BÁO CÁO
ĐƯA CÁC ĐIỀU KHOẢN MÔI TRƯỜNG VÀO HIỆP ĐỊNH THƯƠNG
MẠI TỰ DO (FTA) DỰ KIẾN GIỮA EU – VIỆT NAM:
CÁC VẤN ĐỀ VÀ VIỄN CẢNH
MÃ HOẠT ĐỘNG: FTA- 7C
Nhóm chuyên gia:
Anne Chetaille
Võ Trí Thành
Nguyễn Văn Tài
2.1 Luật bảo vệ môi trường 17
2.2 Các hiệp định môi trường đa phương, khu vực và song phương 19
3. CÁC SÁNG KIẾN VÀ TIÊU CHUẨN TỰ NGUYỆN 19
4. HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG 20
5. NHỮNG THÁCH THỨC CƠ BẢN PHÍA TRƯỚC 21
IV. HƯỚNG TỚI MỘT FTA GIỮA EU-VIỆT NAM THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƯỜNG21
1. SO SÁNH VỚI MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ VÀ CHÍNH SÁCH Ở VIỆT NAM 21
2. HÀM Ý VỀ PHÁP LUẬT 22
3. HÀM Ý VỀ KINH TẾ 22
V. KẾT LUẬN 23
VI. PHỤ LỤC 25
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BKHCN
Bộ Khoa học công nghệ
BKHĐT
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
BNNPTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BTNMT
Bộ Tài nguyên và Môi trường
CARIFORUM
Cộng đồng các nước Caribê
CITES
Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
RTA
Hiệp định thương mại khu vực
SEA
Đánh giá tác động môi trường
SIA
Đánh giá tác động bền vững
SPS
Vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật
TBT
Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
TRIPS
Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
UNDP
Chương trình phát triển của Liệp Hợp Quốc
UNIDO
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
5
I. TÓM LƯỢC
Phần này trình bày tóm lược kết quả phân tích các điều khoản về môi trường trong các Hiệp định
thương mại tự do (FTA) mà Liên minh châu Âu (EU) ký kết, tổng quan khuôn khổ pháp lý và chính
sách bảo vệ môi trường ở Việt Nam, và đánh giá hàm ý pháp lý và kinh tế đối với Việt Nam nếu
những điều khoản như vậy được đưa vào FTA với EU.
Nhìn chung, đánh giá cho thấy cách EU tiếp cận những vấn đề thương mại, môi trường trong các FTA
dựa trên hợp tác và đối thoại chứ không phải chế tài. Những cơ chế mang tính khuyến khích nhằm đảm
bảo ngành thương mại thân thiện hơn với môi trường được đưa ra cùng với các biện pháp hỗ trợ trên cơ
sở hợp tác. Trong khi đó, Việt Nam đã xây dựng một khuôn khổ pháp lý và chính sách bảo vệ môi
điều khoản WTO cộng”), và (iii) một chương cụ thể về Thương mại và Phát triển bền vững
với một phần chính về môi trường (gọi là “điều khoản WTO bổ sung”);
Điều khoản WTO bổ sung là một cách tiếp cận rất cụ thể của EU, mặc dù thực chất các điều
khoản có thể thay đổi phụ thuộc vào yêu cầu của nước đối tác;
6
Mối quan tâm của EU một mặt là các biện pháp môi trường liên quan đến thương mại không
được lạm dụng (nhằm mục đích bảo hộ). Mặt khác, tự do hóa thương mại không được làm
ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển phát triển bền vững và phải dẫn đến việc nâng cao tiêu
chuẩn bảo vệ môi trường (và xã hội);
Ngoài nguyên tắc chung này còn có bốn nhóm biện pháp: (i) các biện pháp môi trường liên
quan đến thương mại nhằm tăng cường sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và đầu tư
vào các lĩnh vực hàng hóa dịch vụ thân thiện với môi trường; (ii) các cơ chế có tính thể chế
nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện điều khoản của các chương và quy định trong trường
hợp có bất đồng; (iii) các biện pháp hỗ trợ (điều khoản về hợp tác) và (iv) trách nhiệm và các
biện pháp minh bạch hóa (đối thoại các tổ chức dân sự, rà soát các tác động bền vững);
Những bài học rút ra từ việc đàm phán và thực hiện các FTA EU có liên quan cho thấy:
o Vấn đề thương mại và môi trường thường có phần mới mẻ đối với một số nước đối
tác. Tiến hành các đánh giá tác động bền vững (SIA) nhìn chung cung cấp thêm
thông tin giúp các nhà đàm phán hiểu rõ tác động tiềm ẩn của tự do hóa thương mại
và xác định các biện pháp tiếp theo có thể thực hiện để đối phó với những tác động
tiêu cực và tăng cường tác động tích cực.
o Các điều khoản môi trường trong các FTA của EU đã nâng cao năng lực thể chế
và năng lực con người trong việc bảo vệ môi trường, củng cố khuôn khổ và quy
trình mang tính thể chế như là các cơ chế minh bạch hóa, sự tham gia của cộng
đồng và tăng cường hợp tác dựa vào các lĩnh vực.
