I. MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài
Nước ta đang trên con đường đổi mới toàn diện xây dựng một đất nước công
nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước
nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp,nông nghiệp hiện đại và hội
nhập với cộng đồng quốc tế. Để đạt được mục tiêu trên thì nhân tố tri thức khoa
học kỹ thuật của con người là nhân tố quyết định hàng đầu của viêc đổi mới đất
nước . Điều này đặt ra những yêu cầu mới của hệ thống giáo dục nước ta hiện
nay là - “Xây dựng mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình , phương pháp giáo
dục và đào tạo”
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó thì việc đổi mới nội dung và phương
pháp giáo dục là một việc làm mang tính cấp thiết, để đạt được hai mục tiêu cơ
bản: Một là phải phát huy được tính tích cực trong học tập, hình thành , phát
triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong đời
sống của học sinh. Hai là xuất phát từ yêu cầu xã hội hoá giáo dục là phải thực
hiện tốt các mục đích dạy học đối với tất cả học sinh, đồng thời khuyến khích
phát triển tối đa năng lực phát huy tốt nhất sở trường của mỗi cá nhân học sinh.
Muốn đạt được các mục tiêu đó, trong quá trình dạy học phải lựa chọn phương
pháp phù hợp với nội dung dạy học cho từng đối tượng học sinh vùng ,miền và
đối tượng học sinh giỏi ,khá,trung bình và yếu kém nhằm tích cực hoá nhận
thức hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực hoạt động sáng tạo cho
mỗi đối tượng học sinh.
Các mục đích đó sẽ đạt được nếu áp dụng một cách khoa học phương pháp
dạy học phân hoá nêu vấn đề. Đây là một hình thức dạy học kết hợp hai phương
pháp dạy học là dạy học phân hoá và dạy học nêu vấn đề. Trong đó, dạy học nêu
vấn đề đáp ứng được mục tiêu thứ nhất, còn dạy học phân hoá nhằm đáp ứng
được mục tiêu thứ hai.
Trong cùng một lớp học khả năng nhận thức của từng học sinh là khác
nhau.Vì vậy việc truyền thụ kiến thức ở các mức độ cho từng đối tượng cho học
1
sinh của giáo viên là vấn đề rất quan trọng. Đây là lí do mà tôi lựa chọn đề tài: “
- Trao đổi kinh nghiệm với giáo viên hoá học trong và ngoài tỉnh.
-Xây dựng hệ thống bài giảng và bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đề
phần phi kim Hoá học lớp 10 THPT cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giảng
dạy.
- Thực nghiệm sư phạm và xử lí kết quả.
I.7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng hệ thống bài giảng và bài tập phân hoá nêu vấn đề đảm bảo
tính khoa học, lôgic về nội dung và cấu trúc, phù hợp với từng đối tượng học
sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Hoá học nói chung, phần phi kim
Hoá học lớp 10 THPT nói riêng
II. NỘI DUNG
II.1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ DẠY HỌC PHÂN HOÁ -NÊU VẤN ĐỀ
II.1.1 Dạy học phân hoá
II.1.1.1 Khái niệm:
Dạy học phân hoá xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa sự thống nhất
và sự phân hoá, tức là thể hiện sự kết hợp giữa hoạt động “đại trà” với giáo dục
“mũi nhọn” giữa “phổ cập” với “nâng cao” trong dạy học ở trường phổ thông
và nó được tiến hành theo tư tưởng chủ đạo sau:
a) Lấy trình độ phát triển chung của học sinh làm nền tảng. Nội dung và phương
pháp trước hết phải phù hợp với trình độ và điều kiện chung của từng đối tượng
học sinh.
b) Sử dụng những biện pháp phân hoá giúp học sinh yếu kém vươn lên trình độ
chung, khích lệ được các học sinh khá giỏi có khả năng tìm tòi phát hiện một số
vấn đề cụ thể. Các cách dạy học này dựa vào “vùng phát triển gần nhất” của
học sinh tức là chỉ cần gợi ý nhỏ là học sinh có thể giải được bài toán tương đối
khó khăn hơn so với sức của học sinh.
