết luận,…). Đây
cũng là mục tiêu quan trọng trong từng bài học của bộ môn địa lí (kể cả lí
thuyết cũng như thực hành).
Thông qua từng kĩ năng, học sinh xác lập được các mối quan hệ địa lí, học
sinh có thể nhớ lại được, củng cố lại, hệ thống kiến thức cũ và tích luỹ thêm
kiến thức mới. Đó là ưu điểm của việc rèn kĩ năng địa lí này cho học sinh.
Như vậy, đổi mới không có nghĩa là loại trừ cái đã có để bắt đầu hoàn toàn
một con đường mới. Mà đổi mới trên cơ sở tiếp thu những tiến bộ của cái cũ.
Mặc dù vậy, việc giảng dạy, rèn kĩ năng này cho học sinh ở trường THCS
Dồm Cang huyện Sốp Cộp còn gặp rất nhiều hạn chế, do mặt bằng chất lượng
học sinh đại trà còn thấp; học sinh rất lười học nên vốn kiến thức tích luỹ qua
từng bài học , tiết học rất nghèo. Muốn làm tốt được kỹ năng này vừa có chất
14
lượng, vừa có hiệu quả đòi hỏi học sinh phải có ý thức học ngay từ đầu, phải có
vốn kiến thức chắc chắn thì mới có thể thực hiện được.Vì thế, tôi cùng các đồng