2.2 Khuôn khổ chính sách và pháp lý về bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở Việt Nam
song hành cùng áp lực ngày càng tăng lên môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tự do hóa thương mại trong một số ngành như thủy sản, dệt may và các sản phẩm gỗ có
thậm chí đối với cả những thị trường ngoài EU.
3. Các khuyến nghị
Việt Nam có thể dùng cơ hội FTA dự kiến với EU để làm rõ trách nhiệm của các Bộ
ngành, cơ quan nhà nước trong việc theo dõi mối liên hệ giữa thương mại và môi trường
trong mối tương quan với việc thực hiện các điều khoản môi trường của FTA;
Có thể cần đến các biện pháp hợp tác để hỗ trợ các đối tượng kinh tế, đặc biệt là các
doanh nghiệp nhỏ và vừa để thích nghi với các tập quán quản lý bền vững;
Cân nhắc vấn đề môi trường đối với ngành dệt may và du lịch có thể sẽ có lợi cho Việt
Nam, xét tầm quan trọng về mặt kinh tế và sự phụ thuộc vào chất lượng môi trường cũng
như tài nguyên thiên nhiên của những ngành này.
II. PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO CỦA EU
1. Tổng quan các điều khoản môi trường trong các thỏa thuận WTO
Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 vào năm 2003 (Doha), các thành viên WTO đã tái khẳng định
cam kết ủng hộ phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Những mục tiêu này được đưa vào
trong Hiệp định Marrakesh. Trong khi không có thỏa thuận cụ thể nào đề cập tới vấn đề môi
trường, các thành viên có thể chấp nhận các biện pháp liên quan đến thương mại theo quy định
của WTO nhằm bảo vệ môi trường miễn là đáp ứng được một số điều kiện để tránh lạm dụng
những biện pháp đó với mục đích bảo hộ. Những quy định này bao gồm Điều XX trong GATT
về các Ngoại lệ chung và các thỏa thuận WTO chuyên biệt.
Điều XX đưa ra một số hoàn cảnh cụ thể mà theo đó các thành viên WTO có thể được miễn các
quy định của GATT. Hai ngoại lệ liên quan đặc biệt đến bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe
con người. Theo đoạn (b) và (g) của Điều XX, các thành viên WTO có thể giải trình các biện
pháp không tuân theo GATT nếu lần lượt những biện pháp này hoặc là cần thiết để bảo vệ sức
khỏe con người, động thực vật, hoặc liên quan đến việc bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên có
thể bị cạn kiệt.
Ngoài Điều XX, hai thỏa thuận cơ bản của WTO đưa ra phạm vi cho các mục tiêu về môi trường
để giám sát và thực hiện những biện pháp cần thiết liên quan đến thương mại. Hiệp định về Rào
cản kỹ thuật trong thương mại (TBT) và Hiệp định về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch
động thực vật (SPS) thừa nhận một cách rõ ràng các thành viên có quyền bảo vệ sức khỏe động
của WTO và các bên liên quan trong hiệp định MEA. Các cuộc đàm phán sẽ không thiên vị quyền lợi WTO của bất
kỳ thành viên nào mà không phải là bên ký kết hiệp định MEA liên quan;
(ii) Thủ tục trao đổi thông tin thường kỳ giữa Ban Thư ký MEA và các Ủy ban WTO liên quan, và các tiêu chí trao
vị trí quan sát viên;
(iii) Cắt giảm hoặc, nếu phù hợp, xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ môi
trường.
Chúng tôi xin lưu ý rằng trợ cấp ngành thủy sản là một phần của đàm phán nêu trong đoạn 28.