3
c) Đưa ra nội dung bổ sung và biện pháp phân hoá nhằm giúp học sinh khá giỏi
đạt đựợc những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bản
đặt ra từ mục tiêu của bài học.
đa mặt tiêu cực của sự khác nhau đó, đồng thời tạo điều kiện để học sinh phát
huy ở mức độ cao nhất. Muốn vậy người giáo viên cần nắm và hiểu tâm lý của
mỗi học sinh, của từng lứa tuổi học sinh.
Tóm lại từ yêu cầu xã hội đối với người lao động là giống hoặc khác nhau,
từ sự giống và khác nhau về trình độ và việc phát triển nhân cách từng học sinh
đòi hỏi quá trình dạy học thống nhất cùng với những biện pháp phân hoá nội tại.
dạy học phân hoá cần phải xây dựng kế hoạch lâu dài, cụ thể.
*Phân hoá bài nội dung bài giảng : Khi phân hóa các bài giảng trên lớp
cần lưu ý một số đặc điểm sau:
- Phân hoá nội dung, phương pháp phù hợp với trình độ của mỗi đối tượng học
sinh.
- Phân hoá yêu cầu về khả năng tư duy độc lập, bài giảng dành cho đối
tượng học sinh yếu kém chứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh dễ tiếp nhận kiến
thức
*Phân hoá bài tập về nhà: Khi phân hoá bài tập về nhà cần lưu ý một số điểm sau :
- Phân hoá về số lượng bài tập cùng loại phù hợp với đối tượng để đạt cùng một
yêu cầu.
- Phân hoá nội dung phù hợp với trình độ của mỗi học sinh.
- Phân hoá yêu cầu về mặt tính độc lập, bài tập cho đối tượng học sinh yếu kém
chứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh suy nghĩ làm bài tập ở mức cao hơn.
- Ra riêng bài tập tạo tiền đề xuất phát cho học sinh yếu kém để chuẩn bị những
bài sau và ra riêng bài tập nâng cao cho học sinh khá giỏi.
* Phân hoá theo khối học, theo trường học:
II.1.2 Dạy học nêu vấn đề
II.1.2.1 Khái niệm
5
Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học mà thầy tạo ra những tình huống có vấn đề,
điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, để hoạt động tự giác và tích cực và để giải
quyết vấn đề mà thông qua giải quyết những vấn đề đó học sinh có khả năng
lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạt được những mục đích học tập khác.
tri thức của học sinh thông qua quá trình hình thành kỹ năng phát hiện và giải
quyết vấn đề học tập. Còn ưu điểm của dạy học phân hoá là vừa sức và sát đối
tượng trong giáo dục. Vai trò của dạy phân hoá và việc sử dụng các bài tập phân
hoá sẽ được phát huy tính tích cực hơn nhiều nếu biết áp dụng các yếu tố của
dạy học nên vấn đề. Bởi vì, nếu như đặc tính nêu vấn đề của dạy học thúc đẩy
hoạt động hoá tư duy của học sinh thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điều
kiện thuận lợi để áp dụng dạy học nêu vấn đề vào việc nghiên cứu tài liệu và cả
những bài ôn tập tổng kết “nếu như tính vấn đề của việc dạy học làm hoạt động
hoá nhận thức của học sinh, kích thích các trạng thái tâm lý như ham muốn
hiểu biết và ham học hỏi thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điều kiện để sử
dụng các cảm xúc tích cực này vào thực tiễn của quá trình dạy học”. Và nếu
như trong dạy học truyền thống việc tổ chức giờ học chỉ giúp học sinh tái hiện
kiến thức, học thuộc nội dung chương trình SGK hoặc rèn luyện kỹ năng giải
bài tập theo các mẫu bài quen thì việc tổ chức dạy học nêu vấn đề có sử dụng
các bài tập phân hoá trong giờ học sẽ dẫn học sinh vào tình huống mà học cần
khái quát hoá kiến thức ở mức độ mới. Kết luận mang tính suy luận trong phạm
vi toàn bộ chương trình và ở những bài mang tính chất nghiên cứu.
