Chủ nhiệm bộ môn :
Giảng viên :
Gs.Ts.Bs.
Ts.Bs.
Ths.Bs.
Ths.Bs.
Ths.Bs.
CN.
CN.
NGUYỄN SÀO TRUNG
ÂU NGUYỆT DIỆU
BÙI THỊ HỒNG KHANG
HUỲNH NGỌC LINH
NGUYỄN ĐÌNH TUẤN
LÊ THỊ THANH HUYỀN
TRIỆU THỊ XUÂN THU Bức tượng gỗ nhỏ được thấy trong một tiệm cầm đồ ở phố Bronx
thành phố New York, tạc hình nhà bệnh học nổi tiếng người Đức
Rudolf Virchow, với hàng chữ " Pathologe ünd am Ende steht der
Erfolg !" nghóa là " nhà bệnh học cuối cùng cũng sẽ thành công !";
ý nói thành công trong việc tìm hiểu bệnh tật của con người
12
13
Thứ sáu C1 25/ 03
Thứ tư C1 30/ 03
Bệnh lý tim và mạch máu BS. Bùi Thò Hồng Khang
14 Thứ tư C2 30/ 03 Bệnh lý gan BS. Huỳnh Ngọc Linh
15
16
Thứ sáu C1 01/ 04
Thứ tư C1 06/ 04
Bệnh lý hệ hô hấp BS. Âu Nguyệt Diệu
17 Thứ tư C2 06/ 04 Bệnh lý tuyến giáp BS. Nguyễn Đình Tuấn
18
19
Thứ sáu C1 08/04
Thứ tư C1 13/ 04
Bệnh lý hệ sinh dục nữ BS. Bùi Thò Hồng Khang
20 Thứ tư C2 13/ 04 Bệnh lý hệ sinh dục nam BS. Huỳnh Ngọc Linh
21 Thứ tư C1 20/ 04 Bệnh lý hạch limphô BS. Âu Nguyệt Diệu
22
23
Thứ tư C2 20/ 04
Thứ tư C1 27/ 04
Bệnh lý thận BS. Huỳnh Ngọc Linh
24
25
Thứ tư C2 27/ 04
Thứ tư C1 04/ 05
Bệnh lý xương – khớp – phần mềm BS. Bùi Thò Hồng Khang
26 Thứ sáu C2 04/ 05 Bệnh lý tuyến vú BS. Âu Nguyệt Diệu
51
87
PHẦN II: GIẢI PHẪU BỆNH CHUYÊN BIỆT
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
BỆNH LÝ HỆ TIM MẠCH
BỆNH LÝ HỆ HÔ HẤP
BỆNH LÝ ỐNG TIÊU HOÁ
BỆNH LÝ GAN
BỆNH LÝ HỆ SINH DỤC NỮ
BỆNH LÝ TUYẾN VÚ
BỆNH LÝ TUYẾN GIÁP
BỆNH LÝ HỆ SINH DỤC NAM
BỆNH LÝ THẬN
BỆNH LÝ HẠCH LIMPHÔ
BỆNH LÝ XƯƠNG - KHỚP - PHẦN MỀM
99
125
149
175
hiện việc đó được lưu lại. Người Hy lạp cổ đại cũng không có ý niệm nào rõ rệt hơn về nguyên
nhân và cơ chế phát sinh bệnh tật, ngoài một vài quan sát giản đơn về các vết thương và u bướu.
Một thầy thuốc Hy lạp cổ đại được biết đến nhiều nhất có tên là Hippocates, được xem là
ông tổ của Tây Y; ông sinh vào năm 460 trước Công nguyên (Tr CN) tại đảo Cos, vùng Tiểu Á.