32. Chúng tôi hướng dẫn Ủy ban Thương mại và Môi trường, trong việc thực hiện các vấn đề trong chương trình
làm việc theo tham chiếu hiện hành, cần chú ý đặc biệt tới:
(i) Tác động của các biện pháp môi trường đối với việc tiếp cận thị trường, đặc biệt liên quan đến các nước đang
phát triển, nhất là những nước kém phát triển nhất trong số này, và trong những trường hợp việc xóa bỏ hoặc cắt
giảm hạn chế hay bóp méo thương mại sẽ có lợi cho thương mại, môi trường và phát triển;
(ii) Những điều khoản liên quan trong Hiệp định về những khía cạnh liên quan đến thương mại của Quyền sở hữu trí
tuệ; và
(iii) Yêu cầu nhãn mác vì mục đích môi trường.
Giải quyết những vấn đề này cần bao gồm cả việc xác định nhu cầu làm rõ các quy định liên quan của WTO. Ủy ban
sẽ báo cáo lên phiên họp thứ năm của Hội nghị Bộ trưởng, đưa ra kiến nghị, nếu cần, liên quan đến hành động trong
tương lai, bao gồm ngyện vọng của các cuộc đàm phán. Kết quả của việc này cũng như các cuộc đàm phán được
tiến hành theo đoạn 31 (i) và (ii) phải tương thích với bản chất mở và không phân biệt đối xử của hệ thống thương
mại đa phương, không tạo thêm hay xóa bỏ các quyền và nghĩa vụ của các thành viên theo các hiệp định hiện hành
của WTO, đặc biệt là Hiệp định về Áp dụng các biện pháp SPS, cũng như thay đổi tính cân bằng của các quyền và
nghĩa vụ này, và sẽ cân nhắc đến những nhu cầu của các nước đang phát triển và các nước kém phát triển.
33. Chúng tôi thừa nhận tầm quan trọng của hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực trong lĩnh vực thương mại và môi
trường đối với các nước đang phát triển, nhất là những nước kém phát triển nhất trong số này. Chúng tôi cũng
9
khuyến khích chia sẻ chuyên môn và kinh nghiệm giữa các thành viên có nguyện vọng rà soát vấn đề môi trường ở
cấp quốc gia. Một bản báo cáo về những hoạt động này sẽ được chuẩn bị cho phiên họp thứ năm.”
2. Vấn đề bảo vệ môi trường trong các FTA của EU
chú trọng đặc biệt đến yêu cầu không nới lỏng những tiêu chuẩn hiện hành để thu hút đầu tư
nước ngoài, tầm quan trọng của việc thực thi, các điều khoản ngoại lệ liên quan đến việc bảo vệ
sức khỏe con người và môi trường, nâng cao năng lực và hỗ trợ kỹ thuật, vai trò của xã hội dân
sự và cộng đồng nói chung trong việc thiết kế, triển khai và thực thi các biện pháp liên quan”.
Theo Ủy ban châu Âu EC, thương mại đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường cũng cần
được tăng cường với các bên đối tác thứ ba của EU và mối liên quan giữa chính sách thương mại
và thay đổi khí hậu có thể sẽ đòi hỏi có những đánh giá thêm
3
. Những mối quan tâm này đều phù
hợp ở cả mức độ đa phương và song phương.
1
George C., “Các hiệp định thương mại khu vực và môi trường: Giám sát thực hiện và đánh giá tác động”, Báo cáo hội
thảo OECD (06/ 2010), Báo cáo công tác của OECD 2011/02.
2
Ủy ban châu Âu, “Châu Âu tòa cầu: cạnh tranh trên thế giới- Đóng góp cho chiến lược tăng trưởng và việc làm vủa
EU”, thông tin của Ủy ban Hội đồng, Nghị viện châu Âu, Ủy ban Kinh tế xã hôi châu Âu và Ủy ban các khu vực
(2006).
3
Xem trang 25, phần 2.3 “Đặt khía cạnh toàn cầu vào trọng tâm chính sách của EU”.
10
Một nét cơ bản nữa trong cách tiếp cận thương mại và phát triển bền vững của EU là tiến hành
Đánh giá tác động bền vững (SIA) song song với quá trình đàm phán
4
. Điều này giúp lồng ghép
vấn đề bền vững vào chính sách thương mại, bằng việc thông báo cho các nhà đàm phán của cả
hai bên những tác động về kinh tế, môi trường và xã hội của tự do hóa thương mại và xác định
những biện pháp tiếp theo nhằm giảm bớt các tác động tiêu cực/gia tăng tác động tích cực.