II.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG –
BÀI TẬP THEO PHƯƠNG PHÁP PHÂN HÓA NÊU VẤN ĐỀ Ở CÁC
TRƯỜNG THPT
Phần lớn giáo viên chỉ xây dựng và thiết kế bài giảng một cách chung chung
cho mức học sinh trung bình chứ chưa thực sự xây dựng và sử dụng một cách
phân loại bài giảng cho nhiều đối tượng học sinh,dẫn đến còn nhiều sự bất cập
trong quá trình nhận thức của học sinh. Để giải quyết vấn đề trên tôi thấy rằng
việc: “ xây dựng - sử dụng hệ thống bài giảng và bài tập theo hướng phân
7
hoá – nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy phần phi kim hoá học 10 ”
là rất cần thiết
II.3. PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BÀI GIẢNG VÀ BÀI TẬP THEO
HƯỚNG PHÂN HOÁ NÊU VẤN ĐỀ
đúng nguyên nhân học kém để có biện pháp xử lý thích hợp nhất, luôn khuyến
khích, động viên, kiên trì giúp đỡ, đặc biệt là phải chú ý bồi dưỡng phương pháp
học tập, phương pháp tư duy, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học
sinh chứ không làm thay họ.
* Mức độ khá - giỏi: Tức là năng lực nhận thức và khả năng tự lập cao. Do đặc
điểm về trình độ nhận thức khá cao nên đối với đối tưọng dạy học này giáo viên
nên sử dụng các phương pháp sao cho có thể phát huy được tính tích cực nhận
thức của học sinh tức là phải hướng học sinh tích cực tự lực giành lấy kiến thức
bằng cách tìm hiểu, khám phá và giành sáng tạo. Cụ thể, giáo viên nên sử dụng
các phương pháp sau:
- Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự lực làm việc độc lập với sách
giáo khoa.
- Đàm thoại nêu vấn đề, đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề và hướng
dẫn họ cách tự lực tìm ra phương hướng giải quyết.
- Thí nghiệm theo hình thức qui nạp hoặc sử dụng thí nghiệm có tính chất
nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu để giúp học sinh phát hiện một tính chất
mới, một khái niệm mới hoặc nghiên cứu một nội dung hay một vấn đề dưới
dạng bài tập nghiên cứu. Muốn vậy giáo viên cần phải gây được động cơ hứng
thú học tập của học sinh cũng như nhu cầu nhận thức của họ.
- Bên cạnh đó có thể sử dụng phương pháp thuyết trình nêu vấn đề.
Như vậy khi dụng các phương pháp trên áp dụng cho học sinh khá - giỏi thì
kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với
nhau. Các vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc diễn ra mội cách
đột ngột, bất ngờ.
9
Tương tự, đối với nội dung của mỗi bài tập chúng ta thiết kế thành 3 vấn đề
theo ba mức độ với mục đích hướng đến việc phát triển khả năng tìm tòi tự học
và cụ thể hoá mức độ kiến thức của học sinh.
* Vấn đề thứ nhất: (mức độ 1) cần hướng học sinh nêu ra đựơc các tính
- Từ đó xác định hệ thống những mục đích của bài.
+ Yêu cầu về nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần có.
+ Yêu cầu về giáo dục tình cảm, thái độ, cách nhìn nhận đánh giá sự vật.
+ Yêu cầu phát triển năng lực nhận thức như so sánh khái quát cũng như các
khả năng sáng tạo, đổi mới.
Xây dựng nội dung bài học
Từ mục đích giảng dạy giáo viên sẽ xây dựng nội dung bài học cụ thể:
-Xác định mục đích tư tưởng chính của bài.
-Xác định những tri thức chính và phụ.
-Sắp xếp nội dung dạy học theo một trình tự logic và khoa học như sách giáo
khoa.
- Bổ sung vào nội dung sách giáo khoa những số liệu hiện đại, nhưng câu
chuyện lịch sử hay những tấm gương gắn liền với cuộc sống và sản xuất ở địa
phương, hoặc những thành tựu mới trong khoa học kỹ thuật, những đổi mới của
đời sống xã hội nhằm làm phong phú bài dạy, làm cho bài dạy phù hợp với tình
hình thực tế địa phương cũng như có thể bắt nhịp với thời đại.
- Xây dựng mô hình cấu trúc nội dung bằng một sơ đồ Grap và xác định
rõ thời gian hợp lý tương ứng với nội dung, phân hoá nội dung dạy học sao cho
phù hợp với các đối tượng học sinh.