Hippocrates tin rằng con người được tạo thành từ 4 yếu tố là khí, nước, lửa, và đất, tương ứng với
4 loại thể dòch trong người là máu, chất nhầy, mật vàng và mật đen; bệnh tật là do sự mất cân
bằng của 4 loại thể dòch này và có tác động lên toàn thể con người chứ không riêng ở một cơ
quan nào. Là người theo chủ nghóa kinh nghiệm, ông luôn yêu cầu các học trò phải đặc biệt chú
trọng đến khâu hỏi bệnh và thăm khám bệnh nhân để có biện pháp chữa trò thích hợp (Hình 2).
Hình 2: Hippocrates đang chữa bệnh dòch hạch tại thành Athens; một mảnh giấy cói được viết vào năm
275 sau công nguyên, ghi lại lời thề Hippocrates.
Giới thiệu môn học Giải phẫu bệnh
2
Tr
ong điều trò, ông thực hiện được một số thủ thuật ngoại khoa như xử trí vết thương, nắn
xương gãy, trích máu, tẩy xổ và bào chế một số thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất, thảo mộc và
động vật. Dó nhiên với cách luận bệnh và phương tiện điều trò như vậy thì có lẽ không có mấy
bệnh được chữa khỏi, như ông đã thừa nhận : “ Một thầy thuốc chân chính chỉ đôi khi chữa khỏi
bệnh, thường làm bớt bệnh nhưng luôn biết an ủi bệnh nhân”. Ông nổi tiếng là người đã thiết
đònh các nguyên tắc về y đức mà ngày nay vẫn còn được biết đến dưới tên gọi “ Lời thề
Hippocrates”. Ông mất năm 377 ( Tr CN).
Sau Hippocrates, triết gia Hy lạp Platon (428-348 Tr CN) trong tác phẩm “Đối thoại” của
mình, cũng tin con người được tạo thành từ lửa, nước, đất và khí nhưng theo ông, khí mới là yếu
tố chính làm cho các bộ phận hoạt động và tạo ra sự sống.
Triết gia Aristote (384-322 Tr CN), có tinh
thần thực nghiệm hơn nhưng do việc mổ xác
người bò cấm nên đã dựa vào các phẫu tích động
vật để suy diễn sang người, chẳng hạn ông cho
Hippocrates. Ông viết rất nhiều sách nghiên cứu
về giải phẫu học, sinh lý học, dinh dưỡng học,
triết học. Ông có nhiều người hâm mộ trong đó có
Hoàng đế La mã Marcus Aurelius, người đã khen
ngợi ông là bậc nhất của các thầy thuốc và triết
gia (Hình 5, 6).
Hình 5 : Claudius Galen
Do đạt được uy tín quá lớn như vậy nên các sách giải phẫu học của ông đã được xem là
chân lý và được sử dụng trong giảng dạy y khoa suốt hàng ngàn nămû, đến tận thế kỷ thứ XVI;
Giới thiệu môn học Giải phẫu bệnh
3
mặc
dù các mô tả về giải phẫu người của ông chứa đựng nhiều sai lầm do dựa chủ yếu vào các
cuộc phẫu tích trên heo, dê, vượn, voi.
Hình 6: Galen đang mổ heo; giảng dạy môn sinh; hướng dẫn thụt tháo bệnh nhân; Sách của Galen đã được
dùng trong suốt thời kỳ trung cổ.
Trong thời kỳ trung cổ ( thế kỷ V-XV), y học và triết học thường trộn lẫn với nhau. Việc
chẩn đoán và điều trò bệnh không có thay đổi đáng kể, phẫu tích trên người vẫn bò cấm kỵ; tuy
nhiên cũng có một số tiến bộ cần phải ghi nhận như việc thành lập các bệnh viện từ thế kỷ IV,
khởi đầu tại Syri rồi lan rộng khắp Đế quốc Byzantin; sự ra đời của các trường đại học y khoa từ
thế kỷ XII. bắt đầu tại Ý và sau đó là Tây ban nha, Anh và Pháp.