2.3 Quá trình hội nhập Ba cấp
nước, dịch vụ cung cấp hoặc tiêu dùng trong nước. Tham chiếu đến bảo vệ môi trường lại
khác trong Hiệp định đối tác kinh tế EU- CARIFORUM EPA. Chương về Dịch vụ gộp
các biện pháp môi trường cụ thể cho ngành du lịch trong điều 115 về “tăng tác động của
du lịch đối với phát triển bền vững” và điều 116 về “Môi trường và tiêu chuẩn chất
lượng”
5
. Mặc dù các nền kinh tế Caribbean phụ thuộc rất nhiều vào doanh thu từ du lịch,
4
5
Điều 115 có nói “các Bên khuyến khích sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ CARIFORUM vào các chương trình
hỗ trợ tài chính quốc tế, khu vực, tiểu khu vực, song phương và tư nhân nhằm hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững”.
11
ngành này có thể hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường nếu không được
quản lý theo cách bền vững. Điều này có thể cho thấy việc đưa các biện pháp này vào
hiệp định EPA này là hợp lý.
- Nông nghiệp và thủy sản: chương 5 của hiệp định đối tác kinh tế EU-CARIFORUM
EPA về nông nghiệp và thủy sản chú trọng mục đích phát triển bền vững. Chương này
nhấn mạnh tầm quan trọng về kinh tế và xã hội của những hoạt động liên quan đến nông
nghiệp và thủy sản đối với xóa đói giảm nghèo và an ninh lương thực, đồng thời công
nhận cần phải quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững (điều 37 – Mục tiêu).
Chương còn bao gồm các điều khoản hợp tác về các lĩnh vực như “tuân thủ và có các
tiêu chuẩn chất lượng liên quan đến sản xuất và tiếp thị thực phẩm, bao gồm các tiêu
chuẩn liên quan đến các tập quán nông nghiệp đúng đắn về mặt môi trường và xã hội,
thực phẩm sạch và không biến đổi gen”.
- Mua sắm chính phủ: hiệp định EU – Trung Mỹ nêu cụ thể trong chương về mua sắm
đấu thầu rằng các biện pháp về quy chuẩn kỹ thuật sẽ không ngăn cản một thực thể mời
thầu chuẩn bị, sử dụng hay áp dụng quy chuẩn kỹ thuật để tăng cường công tác bảo tồn
- Biện pháp số 6: Giải quyết bất đồng phát sinh thông qua tham vấn
(CARIFORUM) hoặc qua một ban cố vấn (Hàn Quốc, Trung Mỹ,Columbia và Pe-
ru);
- Biện pháp số 7: Đảm bảo việc hợp tác, bao gồm hỗ trợ ký thuật, trao đổi thông tin,
nâng cao nhận thức của cộng đồng (tất cả các FTA);
- Biện pháp số 8: Tạo thuận lợi cho đối thoại với xã hội dân sự về những vấn đề
liên quan đến việc thực hiện chương này (Hàn Quốc, Trung Mỹ, Columbia và Pe-
ru, CARIFORUM);
- Biện pháp số 9: Trao đổi thông tin khoa học khi chuẩn bị và thực hiện các biện
pháp nhằm mục đích bảo vệ môi trường (tất cả các FTA);
- Biện pháp số 10: Rà soát tác động bền vững (Trung Mỹ, Columbia và Peru, Hàn
Quốc).
Cách diễn đạt và nội dung của các biện pháp số 1, 8, 9 và 10 khá tương đồng trong tất cả các
FTA. Các biện pháp còn lại có ít nhiều khác biệt. Phân tích các hiệp định này cho thấy các điều
khoản môi trường chi tiết hơn trong các hiệp định của EU với Trung Mỹ, Hàn Quốc, Columbia
và Peru, như trong hiệp định đối tác kinh tế (EPA) EU-CARIFORUM. Hiệp định EPA này là
hiệp định đầu tiên sau khi EU có Chiến lược châu Âu toàn cầu. Liên minh EU dựa trên hiệp định
đầu tiên này để đàm phán các chương về Thương mại và phát triển bền vững chi tiết hơn trong
ba hiệp đinh còn lại.
Biện pháp số 1 có thể được coi là một nguyên tắc cơ bản theo đó, một mặt, các biện pháp tự do
hóa thương mại không được làm tổn hại đến các luật môi trường và các hiệp định môi trường đa
phương (MEA), mặt khác, các biện pháp bảo vệ môi trường không được sử dụng nhằm mục đích
bảo hộ. Biện pháp này công nhận quyền của quốc gia trong việc quy định, giám sát. Như vậy rõ
ràng là EU không yêu cầu hài hòa hóa các tiêu chuẩn.
