Khai thác kênh hình và tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản - Pdf 29

 !"#$
%&'()*+*,
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………… Trang 1
2. Mục đích nghiên cứu Trang 2
3. Phạm vi nghiên cứu Trang 3
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu Trang 3
5. Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm Trang 3
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận Trang 4
2. Cơ sở thực tiễn Trang 7
CHƯƠNG II. CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC TẾ TRONG VIỆC “
KHAI THÁC KÊNH HÌNH VÀ SƯU TẦM TƯ LIỆU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢNH DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 BAN CƠ BẢN”
1.Yêu cầu đối với giáo viên và học sinh ……………………… Trang 10
2. Nội dung giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu học
tập   !"  #  $  %  /  0      !"  #  &'  ()  +
*122222222222222222222222 Trang 12
2.1 Trước hết tôi giúp học sinh phân loại các kênh hình Trang 12
2.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình Trang 13
2.3. Biện pháp tiến hành cụ thể Trang 14
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC Trang 53
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận………………………………………………………… Trang 56
2. Khuyến nghị…………………………………………………… Trang 57
PHẦN IV. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………… Trang 59.
3/435.33 3/(
 !"#$
%&'()*+*,

%&'()*+*,
bản đồ, đồ thị, niên biểu, sơ đồ,… Các loại đồ dùng trực quan này góp phần
không nhỏ vào việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy,
cung cấp kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, nâng cao nhận thức lịch sử, khả năng
thực hành…Vì vậy, sách giáo khoa lịch sử hiện nay đã dành cho phần kênh
hình một tỉ lệ khá cao. Đây vừa là nội dung minh họa bài học vừa là một bộ
phận kiến thức cần hình thành cho học sinh. Kênh hình không chỉ sử dụng khi
trình bày kiến thức mới mà còn dùng để ôn tập, tổng kết, kiểm tra, hoạt động
ngoại khóa và thực hành.
Trong sách giáo khoa lịch sử, kênh hình bao giờ cũng gắn liền với nội
dung bài viết, câu hỏi, bài tập. Do đó kênh hình đã thay thế một phần nội
dung đáng kể của bài học. Học sinh được sự hướng dẫn của giáo viên tìm hiểu
nội dung kênh hình, khai thác triệt để kênh hình qua đó nhận thức được sự
kiện đang học một cách hứng thú, sinh động, sâu sắc mà nhớ lâu, học sinh sẽ
yêu thích lịch sử từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học lịch sử.
Những kiến thức lịch sử cơ bản có trong sách giáo khoa chỉ là những
yêu cầu tối thiểu đối với học sinh. Để nâng cao được hiệu quả dạy học bộ
môn không phải chỉ cần học sinh ghi nhớ những kiến thức cơ bản đó mà học
sinh phải yêu thích lịch sử để tìm kiếm và chủ động, ý thức tự giác học tập.
Do đó, để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, yêu
cầu giáo viên phải hướng dẫn học sinh khai thác triệt để những kênh hình
trong sách giáo khoa kết hợp với việc tự tìm tòi hoặc giáo viên cung cấp một
số tư liệu, hình ảnh cho học sinh tìm hiểu kiến thức và nhận thức lịch sử. Đó
là lý do tôi chọn chuyên đề “Khai thác kênh hình và tư liệu để nâng cao hiệu
quả giảng dạy lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Tôi thực hiện chuyên đề này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giảng
dạy bộ môn lịch sử ở trường THPT, tạo hứng thú học tập cho học sinh và
thông qua nội dung kênh hình giáo dục cho học sinh kỹ năng quan sát, khai
3/435.33 3/7