Đến thế kỷ XVI, bắt đầu thời kỳ phục hưng, hoạt động nghệ thuật và nghiên cứu khoa học
kể cả y học hồi sinh mạnh mẽ. Một người Hà lan tên Andreas Vesalius (1514-1564), sau khi tốt
nghiệp Đại học Y khoa Padua Ý, đã được giữ lại làm Giáo sư về giải phẫu học. Sau nhiều năm
phẫu tích tỉ mỉ xác chết, ông cho xuất bản vào năm 1543 bộ sách “Về cấu tạo cơ thể người” (De
humani corporis fabrica); trong đó đã sửa lại các sai lầm của Galen. Vesalius được xem là cha đẻ
của môn giải phẫu học (Hình 7).
nhưng lại là nhà bệnh học lớn nhất của mọi thời đại. Cuốn “Bệnh học tế bào” do ông viết năm
1858 được xem là cơ sở của môn giải phẫu bệnh hiện đại; trong đó ông đã mô tả đầy đủ các
hình thái tổn thương cơ bản như phì đại, tăng sản, chuyển sản, phản ứng viêm, nhồi máu,
u (Hình 10). Theo ông, nguồn gốc của mọi bệnh tật đều xuất phát từ các hoạt động bất thường
của tế bào. Như vậy với Virchow, sự hiểu biết về bệnh tật đã tiến thêm một bước, từ các tổn
thương cơ quan sang tổn thương ở mức độ tế bào. Ông có nhiều học trò giỏi, trong đó phải kể
Giới thiệu môn học Giải phẫu bệnh
5
đe
án Julius Cohnheim (1839-1884), là người đã có các nghiên cứu sâu về phản ứng viêm và là
người đầu tiên phát hiện ra hiện tượng xuyên mạch (Hình 11).
Hình 10: Giáo sư Rudolf Virchow và cuốn sách “Bệnh học tế bào” Hình 11: Giáo sư Julius Cohnheim
Trong thời đại của Virchow, các thầy thuốc vẫn
chưa hiểu biết nhiều về khả năng gây bệnh của các vi sinh
vật; và Louis Pasteur (1843-1910), tuy xuất thân là một
nhà hoá học, lại chính là người đã tạo ra một cuộc cách
mạng trong nghiên cứu bệnh học. Qua việc giải quyết
thành công nhiều bệnh khác nhau như bệnh tằm gai, bệnh
than ở cừu, bệnh chó dại; ông là người đầu tiên đã chứng
minh có thể dùng phương pháp thực nghiệm để tìm ra
nguyên nhân phát sinh dòch bệnh và từ đó có các biện
pháp phòng chống thích hợp.
Từ giữa thế kỷ XX, nghiên cứu bệnh tật đã tiến
sang mức độ phân tử, bắt đầu với việc tìm ra nguyên nhân
các bệnh rối loạn chuyển hoá bẩm sinh. Con người đã đạt
được những thành tựu hết sức to lớn trong việc tìm hiểu
bản chất bệnh tật, nguyên nhân gây bệnh và cơ chế bệnh
sinh.
Hình 12: Louis Pasteur
Theo truyền thống, môn giải phẫu bệnh được chia thành 2 phần:
* Giải phẫu bệnh đại cương, nghiên cứu về các tổn thương cơ bản của tế bào và mô, là
cơ sở chung cho mọi loại bệnh lý của các cơ quan và các hệ thống khác nhau. Thí dụ phản ứng
viêm cấp là một tổn thương cơ bản, cơ sở chung của viêm ruột thừa cấp, viêm phổi thùy
* Giải phẫu bệnh chuyên biệt, nghiên cứu về các bệnh lý riêng biệt của từng cơ quan
hoặc hệ thống. Thí dụ như bệnh lý phổi, bệnh lý da
Tuy nhiên, mục đích tối hậu của môn giải phẫu bệnh không chỉ đơn thuần mô tả tổn
thương. Trái lại, thông qua việc phân tích các hình thái tổn thương, nó tìm hiểu về nguyên nhân
gây bệnh, giải thích cơ chế bệnh sinh và các rối loạn chức năng do tổn thương gây ra để góp
phần vào việc chẩn đoán, điều trò và phòng tránh bệnh. Vì vậy, nội dung cơ bản của môn giải
phẫu bệnh gồm có 4 mặt: nguyên nhân gây bệnh, cơ chế bệnh sinh, hình thái tổn thương và
các biểu hiện lâm sàng liên quan với tổn thương.
II. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU CỦA GIẢI PHẪU BỆNH HỌC
Các vật liệu nghiên cứu của giải phẫu bệnh học gồm nhiều loại:
1/ Tử thiết: là thi thể
hoặc những mẫu mô được lấy từ
bệnh nhân đã chết. Giải phẫu tử
thi giúp xác đònh nguyên nhân
gây chết, kiểm nghiệm các chẩn
đoán lâm sàng nhằm rút kinh
nghiệm để nâng cao chất lượng
chẩn đoán và điều trò bệnh. Các
nghiên cứu gần đây tại Mỹ cho
thấy có đến 30% chẩn đoán lâm
sàng đã không được xác nhận
trên tử thiết; chính vì vậy mà ở
các viện giải phẫu bệnh hoặc
các sách giải phẫu bệnh thường
Hình 14: Tử thiết 1 ca trẻ sơ sinh tử vong vì suy hô hấp cho thấy
1/ Quan sát đại thể: nghiên cứu bằng mắt trần tất cả những đặc điểm hình thái (như
kích thước, mầu sắc, mật độ, giới hạn, vỏ bao ) của một cơ quan bệnh lý.
Giới thiệu môn học Giải phẫu bệnh
8
2/ Q
uan sát vi thể và siêu vi thể: nghiên cứu các tổn thương của tế bào và mô dưới
kính hiển vi quang học hoặc kính hiển vi điện tử. Để quan sát được dưới kính hiển vi quang học,
mẫu mô phải được cố đònh, cắt mỏng 5 μm và nhuộm mầu, thời gian chuẩn bò mất khoảng 3-4
ngày. Quan sát siêu vi thể đòi hỏi mẫu mô phải được cắt mỏng đến 0,1 μm, thời gian chuẩn bò
mất hàng tháng do đó ít có tính ứng dụng trong chẩn đoán giải phẫu bệnh thường ngày, chủ yếu
để phục vụ cho nghiên cứu.
Phương pháp nhuộm thường quy trong các labô giải phẫu bệnh là phương pháp nhuộm
Hematoxylin-eosin: tế bào sẽ có nhân bắt màu tím còn bào tương thì bắt màu hồng (Hình 17A).
Trong một số trường hợp, có thể dùng thêm các phương pháp nhuộm hoá mô (còn gọi là nhuộm
đặc biệt) để xác đònh một số cấu trúc của tế bào và mô dựa vào ái tính đặc biệt của chúng đối
với một số loại hoá chất nào đó. Thí dụ nhuộm Fontana giúp phát hiện hắc tố melanin, nhuộm
PAS để phát hiện glycogen và chất nhầy, nhuộm trichrome để thấy rõ sợi collagen (Hình 17
B,C)
Hình 17: Niêm mạc đại tràng nhuộm Hematoxylin-eosin (A); nhuộm Trichrome, thấy rõ màng đáy bắt màu
xanh dương; nhuộm PAS (periodic acid-Schiff), giọt chất nhầy của tế bào đài bắt mầu hồng.