Các biện pháp khác có thể được phân loại như sau:
a. Các biện pháp môi trường liên quan đến thương mại (biện pháp số 2 đến 4)
Những biện pháp này có trong tất cả các hiệp định trừ hiệp định giữa EU –CARIFORUM. Hiệp
định EU-Hàn Quốc chỉ đề cập đến biện pháp số 3. Theo biện pháp này, các bên sẽ nỗ lực tạo
thuận lợi và tăng cường thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào hàng hóa và dịch vụ
Các hiệp định bao gồm cơ chế bắt buộc đối với quản trị, giám sát việc thực hiện và giải quyết bất
đồng. Tuy nhiên, không có việc rút lại những nhượng bộ thương mại trong quá trình thực hiện
bởi mối quan tâm tập trung vào cách tiếp cận mang tính hợp tác và trách nhiệm cộng đồng
6
.
Nói một cách cụ thể hơn, những cơ chế, thể chế thiết lập để giám sát việc thực hiện giữa các hiệp
định là khác nhau. Chúng thường bao gồm một thể chế ở cấp FTA chuyên trách nhiệm vụ này,
và một nhóm cố vấn quốc gia (ngoại trừ FTA EU-CARIFORUM). Các bên cũng phải xác định
các đầu mối liên hệ trong việc quản trị. Liên quan đến thể chế thiết lập ở cấp FTA, nhiệm vụ của
nó cũng khác biệt phụ thuộc vào hình thức pháp lý. Chẳng hạn, FTA EU-Hàn Quốc thành lập
một Ủy ban về Thương mại và Phát triển bền vững ngoài các ủy ban khác (Ủy ban về thương
mại và dịch vụ, Ủy ban về Các biện pháp SPS,…). Hiệp định thương mại tự do giữa EU và Co-
lumbia và Peru thiết lập một tiểu ban. Tiểu ban này có những quy định về thủ tục riêng và có thể
đệ trình kiến nghị lên Ủy ban Thương mại. FTA giữa EU-Trung Mỹ bao gồm một Ban về
Thương mại và Phát triển bền vững. Liên quan đến EPA với CARIFORUM, một ủy ban tham
vấn đã được thành lập. Ban này có thể đệ trình các bên những kiến nghị bằng lời hoặc bằng văn
bản để phổ biến và trao đổi thông tin về những thông lệ tốt nhất liên quan đến những vấn đề của
chương này. Vì vậy, nhiệm vụ của Ban này không mạnh như Ủy ban Thương mại và Phát triển
bền vững theo FTA giữa EU và Hàn Quốc.
Cơ chế giải quyết tranh chấp được thiết lập trong các hiệp định dựa trên hợp tác và đối thoại
chứ không phải chế tài. Giữa các hiệp đinh có sự khác nhau. Theo hiệp định EU-Hàn Quốc, một
bên có thể đề nghị tham vấn bên còn lại về bất kỳ vấn đề gì liên quan đến lợi ích hai bên phát
sinh trong khuôn khổ chương Thương mại và Phát triển bền vững. Nếu một bên thấy vấn đề nào
cần thảo luận thêm thì có thể kiến nghị triệu tập Ủy ban Thương mại và Phát triển bền vững để
xem xét vấn đề. Quyết định của ủy ban sẽ được công bố. Ủy ban có thể tham vấn một hoặc cả
hai Nhóm cố vấn trong nước. Cuối cùng, trừ khi các bên đồng ý cách khác, một bên có thể yêu
cầu triệu tập một Ban chuyên gia để xem xét vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng qua tham
vấn chính phủ. Ban chuyên gia sẽ trình bày một bản báo cáo với các bên trong vòng 90 ngày kể
từ khi chuyên gia cuối cùng được lựa chọn. Những khuyến nghị của các chuyên gia sẽ được Ủy
ban Thương mại và Phát triển bền vững giám sát. Báo cáo sẽ được cung cấp cho nhóm cố vấn
biện pháp môi trường liên quan đến thương mại như đã nêu trên. Những biện pháp này được
diễn giải trong điều khoản liên quan của chương về Thương mại và Phát triển bền vững
(CARIFORUM
7
, Columbia và Peru). Chúng cũng có thể được nêu ngắn gọn cùng với các biện
pháp chi tiết và mang tính bổ trợ trong phần phụ lục (Hàn Quốc) hoặc trong phần về Hợp tác của
các Hiệp định hiệp hội hoặc Hiệp định đối tác kinh tế (CARIFORUM, Trung Mỹ, Columbia và
Peru). Trong các hiệp định không nói đến nguồn tài chính nào dành cho các biện pháp hợp tác
như vậy. Các biện pháp hợp tác này chỉ xác định những ưu tiên và đưa ra cơ cấu để mở rộng thảo
luận trong các văn bản chương trình hợp tác. Nguồn tài chính cho hợp tác về các vấn đề thương
mại và môi trường có thể được nước đối tác xác định trong văn bản hợp tác chiến lược với EU.