 !"#$
%&'()*+*,
 PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận.
Đai – ri, nhà giáo dục Liên Xô cũ đã từng nói : “ Dạy lịch sử cũng như
bất cứ dạy cái gì đòi hỏi người thầy phải khêu gợi cái thông minh chứ không
phải là bắt buộc các trí nhớ làm việc, bắt nó ghi chép rồi trả lại”. Như vậy
mục đích của việc dạy học Lịch sử ở trường không chỉ giúp cho học sinh hình
dung được quá khứ biết và ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng của lịch sử mà
quan trọng hơn là hiểu được lịch sử tức là phải nắm được bản chất của sự
kiện. Trong phát triển tư duy của học sinh, việc sử dụng các thao tác logic có
ý nghĩa rất quan trọng. Thông thường giáo viên sử dụng các thao tác chủ yếu
như so sánh (để tìm ra sự giống nhau và khác nhau về bản chất các sự kiện),
phân tích và tổng hợp( giúp học sinh khái quát các sự kiện), quy nạp, diễn
dịch…Để thực hiện những thao tác như vậy có thể dùng nhiều cách, nhiều
phương tiện khác nhau( đồ dung trực quan, tài liệu giải thích…), song việc
hỏi và trả lời phù hợp với trình độ yêu cầu của học sinh, đưa lại kết quả tốt.
Hỏi và trả lời không phải là sự đánh đố mà là giúp các em hiểu sâu sắc lịch sử
hơn, phát huy được tính tích cực của học sinh trong học tập.
N.G. Đairi, trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”, NXB
Giáo dục, Hà Nội 1973, đã nêu lên yêu cầu học tập lịch sử đối với học sinh
“học tập lịch sử không phải chỉ chờ vào trí nhớ mà còn phải dựa vào tư duy
logic và sự phán đoán” [5, 22]. Từ đó, ông đề xuất một số biện pháp phát huy
tính tích cực của học sinh trong dạy và học lịch sử.
T.A.Ilina trong cuốn “Giáo dục học” tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội
1973 đã đưa ra một số biện pháp sư phạm như: phương pháp làm việc với
sách giáo khoa, phương pháp học tập ở phòng thí nghiệm, phương pháp luyện
tập, ôn tập đặc biệt là phương pháp phát huy tính tích cực học tập của học
sinh.

mà bao gồm một hệ thống các phương pháp có quan hệ chặt chẽ, tác động, hỗ
3/435.33 3/:
 !"#$
%&'()*+*,
trợ nhau trong quá trình dạy học như: phương pháp thông tin, tái hiện lịch sử,
phương pháp nhận thức lịch sử; phương pháp tìm tòi, nghiên cứu…
Hệ thống phương pháp này được thực hiện thông qua nhiều phương pháp,
biện pháp, cách dạy học cụ thể, chủ yếu là trình bày miệng, sử dụng đồ dùng
trực quan (và các phương tiện dạy học hiện đại như vi deo, chiếu bóng…)
Như vậy, muốn đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn lịch sử
giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp nhằm phát huy tính tự tin, tích
cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập
của học sinh: khai thác kênh hình trong sách giáo khoa (SGK), hướng dẫn cho
học sinh sưu tầm những hình ảnh, những kiến thức lịch sử, ứng dụng công
nghệ thông tin (CNTT) vào thiết kế, xây dựng bộ câu hỏi học tập, các bài tập
thực hành, đố vui lịch sử, thư viện thông tin… cho học sinh, hướng dẫn học
sinh tự học, sử dụng sơ đồ hóa, sơ đồ tư duy trong giảng dạy…
Việc học tập lịch sử thông qua các biện pháp trên nói chung và việc
khai thác kênh hình, sưu tầm tài liệu nói riêng sẽ tạo nhiều hứng thú cho các
em trong học tập, các em được tiếp cận, nhận thức các sự kiện lịch sử và bài
học lịch sử sống động hơn, gần với quá khứ hơn. So với những bài giảng
thông thường, học sinh phải mường tượng trong đầu những sự kiện, nhân vật
mà thầy cô thuyết giảng thì với việc học trên bài giảng điện tử, khai thác các
kênh hình, tìm tòi và nghiên cứu học sinh đã được trực quan sinh động với
những sự kiện, nhân vật lịch sử một cách cụ thể giúp kích thích quá trình tư
duy của học sinh. Từ đó, nội dung kiến thức lịch sử học sinh thu thập đủ hơn
và in sâu hơn vào trong trí nhớ của các em, giờ học sẽ trở nên sôi nổi hơn,
hiệu quả hơn với sự tham gia đóng góp những ý kiến có chất lượng của nhiều
học sinh và học sinh sẽ thực sự chủ động quá trình dạy học, giáo viên có thể
hoàn thành vai trò hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức bền vững hơn. Qua