Gần đây, kỹ thuật hoá mô miễn dòch đã được áp dụng rộng rãi trong các labô giải phẫu
bệnh tại Tp.HCM để hỗ trợ cho chẩn đoán. Đây là một kỹ thuật nhuộm đặc biệt, sử dụng phản
ứng kết hợp kháng nguyên – kháng thể nhằm phát hiện những thành phần cấu tạo (các kháng
nguyên) có trong tế bào và mô. Vò trí kết hợp kháng nguyên – kháng thể sẽ được hiển thò nhờ
các hoá chất. (Hình 18)
Tùy theo hoá chất hiển thò, phân biệt hai phương pháp nhuộm hoá mô miễn dòch chính:
* Miễn dòch huỳnh quang:
Kháng thể được gắn với chất phát huỳnh quang. Nếu có phản ứng kết hợp kháng
nguyên - kháng thể (nghóa là có sự hiện diện của kháng nguyên cần tìm trong mẫu mô), phức
phát huỳnh quang (fluorescent In situ hybridization, FISH) , phản ứng chuỗi polymerase
(polymerase chain reaction, PCR), … cũng đang từng bước được đưa vào sử dụng trong labô giải
phẫu bệnh nhằm phục vụ cho công tác chẩn đoán; các kỹ thuật này tuy có độ chính xác cao
nhưng chi phí cũng cao không kém ! (Hình 20).
Hình 20: Kỹ thuật FISH cho thấy có sự khuyếch đại gen HER-2/neu lên gấp 3 lần (biểu
hiện bằng các đốm đỏ trong nhân) ở các tế bào carcinôm tuyến vú (B) so với
tế bào biểu mô ống tuyến vú bình thường (A).
Giới thiệu môn học Giải phẫu bệnh
10
3/ Đối chiếu lâm sàng-giải phẫu bệnh
Là hoạt động phối hợp thường xuyên cần phải có giữa các bác só lâm sàng, bác só giải
phẫu bệnh và các bác só thuộc các khoa cận lâm sàng khác như X-quang, siêu âm; để có được
chẩn đoán chính xác và điều trò đúng đắn, cũng như để rút kinh nghiệm đối với các trường hợp
bệnh nhân tử vong.
a/ Phì đại sinh lý:
Khi mang thai, tế bào cơ trơn tử cung được estrogen kích thích sẽ phì đại gấp 10 lần bình
thường. Estrogen gắn lên các thụ thể tương ứng có trong bào tương tế bào cơ trơn, đi vào trong
nhân và tương tác với ADN, kích thích sự tổng hợp các ARNm; kết quả làm tăng số lượng
protein của tế bào cơ trơn và làm tăng kích thước tế bào. Ở các vận động viên, các tế bào cơ
vân phì đại để thích nghi với yêu cầu tăng cao về chức năng co duỗi của cơ trong quá trình tập
luyện (Hình 1).
Hình 1: Phì đại sinh lý tử cung khi mang thai (A); tế bào cơ trơn bình thường (B); tế bào cơ trơn phì đại (C)
Tổn Thương Cơ Bản của Tế bào và Mô
12
b/ Phì đại bệnh lý:
Trong bệnh cao huyết áp hoặc hẹp van động mạch chủ, tâm thất trái của tim phải co bóp mạnh
hơn để thắng được sự gia tăng lực cản trong động mạch; để thích nghi tế bào cơ tim sẽ phì đại,
làm vách tim dầy lên và làm tăng trọng lượng quả tim (Hình 2).
Hình 2: Phì đại bệnh lý thất trái do cao huyết áp (A); tế bào cơ tim bình thường (B); tế bào cơ tim phì đại (C)
2/ TĂNG SẢN (hyperplasia)
Là hiện tượng tăng số lượng tế bào bằng hoạt động phân bào. Như vậy, chỉ những tế bào
còn giữ được khả năng phân bào mới có thể tăng sản. Tăng sản cũng được phân biệt thành 2
loại: tăng sản sinh lý và tăng sản bệnh lý.
a/ Tăng sản sinh lý:
Khi mang thai, các tế bào tuyến vú vừa tăng sản vừa phì đại để chuẩn bò cho hoạt động
tiết sữa, tương tự như vậy đối với các tế bào cơ trơn của tử cung. Ở gan, nếu một phần gan bò
cắt bỏ, phần còn lại sẽ tăng sản nhằm bù đắp lại số tế bào gan đã mất, còn gọi là tăng sản bù
trừ (Hình 3).