Vì vậy, điều này cho phép có được sự nhất quán hơn nữa với các chương trình hợp tác về môi
trường.
d. Trách nhiệm và các biện pháp minh bạch (biện pháp số 8 và 10)
Phần diễn giải và nội dung liên quan đến đối thoại với xã hội dân sự và rà soát tác động bền
vững rất tương đồng trong tất cả các hiệp định ngoại trừ hiệp định với CARIFORUM. Trong
hiệp định này, không có điều khoản cụ thể về rà soát tác động bền vững và đối thoại xã hội dân
sự. Tuy nhiên, có một điều khoản về tính minh bạch đề cập đến việc tham vấn với các đối tượng
ngoài khối nhà nước. Đối với các hiệp định khác, điều khoản về rà soát tác động bền vững quy
định mỗi bên cần cam kết rà soát, giám sát và đánh giá tác động của việc thực hiện hiệp định đối
với phát triển bền vững. Phải có đối thoại xã hội dân sự mỗi năm một lần (trừ khi các bên thống
nhất cách khác). Hiệp định EU-Trung Mỹ quy định mỗi cuộc họp của Ủy ban sẽ gồm một phiên
trong đó các thành viên báo cáo về việc thực hiện đối thoại xã hội dân sự. Trong hiệp định EU-
Hàn Quốc, các quan điểm, ý kiến hoặc kết quả đối thoại xã hội dân sự có thể trực tiếp trình lên
các bên hoặc thông qua các nhóm cố vấn trong nước. Cuối cùng, theo hiệp định EU-Columbia và
Peru, phải có tóm tắt các phiên họp. Đối lập với hiệp định EU-Trung Mỹ và EU-Hàn Quốc,
không có gì liên quan đến tiểu ban cũng như cơ chế chia sẻ thông tin với các nhóm cố vấn trong
nước.
7
Bốn hiệp định nghiên cứu trong báo cáo này tương đối mới nên việc đánh giá toàn diện việc thực
hiện hiệp định cũng khó. Tuy nhiên, có thể rút ra một số bài học. Một báo cáo mới đây của
OECD cho thấy các điều khoản môi trường trong các FTA của EU đã cải thiện năng lực thể chế
và nhân lực trong việc bảo tồn môi trường, củng cố các quá trình và khuôn khổ thể chế như cơ
chế minh bạch hóa, sự tham gia của cộng đồng, tăng cường hợp tác phụ thuộc vào các ngành
9
Tăng cường các hoạt động hợp tác về môi trường và nâng cao năng lực là việc quan trọng để có
sự tham gia hiệu quả của các bên liên quan trong khối nhà nước và tư nhân.
III. ƯU TIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM
Như đã nói ở trên, các hiệp định FTA của EU nhìn chung kết hợp ba cấp độ điều khoản. Với các
quy định cơ bản của WTO, cả hai bên đều cam kết với tư cách là thành viên của WTO. Hiệp
định FTA dự kiến giữa EU và Việt Nam được cho là sẽ có những quy định này. Mặt khác,
“WTO cộng” và “WTO bổ sung” tham vọng hơn và có thể dẫn đến những cam kết mới bổ sung
đối với cả hai bên so với các quy định của WTO. Tuy nhiên, trong khi việc đưa vào một chương
về Thương mại và Phát triển bền vững (WTO bổ sung) được cho là yêu cầu cụ thể của phía EU
8
Đánh giá tác động bền vững thương mại của FTA giữa EU-ASEAN, Báo cáo cuối cùng, Tập 1 – Những kết quả chính
và các đề xuất, TARDE07/C1/01 – Lot 2, ECORYS, IIDE, CES, MEKONG Economics, INACON, Rajah & Tann
LLP, 2009.