tiết học. Bằng phương pháp này, giờ học lịch sử đã trở thành giờ kể chuyện
lịch sử, các sự kiện, hiện tượng lịch sử được trình bày một cách trừu tượng,
qua loa, chưa đạt tới mức độ có thể giúp học sinh hình dung về quá khứ, các
3/435.33 3/<
 !"#$
%&'()*+*,
kĩ năng thực hành bộ môn, khả năng quan sát, suy luận, trình bày các vấn đề
lịch sử… của học sinh đã không được chú trọng theo đúng yêu cầu đổi mới
của mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình sách giáo khoa và phương pháp
dạy học. Với việc sử dụng đó đồ dùng trực quan, khai thác kênh hình chỉ có
giá trị được dùng để minh họa cho lời giảng của giáo viên nên giá trị sử dụng
của đồ dùng trực quan trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học không cao
hoặc không cần thiết (không sử dụng cũng được). Đây chính là kiểu dạy học
“cầm tay chỉ việc” có tính cách “học hộ” và áp đặt, làm cho người học trở nên
thụ động, mất khả năng và hứng thú tìm tòi, sáng tạo.
Phương pháp dạy học truyền thống vẫn tiếp tục được áp dụng. Hiện
tượng thuyết giảng một chiều, thầy đọc, trò chép diễn ra khá phổ biến trong
các giờ học môn lịch sử. Đồ dùng dạy học chưa sử dụng triệt để, đôi khi trong
tiết dạy giáo viên chỉ đưa ra một số bức tranh, sơ đồ minh hoạ không đủ sức
cuốn hút, hấp dẫn học sinh. Đôi khi các sơ đồ lược đồ được sử dụng không
đảm bảo tính sư phạm.
Sách giáo khoa lịch sử hình ảnh để minh họa cho bài học màu sắc
không sinh động (đen - trắng). Giáo viên lịch sử lại không chú trọng việc
hướng dẫn học sinh khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa để các em
hiểu biết kĩ hơn về kiến thức có liên quan tới bài học và ít hướng dẫn các em
sưu tầm tư liệu thêm để giúp bài học thêm sinh động.
Phân phối chương trình bộ môn lịch sử chỉ có 1,5 tiết / tuần, mà kiến
thức lịch sử trong SGK lại rất giàn trải, và đặc biệt với số lượng thời gian ít
nên không có tiết sửa bài kiểm tra. Giáo viên ra đề kiểm tra lại chưa hình
thành đáp án rõ ràng.