Hình 3: Ảnh chụp CT ở một người trước khi hiến tặng thuỳ phải gan (A); chỉ 1 tuần sau phẫu thuật, thuỳ trái
gan đã to hẳn ra do hoạt động tăng sản bù trừ (B). Vi thể mô gan bình thường ít thấy hình ảnh phân bào
(C); còn mô gan tăng sản bù trừ thì có tỉ lệ phân bào cao (D)
- Sự teo dần bộ não do bệnh xơ vữa động mạch làm giảm lượng máu nuôi.
Cần phân biệt sự teo đét tế bào với hiện tượng thoái triển (involution) của một số cơ quan,
xảy ra trong quá trình phát triển tự nhiên của cơ thể. Trong hiện tượng này, có sự giảm số lượng
tế bào bằng cơ chế hoại tử sinh lý hay còn gọi là sự tự hủy tế bào (apoptosis), kết quả cơ quan
bò teo nhỏ lại; thí dụ như sự thoái triển của tuyến ức ở tuổi thiếu niên. Trong sự teo nhỏ các cơ
quan sinh dục ở người già, thực ra có sự phối hợp của cả 2 hiện tượng: teo đét tế bào và thoái
triển.
Tổn Thương Cơ Bản của Tế bào và Mô
14
Hình 5: Teo cơ cẳng chân phải do bệnh bại liệt (A); Tế bào cơ vân bình thường (B); Tế bào cơ vân teo đét
4/ CHUYỂN SẢN (metaplasia)
Đối với một số loại thay đổi của môi trường xung quanh, tế bào chỉ có thể thích nghi tốt
bằng cách thay đổi hướng biệt hoá, gọi là chuyển sản. Đây là hiện tượng chuyển dạng từ 1 loại
mô đã biệt hoá thành 1 mô biệt hoá khác nhưng vẫn cùng loại (cùng là biểu mô hay trung mô).
Chuyển sản là 1 tổn thương có tính khả hồi.
Thí dụ:
- Ở người nghiện thuốc, biểu mô trụ giả tầng của khí phế quản thích nghi với sự kích
thích kéo dài của khói thuốc bằng cách chuyển dạng thành biểu mô lát tầng, gọi là chuyển sản
gai của biểu mô hô hấp.
- Ở cổ tử cung của người phụ nữ trưởng thành, phần biểu mô trụ đơn tiết nhầy của cổ
trong thường bò lộn ra ngoài, gọi là tình trạng lộ tuyến cổ tử cung; để thích nghi với môi trường
acid trong âm đạo, biểu mô trụ đơn cổ trong sẽ chuyển thành biểu mô lát tầng giống biểu mô
cổ ngoài cổ tử cung, gọi là hiện tượng chuyển sản gai (Hình 6)
Hình 6: Lộ tuyến cổ trong cổ trong cổ tử cung ( mũi tên, A); Biểu mô trụ đơn cổ trong bình thường (B); bắt
đầu chuyển sản thành 2 lớp (C); nhiều lớp (D); cuối cùng trở nên biểu mô lát tầng giống giống cổ ngoài (E).
- Biểu mô chuyển tiếp của bàng quang chuyển sản thành biểu mô lát tầng do bò kích thích
kéo dài bởi sỏi bàng quang hoặc nhiễm trùng.
Là hiện tượng ứ đọng bên trong tế bào 1 sản phẩm chuyển hoá bình thường hoặc bất
thường. Tùy theo mức độ ứ đọng, hoạt động của tế bào có thể bò rối loạn từ ít đến nhiều hoặc
trầm trọng đến mức gây chết tế bào.
1/ Ứ ĐỌNG NƯỚC
Là hiện tượng ứ đọng nước trong tế bào, chủ yếu gặp ở tế bào ống thận, gan, tim.
Nguyên nhân: các tình trạng thiếu máu, thiếu oxy, ngộ độc (Chloroform, tetrachlorur
carbon ), nhiễm trùng làm giảm sự sản xuất ATP tại ty thể. Do thiếu hụt ATP, hoạt động của
bơm Na
+
- K
+
ATPase ở màng tế bào bò rối loạn, dẫn đến ứ đọng natri trong tế bào, kết quả
nước bò kéo vào làm trương giãn các bào quan và toàn bộ tế bào.