9
Ibid. George C. (2011 a)
16
thì lại khó có thể biết được bên nào yêu cầu có các biện pháp môi trường trong phần văn kiện
chính (WTO cộng). Với tình hình như vậy, báo cáo lựa chọn tập trung vào các điều khoản WTO
bổ sung và đánh giá xem liệu các điều khoản có thể chấp nhận được đối với Việt Nam và với
2
thải ra sẽ tăng gấp đôi và sẽ tiếp tục
tăng thêm. Khí thải chủ yếu từ công nghiệp chế tạo, xây dựng và vận tải. Việt Nam phải đối mặt
với những thách thức như các nước láng giềng ASEAN. Du lịch, đánh bắt cá quá mức và áp lực
do sử dụng đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản trên đất tự nhiên, cùng với chặt phá rừng bất
hợp pháp làm tăng áp lực lên các nguồn tài nhiên thiên nhiên của ASEAN
12
.
Mối liên quan giữa tự do hóa thương mại và bảo vệ môi trường là vấn đề gây tranh luận; có
người cho rằng tự do hóa thương mại có tác động tiêu cực với môi trường, có người cho rằng thu
nhập có được từ tự do hóa thương mại có thể dùng để tăng mức độ bảo vệ môi trường. Báo cáo
đánh giá tác động bền vững EU-ASEAN cho thấy tự do hóa thương mại hơn nữa có thể có tác
động tiêu cực đối với môi trường không khí (tăng khí thải nhà kính), sử dụng đất và sinh thái,
chất lượng môi trường, nước sạch và nước thải trừ khi FTA khuyến khích đầu tư nhiều hơn nữa
vào hàng hóa và dịch vụ môi trường và thực hiện các chương trình cấp chứng chỉ. Không xét
đoán trước những kết quả của đánh giá tác động bền vững có thể thực hiện bổ sung về FTA giữa
EU và Việt Nam, những tác động như vậy có thể xảy ra ở Việt Nam.
10
Điểm nóng là một khu vực sinh địa có nguồn sinh thái bị đe dọa bởi con người
11
Giám sát môi trường Việt Nam, 2005, Ngân hàng thế giới
12
Xem báo cáo Đánh giá tác động bền vững EU-ASEAN
17
Đóng góp của xuất khẩu của Việt Nam cho GDP là 64, 7%
13
. Liên minh châu Âu là một trong
những đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam. Xuất khẩu sang EU chủ yếu là:
Ý thức về việc cần phải đảm bảo quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên có vẻ như đang
được nâng cao. Điều này có thể thấy qua một số luật và quy định kỹ thuật của Chính phủ và
những tiêu chuẩn mang tính tự nguyện do một số cơ sở trong khối tư nhân áp dụng trong thập kỷ
qua. Theo thời gian, một hệ thống thể chế về bảo vệ môi trường cùng một khuôn khổ tương thích
đã được thiết lập.
2.1 Luật bảo vệ môi trường
Kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững (1991-2000) là văn bản chính
thức đầu tiên công nhận tính cấp thiết của vấn đề và lập chương trình hành động. Chương trình
hành động 21 của Việt Nam năm 2004 gồm một số các chiến lược mà các Bộ ngành, địa phương
và các tổ chức và cá nhân liên quan phải theo sát. Các chiến lược then chốt khác là Chiến lược
13
Số liệu thương mại song phương giữa Việt Nam-EU và thương mại với thế giới, 2011.
14
Thực vật trong nước: Những khuôn khổ pháp lý đối với rừng đước ở Việt Nam, trong chuỗi nghiên cứu sáng kiến pháp
lý quốc gia của Katoomb, GTZ, SNV, (2010).
18
quốc gia bảo vệ môi trường đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 (2003) và Chiến lược định
hướng phát triển hướng tới phát triển bền vững (2004).
Phần này trình bày những điểm nổi bật của luật bảo vệ môi trường (năm 2005, thay thế luật năm
1993).