huynh này không ngần ngại và nói thẳng với tôi rằng “học cái môn không ra
gì đó để làm gì cô”.
Chương trình lịch sử hiện nay còn nặng, còn nhiều về ghi nhớ số liệu,
sách giáo khoa môn lịch sử quá nhấn mạnh sự kiện, con số, ngày tháng, hình
3/435.33 3/()
 !"#$
%&'()*+*,
ảnh chưa phong phú “không gợi nhớ”, học sinh có cảm giác mệt mỏi khi phải
học và nhớ, đọc sau sẽ quên trước. Nhưng một thực trạng hiện nay là học sinh
thiếu động cơ học lịch sử bởi việc nhớ quá nhiều sự kiện là ác mộng với nhiều
học sinh và nhớ một cách máy móc, đa số học sinh học vẹt chiếm tỷ lệ cao.
Với việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa và sưu tầm thêm tư
liệu thì học sinh chỉ biết nhìn vào đó thấy có những hình ảnh, những lược đồ
của trận đánh, hình ảnh những nhân vật lịch sử… có thể để cười, hoặc có một
số em còn vẽ thêm lên những hình ảnh đó. Các em cũng không biết phải trình
bày như thế nào nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên.
Trong xã hội hiện nay, công nghệ thông tin rất phát triển nhưng ít có
học sinh giành thời gian lên Internet vào những trang lịch sử mà truy cập, để
tìm hiểu và khám phá thêm về lịch sử nước nhà, mà đa số các em đi vào các
trang mạng xã hội khác.
Với những thực trạng trên, việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
nói chung là rất cấp thiết, cần phải nhanh chóng khắc phục sự xem nhẹ bộ
môn lịch sử trong xã hội. Trước sự du nhập nhiều luồng văn hóa cần phải
hình thành cho các em lòng tự hào dân tộc để các em có bản lĩnh trụ vững,
để đấu tranh không cho cái xấu xâm nhập vào mình.
Hiện nay, việc sử dụng và khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa
và việc sưu tầm thêm tài liệu trong mỗi bài giảng Lịch sử đã nhiều thay đổi
và theo hướng tích cực, cần phải có nhiều tiết học sử dụng kênh hình: hình
ảnh, lược đồ……các tài liệu liên quan cùng với những lời giảng của thầy cô
sẽ tạo được sự hứng thú, tích cực, sự tìm tòi và sáng tạo của học sinh, tạo ra

Bước 1: Cho học sinh quan sát tranh, ảnh, lược đồ để xác định một
cách khái quát nội dung tranh, ảnh cần khai thác.
Bước 2: Giáo viên đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn học
sinh tìm hiểu nội dung tranh ảnh, lược đồ
3/435.33 3/(6
 !"#$
%&'()*+*,
Bước 3: Học sinh trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh, lược
đồ sau khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của Giáo viên và tìm hiểu nội dung trong
bài học.
Bước 4: Nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của học sinh, hoàn thiện nội
dung khai thác tranh, ảnh cho học sinh.
- Giáo viên phải hiểu được nội dung cần khai thác từ kênh hình của
SGK.
- Giáo viên phải đặt ra được những tình huống có vấn đề để hướng dẫn,
tổ chức học sinh khai thác tìm ra
- Giáo viên thay thế các kênh hình đảm bảo tính khoa học và thẩm mĩ
cho các kênh hình của sách giáo khoa.
(26>?&D@
Trước tiên học sinh cần có thái độ học tập nghiêm túc, có cái nhìn đúng
đắn đối với môn học, có sự chuẩn bị cho bộ môn trước khi bài học bắt đầu
như trả lời trước câu hỏi trong sách giáo khoa, trong bài có những kênh hình
nào, có nhắc đến những địa danh nào, nhân vật lịch sử nào hoặc những lược
đồ, bản đồ……. thì học sinh tự tìm tư liệu tham khảo để khai thác kênh hình
đó, chủ động tiếp nhận tri thức.
2. Nội dung giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình và sưu tầm
tư liệu học tập !"#$%/0!"#&'
()+*12
2.1 Trước hết tôi giúp học sinh phân loại các kênh hình: Trong sách
giáo khoa Lịch sử lớp 10 chương trình chuẩn có rất nhiều kênh hình, có thể