Hình thái tổn thương:
- Đại thể: các tạng ứ nước bò trương to tăng trọng lượng, vỏ bọc căng, mầu sắc lợt lạt.
- Vi thể: tùy theo mức độ ứ đọng nước, có thể thấy hình ảnh:
* Trương đục tế bào (cloudy swelling): do ứ nước mức độ trung bình, tế bào trương to, bào
tương dạng hạt, bắt mầu kém, nhân còn ở giữa tế bào. Ở giai đoạn này, tổn thương còn khả hồi.
Tổn Thương Cơ Bản của Tế bào và Mô
16
* Thoái hoá nước (hydropic degeneration): do ứ nước trầm trọng, tế bào trương to, bào
tương bò choán bởi các không bào lớn không mầu mà bản chất là các túi lưới nội bào bò trương
to, nhân bò đẩy lệch ra ngoại vi. Tế bào có thể vỡ, chết (Hình 8).
Hình 8: Tế bào gan bình thường (A); Trương đục tế bào gan (B); Thoái hóa nước tế bào gan
2/ Ứ ĐỌNG LIPID
a/ Ứ đọng triglycerid (ứ đọng mỡ):
Thường gặp ở gan vì chuyển hoá mỡ được thực hiện chủ yếu tại đây, cũng có thể gặp ở
các tạng khác như tim, thận, cơ
Nguyên nhân gây ứ đọng mỡ đa dạng và khác nhau tùy cơ quan. Gan thường bò ứ đọng
Thí dụ: trong bệnh GAUCHER, có sự thiếu hụt enzym glucocerebrosidase làm
glucocerebroside bò ứ lại trong tiêu thể của các đại thực bào. Các đại thực bào này còn được gọi
là tế bào Gaucher, có kích thước lớn (100mcm), bào tương có dạng sợi.
Trong bệnh NIEMANN - PICK, có sự thiếu hụt enzym sphingomyelinase làm
sphingomyelin bò ứ lại trong tiêu thể của các đại thực bào. Các đại thực bào này có kích thước
lớn, có dạng tế bào bọt do bào tương chứa đầy những không bào nhỏ.
3/ Ứ ĐỌNG GLUCID
a/ Ứ đọng glycogen: gặp trong các rối loạn chuyển hoá glucoz như bệnh tiểu đường hoặc
các bệnh tích glycogen (glycogen storage disease).
Trong bệnh tiểu đường, glucoz thoát vào ống thận gần sẽ được các tế bào biểu mô ống
thận cố tái hấp thu cho hết. Kết quả là glucoz bò ứ đọng trong bào tương dưới dạng glycogen,
tạo thành các không bào nhỏ khó thấy, nhiều khi phải nhuộm đặc biệt (PAS, Carmin de Best )
mới phát hiện được (Hình 11)
Tổn Thương Cơ Bản của Tế bào và Mô
18Hình 11: Ứ đọng glycogen trong tế bào biểu mô ống thận khó thấy với nhuộm thông thường (A); thấy rõ khi
nhuộm với phẩm nhuộm Carmin de Best
Trong bệnh tích glycogen (bệnh Von Gierke, bệnh Mc Ardle, bệnh Pompe, ), có sự thiếu
hụt một trong các enzym liên quan đến quá trình tổng hợp hoặc giáng hoá glycogen, kết quả là
glycogen bò ứ lại trong bào tương hoặc trong tiêu thể của các tế bào gan, thận, cơ tim làm tăng
kích thước và rối loạn hoạt động các cơ quan.
b/ Ứ đọng mucopolysaccharide
Bệnh tích mucopolysaccharide (mucopolysaccharidoses) là một nhóm bệnh rối loạn
chuyển hoá bẩm sinh gây ra sự thiếu hụt 1 trong các enzym cần cho sự giáng hoá các
mucopolysaccharide như heparan sulfate, keratan sulfate, chondroitin sulfate, dermatan sulfate.