* Xác định và phân loại đối tượng dạy học
- Giữa các lớp
- Trong một lớp
* Quy trình phân hóa
11
Quy trình trên được cụ thể hoá qua bảng sau:
Mục đích dạy
học
Nội dung bài
giảng
Phương pháp
- Mức độ 2: Vạch ra các công đoạn thực hành dựa trên sự hướng dẫn nhất
định, dự đoán hiện tượng xảy ra và giải thích
- Mức độ 3: Học sinh tự vạch ra các công đoạn thực hành, dự đoán hiện
tượng và giải thích
Ví dụ:
*Nội dung bài tập: Phân biệt các muối KCl, KBr, KI và chứng minh quy
luật hoạt động hoá học của các halogen?
* Thiết kế theo kiểu phân hoá- nêu vấn đề
Mức độ 1: Có 3 ống nghiệm đựng các muối KCl, KBr, KI.
Hãy dùng phản ứng trao đổi để phân biệt 3 chất này. Biết rằng AgCl kết tủa
trắng, AgBr kết tủa vàng nhạt, AgI kết tủa màu vàng.
Mức độ 2: Có 3 ống nghiệm đựng các muối KCl, KBr, KI. Hãy đề xuất phương
pháp phân biệt các muối trên bằng cách tách các halogen ở dạng khí.
Mức độ 3: Có 3 ống nghiệm đựng các muối KCl, KBr, KI. Hãy nêu các phương
pháp nhận biết các muối trên. Đề xuất quy trình nhận biết.
Nhận xét về mức độ phân hoá và tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu
+ Mức độ 1: Học sinh thực hiện các thao tác theo chỉ dẫn rõ ràng của giáo
viên, theo đó để giải quyết yêu cầu của bài toán.
+ Mức độ 2: Chỉ gợi ý hoá chất còn các bước thao tác và giải thích thì học
sinh tự tìm hiểu
+ Mức độ 3: Tự tìm hoá chất, các bước vạch ra quy trình và quá trình tiến
hành, mức độ này khó hơn mức độ 1, 2.
Bài tập tổng hợp: Những bài tập này có thể phân hoá bằng cách: Phân hoá
theo mức độ giải quyết sự phức tạp hoá hoặc phức tạp hoá điều kiện bài toán.
- Giảm sự phức tạp hoá hoặc phức tạp hoá yêu cầu bài toán.
13
- Giảm sự phức tạp hoá hoặc phức tạp hoá cả điều kiện và yêu cầu bài toán
ghép nội dung các bài tập khác nhau thành một bài tập mới.
Ví dụ
1. Viết cấu hình electron của các halogen ở dạng tổng quát?
hứng thú, lôi cuốn HS tham gia vào quá trình chiếm lĩnh tri thức, tạo nên không
khí học tập sôi nổi, phát huy được tối đa tính tích cực trong học tập của mỗi học
sinh. Do đó chất lượng học tập của HS được nâng cao.
Việc thiết kế các bài giảng và bài tập hoá học theo kiểu phân hoá - nêu vấn
đề đã có tác dụng phát triển các năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo, kỹ năng
thực hành và kỹ năng chuyển từ tư duy lý thuyết sang tư duy thực hành cho mọi
đối tượng học sinh.
b. Khó khăn và thuận lợi khi áp dụng đề tài:
* Thuận lợi: Dạy học phân hoá - nêu vấn đề sát với đối tượng học sinh nên
rất được học sinh ủng hộ, học sinh học tập nhiệt tình nên đạt kết quả tốt.
* Khó khăn:
- Dạy học phân hoá - nêu vấn đề yêu cầu giáo viên phải phân hoá trình độ
học sinh. Điều này đòi hỏi giáo viên phải nắm bắt rõ tình hình học tập cũng như
các đặc điểm tâm lý của HS để phân hoá đối tượng học sinh trong lớp để từ đó
đề ra các phương pháp dạy học phù hợp với từng loại đối tượng HS. Viêc làm
này đòi hỏi sự kiên trì chịu khó của giáo viên.