6262(>?&/F!"#@Đây là một bộ phận quan trọng trong kênh
hình của sách giáo khoa, giúp cho học sinh làm việc với sách giáo khoa.
-Về tranh, ảnh lịch sử: Tôi hướng dẫn học sinh quan sát và đưa ra các
câu hỏi để phát huy tính tích cực, thông minh sáng tạo của các em.
3/435.33 3/(8
 !"#$
%&'()*+*,
- $KL!"#@ Tôi không chỉ cho học sinh
quan sát, miêu tả hình dạng bên ngoài mà còn hướng dẫn các em phân tích nội
tâm, tài, đức, quan điểm thể hiện ở hành động của nhân vật
- $KB"#@ Tôi hướng dẫn học sinh quan sát, tìm
hiểu thông tin, từ đó rút ra nhận xét, đánh giá.
626262>?&AG@ Trước tiên tôi yêu cầu học sinh quan sát lược đồ. Tôi
giới thiệu khái quát lược đồ, giải thích các ký hiệu trên bảng chú giải. Sau đó
tôi đặt câu hỏi yêu cầu học sinh lên bảng trình bày những kiến thức thể hiện
trên lược đồ. !AGKMNO: Đây là lược đồ diễn tả những
sự kiện riêng lẻ hay một mặt của quá trình lịch sử.
2.3. Biện pháp tiến hành cụ thể. !"#$%/0
!"#&'()+*12
* Tiết thị phạm : Bài 16. Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc
lập dân tộc( tiếp theo), phần II, mục 2.
Trong bài này có 2 kênh hình để khai thác: hình 34- đền thờ Hai Bà Trưng ở
Mê Linh (Vĩnh Phúc) trong mục khởi nghĩa Hai Bà Trưng đây là loại kênh
hình tranh ảnh lịch sử và hình 35- Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938
trong mục d, Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đây là loại kênh
hình lược đồ lịch sử.
E PFNO5H3/N'6Fmột số cuộc
khởi nghĩa tiêu biểu tôi đã hướng dẫn cho học sinh khai thác hình 34 - đền thờ
Hai Bà Trưng ở Mê Linh (Vĩnh Phúc) trong sách giáo khoa.
3/435.33 3/(9

%&'()*+*,
Qua việc hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình trên có ý nghĩa giáo
dục cao đối với các em tinh thần yêu nước, ý chí quật cường bất khuất của
dân tộc ta, vai trò to lớn của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử vẻ vang của
dân tộc lời thề Trưng Trắc vẫn còn lưu truyền đến ngày nay:
“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”
Trích: “Thiên Nam ngữ lục”.

E%&QCRS &Q
D@
+ Các hình ảnh và tư liệu Hai Bà Trưng. Trước khi cung cấp tư liệu về Hai Bà
Trưng, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh suy nghĩ, trả lời:
Câu hỏi: Em biết gì về cuộc đời và công lao của Hai Bà Trưng đối với
lịch sử dân tộc?
Học sinh trả lời câu hỏi. Giáo viên nhận xét và kết luận, cung cấp tư
liệu cho học sinh.
- Tư liệu về Hai Bà Trưng:
Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi (sinh vào ngày mồng một
tháng tám năm Giáp Tuất, năm 14 sau công nguyên), là con gái của Lạc
tướng huyện Mê Linh (người đứng đầu bộ lạc huyện Mê Linh, thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc ngày nay) thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện.
Hai Bà mất mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi nấng, dạy cho
nghề trồng dâu, nuôi tằm, dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khoẻ, rèn
luyện võ nghệ. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng
huyện Chu Diên (tỉnh Hà Tây ngày nay). Lúc bấy giờ nhà Đông Hán đang
cai trị hà khắc nước Việt, viên Thái thú Tô Định là người vô cùng bạo
ngược, tham lam. Hai bà cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị

3/435.33 3/(=
 !"#$
%&'()*+*,
(Hà Tĩnh). Nhận thấy tình cảnh cơ cực của dân, ông đem lòng chán ghét chính
quyền đô hộ. Cuối cùng, ông từ chức về quê nhà, mưu tính việc lớn. Nhân
lòng oán hận quân Lương của mọi người, Lý Bí đã chiêu mộ được nhiều
quân, trữ được nhiều lương thực. Ông còn liên kết với hào kiệt các nơi chuẩn
bị cùng nổi dậy.
Theo sử cũ, bấy giờ Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục ở vùng Chu Diên
hưởng ứng đầu tiên. Tiếp theo là Tinh Thiều, Phạm Tu cùng hào kiệt nhiều
nơi khác. Tinh Thiều cũng quê ở Thái Bình. Học giỏi, văn hay, nhưng vì
không thuộc dòng dõi quý tộc nên Tinh Thiều chỉ được phong chức "canh
cổng thành". Bất bình, ông không nhận chức, về quê cùng Lý Bí mưu tính
khởi nghĩa. Lão tướng Phạm Tu, người Thanh Trì (Hà Nội), bấy giờ đã ngoài
sáu mươi, vẫn cùng lớp trai làng hăng say việc nước.
Mùa xuân năm 542, Lý Bí phất cờ nổi dậy. Khởi nghĩa thành công nhanh
chóng. Trong vòng chưa đầy 3 tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các
quận, huyện. Thứ sử Tiêu Tư run sợ, vội vã bỏ thành Long Biên (Yên Phong -
Bắc Ninh) rút chạy về Trung Quốc. Lý Bí đem quân vào Long Biên, ổn định
tình hình mọi mặt. Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh
cho quân phản công chiếm lại. Bọn xâm lược vừa kéo sang đã bị Lý Bí cho
quân mai phục đánh tan.
Đầu năm sau (543), vua Lương lại lệnh cho quân sang xâm lược lần nữa. Bọn
tướng chỉ huy quân Lương lúc này vừa khiếp sợ, vừa mệt mỏi, đang còn dùng
dằng chưa dám tiến quân, Lý Bí chủ động ra quân đón đánh địch ở bán đảo
Hợp Phố (bấy giờ thuộc châu Giao). Quân Lương mười phần chết đến bảy,
3/435.33 3/6)
 !"#$
%&'()*+*,
tám. Tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt phải tự tử.

Trong sách giáo khoa hình 35 có Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm
938.
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc và giải thích bảng chú giải trong lược
đồ, đặt câu hỏi để các em thảo luận, tự trình bày về trận đánh trên sông Bạch
Đằng.
Câu 1: Trình bày diễn biến chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô
Quyền lãnh đạo?
Câu 2: Đánh giá công lao của Ngô Quyền trong cuộc đấu tranh giành
độc lập thời Bắc thuộc?
Câu 3: Nêu những hiểu biết của em về anh hung dân tộc Ngô Quyền?
Học sinh thảo luận và lên trình bày, giáo viên nhận xét và chốt ý, cung
cấp kênh hình và tư liệu cho học sinh.
Ngô Quyền sinh vào năm Mậu Ngọ (898) niên hiệu Càn Ninh thứ năm
hoặc Quang Hóa, năm đầu đời Đường Chiêu Tông ở xứ Đường Lâm
(nay là xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội). Cha Ngô Quyền là Ngô
Mân, làm chức Châu mục ở châu Đường Lâm. Họ Ngô của ông là dòng
họ hào trưởng có thế lực, đời đời là quí tộc.
3/435.33 3/66
 !"#$
%&'()*+*,
Chân dung Ngô Quyền( tranh minh họa).
Năm 938, Ngô Quyền cùng với Dương Tam Kha (con trai Dương Đình
Nghệ) và Đỗ Cảnh Thạc đem quân ra Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn
khi quân Nam Hán còn chưa kịp vào thành. Thành Đại La trở thành
trung tâm đầu não và chỉ huy của Ngô Quyền để nhanh chóng tổ chức
kháng chiến chống quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng. Trước mưu đồ
xâm lược trở lại của phong kiến Trung Quốc, ngọn cờ cứu nước của
Ngô Quyền trở thành ngọn cờ đoàn kết của cả dân tộc. Đội quân Ngô
Quyền, từ một đội binh Ái Châu đã nhanh chóng trở thành một đội
quân dân tộc. Truyền thuyết dân gian còn ghi nhớ chuyện 38 chàng trai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status