Kết quả là các mucopolysaccharide bò ứ lại trong tiêu thể của các đại thực bào, tế bào cơ trơn,
tế bào nội mô, nguyên bào sợi trong khắp cơ thể.
4/ Ứ ĐỌNG PROTEIN
lách. Hemosiderin bò ứ đọng trong các đại thực bào phế nang ở những người suy tim, trong các
tế bào nhu mô gan, thận, tim ở những người bò bệnh ứ sắt (hemosiderosis).
- BILIRUBINE: cũng được tạo thành từ sự giáng hoá hemoglobine, bò ứ đọng trong tế bào
gan do các bệnh lý gây tắc mật.
Các sắc tố trên đều bắt mầu nâu khi nhuộm thông thường (hematoxylin-eosin); để phân
biệt, có thể dùng các phương pháp nhuộm đặc biệt như Perls ( nhuộm xanh dương
hemosiderin), Fouchet (nhuộm xanh lá cây b
Hình 13: Tế bào gan ứ đọng các sắc tố đều có mầu nâu khi nhuộm thông thường (A, C, E);
nhuộm đặc biệt để phân biệt là lipofuscin (bắt mầu đen với Fontana, B), hemosiderin ( mầu xanh
dương với Perls, D) và bilirubin (mầu xanh lá với Fouchet, F)
Tổn Thương Cơ Bản của Tế bào và Mô
20
LẮNG ĐỌNG NGOẠI BÀO
Đặc trưng bởi sự hiện diện quá mức 1 chất hữu cơ hoặc vô cơ trong khoảng gian bào.
Hình 14:
Cholesterol lắng đọng ngoại bào
dưới dạng tinh thể hình kim
ûa
huyết tương từ trong lòng mạch thấm ra như fibrin, globulin miễn dòch loại IgM, IgG, các
lipoprotein và bổ thể. Đáng chú ý là không có phản ứng viêm đi kèm sự lắng đọng hyalin này.
1/ LẮNG ĐỌNG CHOLESTEROL:
Xảy ra khi có 1 số lượng lớn
cholesterol được giải phóng vào môi
trường ngoại bào, thí dụ như sự giải
phóng cholesterol từ màng các hồng
ở gan và lách của người mắc bệnh viêm nhiễm mãn tính, u tủy (myelome); cấu tạo hoá học chủ
yếu là các globulin miễn dòch. Trong bệnh ung thư tuyến giáp dạng tủy, cũng có sự lắng đọng
ngoại bào chất dạng tinh bột, nhưng cấu tạo hoá học lại là chất calcitonin do tế bào ung thư tiết
ra. Khi nhuộm thông thường, chất dạng tinh
nhuộm đỏ congo (red congo), chất dạng
xanh khi quan sát bằng kính hiển vi phân
3. LẮNG ĐỌNG CALCI: phân biệt 2 loại
a/ Calci hoá nghòch dưỡng: calci bò lắng đọng trong các mô chết (ổ hoại tử bã đậu, ổ máu
tụ, mảng
Hình 1
mạc dạ dày) do tình trạng tăng calci máu (trong các bệnh như cường
có hủy xương Hình ảnh vi thể của các đám calci cũng tương tự trong
4. LẮNG ĐỌNG URAT
6: các đám calci vô đònh hình bắt mầu kiêm, trong ổ máu tụ ( mũi tên, A); hoặc tạo thành thể cát
trong ung thư tuyến giáp dạng nhú (mũi tên, B)
b/ Calci hoá di căn: calci bò lắng đọng trong các mô sống (chủ yếu là ở thành mạch máu,
nhu mô thận, gan, niêm
tuyến cận giáp, u xương
calci hoá nghòch dưỡng.
Hình 17: Nốt tophi ở khớp ngón tay (A); trên vi thể, đám urát lắng đọng (*) được bào quanh bởi các tế bào
viêm.