2. Một số ý kiến đề xuất.
Qua quá trình nghiên cứu hoàn thành sang kiến tôi thấy: Để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và việc nâng cao
hiệu quả dạy học hoá học nói riêng theo hướng phân hoá - nêu vấn đề chúng tôi
có một số đề xuất sau:
a. Về nội dung, cấu trúc chương trình.
15
- Cần phân bố hợp lý thời gian của từng nội dung trong một bài giảng hoá
học để có thể phù hợp với mục đích và đối tượng dạy học
- Trong quá trình giảng dạy ngoài việc sử dụng những tài liệu có sẵn thì
mỗi giáo viên phải tự xây dựng cho mình một hệ thống câu hỏi, bài tập riêng
đảm bảo tính hệ thống, tính logic, đầy đủ về loại, dạng. Phân hoá nội dung đó
thành các mức độ khác nhau phù hợp với từng đối tượng học sinh và không
nên ra những bài tập tính toán quá phức tạp.
10- Nguyễn Bá Kim - Vũ Dương Thuỵ Phương pháp dạy học môn toán (NXBGD
Hà Nội 1992)
11- Trần Kiều: Đổi mới PPDH ở trường phổ thông (NXB Đại học Sư phạm 2003)
12- Phạm văn Hoan: Tuyển tập các bài tập hoá học trung học phổ thông NXBGD Hà
Nội 2006.
13-Lê Thị Tú Ngọc(2004) “Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập Phân hoá - nêu vấn
đề chương Halogen” luận văn tốt nghiệp ĐHSP
14- Lê Văn Năm. Dạy học nêu vấn đề - Lý thuyết và ứng dụng. NXB ĐHQG Hà Nội
2007.
15- Lê Văn Năm. Dạy học phân hóa – nêu vấn đề trong giảng dạy bộ môn hóa học.
(Tạp chí Giáo dục số 101 - 2004).
16- Lê Văn Năm : Sử dụng bài tập phân hoá trong dạy học nêu vấn đề bộ môn hoá
học . Tạp chí giáo dục số 11 -2004
17- Lê Văn Năm: Xây dựng các bài tập hoá học theo hướng phân hoá nêu vấn đề. Tạp
chí Giáo dục số 109-2005
18- Lê Văn Năm - Mai Thị Thanh Huyền - Lê Thị Tú Ngọc: dạy học phân hoá nêu
vấn đề - một hình thức dạy học đáp ứng được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học
hiện nay (Kỷ yếu Hội thảo toàn quốc: đổi mới phương pháp dạy học và đào tạo giáo
viên hoá học Vinh 2003)
17
PHỤ LỤC
BÀI GIẢNG PHÂN HÓA NÊU VẤN ĐỀ
1. Bài soạn : Khái quát về nhóm halogen
I.CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG
1. Kiến thức
- Vị trí của nhóm halogen trong bảng tuần hoàn.
- Sự biến đổi độ âm điện, bán kính nguyên tử và một số tính chất vật lí của các
nguyên tố trong nhóm.
- Cấu hình electron ngoài cùng của nguyên tử các nguyên tố halogen tương tự
nhau.Tính chất hóa học cơ bản của các nguyên tố halogen là tính oxi hóa
trong bảng tuần
hoàn các nguyên
tố
-Thuyết trình
thông báo
Thuyết trình
thông báo
- Đàm thoại
- Thuyết trình
- Đàm thoại
II. Cấu hình electron
nguyên tử và cấu tạo
phân tử của các
nguyên tố trong
nhóm Halogen
- Nêu vấn đề
-Thuyết trình diễn
giảng
- Nêu vấn đề
- Thuyết trình
diễn giảng
- Nêu vấn đề
III. Khái quát về tính
chất của các Halogen
1. Sự biến đổi tính
chất vật lý của các
đơn chất
-Thuyết trình
thông báo
Thuyết trình
halogen
I. Nhóm halogen trong bảng
tuần hoàn các nguyên tố
PP: Thuyết trình thông
báo
GV chiếu BTH lên màn
hình hướng dẫn HS quan
sát các nguyên tố
halogen trong BTH.
Yêu cầu HS nêu tên, viết
ký hiệu các nguyên tố
trong nhóm Halogen
GV: các nguyên tố
Halogen đứng ở cuối các
chu kỳ, ngay trước các
khí hiếm
PP: Thuyết trình + đàm
thoại gợi mở
GV chiếu BTH lên màn
hình HS quan sát BTH
rút ra nhận xét về vị trí
của các nguyên tố
halogen trong BTH
GV yêu cầu HS đọc tên
và ký hiệu các nguyên tố
Halogen?
GV hướng dẫn để HS rút
ra nhận xét: Các nguyên
tố Halogen đứng ở cuối
ngoài cùng của các nguyên tử F, Cl, Br, I, suy
ra cấu hình ngoài cùng tổng quát của các
halogen.
GV: Hướng dẫn HS biểu diễn sự phân bố
20
↑
↓
↑
↓
↑
↑
↓
ns
2
np
5
electron trên các obitan ở trạng thái cơ bản
Nhận xét số electron ngoài cùng? Số electron
độc thân của các nguyên tố halogen ở trạng
thái cơ bản.
Mục
đích
Nội dung
Phương pháp
HS yếu HS trung bình
- Ở trạng thái cơ bản nguyên tử halogen
có 1 electron độc thân.
+ Nguyên tử F không có phân lớp d các
của các nguyên tố Cl, Br, I.
HS xác định số electron độc thân của các
nguyên tố Cl, Br, I ở trạng thái kích thích
Mục
đích
Nội dung
Phương pháp
HS yếu HS trung bình
→ số electron độc thân có khả năng
tham gia liên kết của nguyên tử Cl, Br,
I là: 1, 3, 5, 7
GV giúp HS dự đoán sự hình thành liên kết
trong phân tử X
2
.
GV diễn giảng: Dựa vào giá trị năng lượng
21
↑
↓
↑
↑
↑
↑
↓
↑
↑
↑
↑
↑
↑
. .
Công thức electron
- Năng lượng liên kết X - X không lớn
→ phân tử X
2
dễ tách thành hai nguyên
tử.
liên kết X - X không lớn → phân tử X
2
dễ tách
thành hai nguyên tử.
III. Khái quát về tính chất của các
halogen
Hoạt động 3
1. Tính chất vật lí: PP: Thuyết trình thông báo
GV chiếu bảng 5.1: Một số đặc điểm của các
halogen lên màn hình.
Mục đích Nội dung
Phương pháp
HS yếu HS trung bình
PP tư duy
logic: Quy
luật biến
đổi từ đặc
điểm cấu
tạo dẫn đến
đến sự biến
đổi tính
chất
- Trạng thái tập hợp: khí - lỏng -
học.
So sánh
khả năng
oxi hóa của
các
halogen
+ Có nhiều tính chất hóa học
giống nhau:
- Dễ dàng thu thêm 1e để tạo
thành ion âm.
X + 1e → X
-
ns
2
np
5
ns
2
np
6
- Halogen là những phi kim điển
hình, có tính oxi hóa mạnh
+ Tính phi kim và khả năng oxi
hóa của các halogen giảm từ F →
I
giảng.
GV dẫn dắt cho
HS trên cơ sở đặc
điểm về cấu tạo
nguyên tử, độ âm
GV: nhắc lại:
23
Sở dĩ Flo luôn có oxi hóa là -1 trong các hợp chất là vì
- Flo không có phân lớp d
- Flo có độ âm điện lớn nhất
Còn Cl, Br, I có phân lớp d nên ở trạng thái kích thích có nhiều
electron độc thân hơn nên có thể có các số oxi hóa -1, +1, +3, +5, +7
trong các hợp chất
Hoạt động 8: Củng cố
GV tổng kết:
- Nguyên nhân thể hiện tính oxi hóa mạnh của các halogen.
- Nguyên nhân các halogen có tính oxi hóa giảm dần từ F đến I
- Nguyên nhân sự giống nhau về tính chất hoá học cũng như thành
phần tính chất của các hợp chất của chúng.
24
Bài tập củng cố: (GV đưa một số BT củng cố phân hóa theo 3 mức độ)
Bài tập 1:
1. Nguyên tử nguyên tố X có cấu hình electron là 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
5
Xác định vị trí của X trong HTTH?
2. Một ion X
-
25