Luật này gồm 15 chương: (1) các điều khoản chung; (2) các tiêu chuẩn môi trường; (3) đánh giá
chiến lược môi trường, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường; (4) bảo tồn
và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách có tính toán; (5) bảo vệ môi trường trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh và dịch vụ
15
; (6) bảo vệ môi trường ở trung tâm đo thị và khu dân cư; (7)
bảo vệ môi trường biển, sông và các nguồn nước khác; (8) quản lý chất thải; (9) bảo vệ, ứng phó
đối với các sự cố môi trường, biện pháp cải thiện tình trạng ô nhiễm và khắc phục môi trường;
Luật pháp dùng đến hệ thống giám sát môi trường, hệ thống được thiết lập năm 1994. Hệ
thống này gồm các cơ sở khảo sát và giám định mẫu, phòng thí nghiệm, các trung tâm phân tích
mẫu cũng như các chương trình giám sát môi trường. Trách nhiệm chung giữa: (i) BTNMT phụ
trách tổ chức giám sát tình trạng môi trường quốc gia; (ii) các Bộ ngành và cơ quan ngang Bộ,
các đơn vị thuộc nhà nước chịu trách nhiệm giám sát tác động môi trường của các hoạt động và
15
Các hoạt động gồm các làng nghề thủ công, bệnh viện, giao thông, nhập khẩu và vận chuyển hàng hóa, du lịch, nuôi
trồng thủy sản, khai khoáng,…
19
ngành nghề do họ quản lý; (iii) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý trình trạng môi trường trong
địa phương mình và (iv) các nhà quản lý hoặc phụ trách hoạt động sản xuất. Có các báo cáo Tình
trạng môi trường cấp quốc gia và cấp tỉnh và báo cáo Tác động của các đơn vị chi nhánh. Các
báo cáo gồm thông tin về chất lượng nguồn nước, không khí, đất, tài nguyên thiên nhiên, môi
trường ở thành thị,…Đến năm 2005 đã có 25 cơ sở tiến hành giám sát ở 300 địa điểm. Những địa
điểm này gồm những điểm nóng như các khu công nghiệp, các thành phố lớn và các vùng sinh
thái môi trường nhạy cảm. Luật cũng định rõ những biện pháp nhằm đảm bảo việc công bố
những thông tin môi trường và đối thoại về các vấn đề môi trường.
Nguồn tài chính cho việc bảo vệ môi trường là của nhà nước, quỹ của các tổ chức và cá nhân,
tiền bồi thường thiệt hại về môi trường, thuế môi trường,…Quỹ Môi trường Việt Nam thành lập
năm 2002 là tiền từ ngân sách nhà nước, tiền bồi thường, đóng góp tự nguyện,…Quỹ này nhằm
cung cấp cho nhà đầu tư của các dự án môi trường những khoản vay ưu đãi, trợ cấp hoặc cùng
góp vốn. Ngân sách dành cho BTNMT và chi phí cho bảo vệ môi trường chiếm 1% GDP của
Việt Nam.
Có các văn bản khác nhau tùy theo phạm vi và hình thức pháp lý. Các văn bản này có thể mang
tính liên ngành và bao quát về bảo vệ môi trường, hoặc tập trung vào các vấn đề môi trường
(sinh thái, thay đổi khí hậu, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ rừng, sử dụng bền vững nguồn tài
nguyên biển,…). Chúng bao gồm những chiến lược, kế hoạch hành động, chương trình quốc gia,
luật, nghị định,…Những chiến lược của các ngành liên quan cũng đề cập những mối quan tâm về
định về nhà máy chế biến cá, đánh bắt cá bất hợp pháp
17
. Việt Nam bắt đầu xuất khẩu thủy sản
năm 1990. Xuất khẩu hiện nay vào khoảng 5 tỷ USD. Ngoài các quy định, khối tư nhân đã có
một số tiêu chuẩn mang tính tự nguyện của các nước đối tác như tiêu chuẩn Global GAP
18
vốn
được áp dụng rộng rãi tại châu Âu. Ngành nuôi và khai thác cá da trơn đã có khả năng hài hòa
hóa phương pháp và quy trình sản xuất. Việc này khó khăn và tốn kém hơn đối với ngành tôm
vốn có quy mô nhỏ và tập quán nuôi và đánh bắt truyền thống. Truy xuất nguồn gốc trong ngành
này là khó khăn.
Đối với ngành sản xuất sản phẩm gỗ, yêu cầu nâng cao nhu cầu đối với sản phẩm gỗ có Chứng
chỉ của Hội đồng Rừng quốc tế (FSC) từ các công ty xuất khẩu đồ nội thất của Việt Nam tăng
cao và đồ nhập khẩu cao cấp từ nước ngoài hầu như đáp ứng được hoàn toàn yêu cầu này. Chiến
lược rừng của Việt Nam nhằm mục tiêu chứng nhận 30% diện tích 4,48 triệu hecta rừng khai
thác trong thập niên tới. Tuy nhiên, phần lớn 2,5 triệu hecta diện tích rừng đồn điền lại do các hộ
trồng rừng nhỏ quản lý, đa phần là các hộ nông dân nghèo. Trên 100 công ty ở Việt Nam có
Chứng nhận Chuỗi giám hộ (COC) của FSC, cho phép họ nhập khẩu, chế biến và bán sản phẩm
gỗ có chứng nhận FSC ở nơi khác. Tuy nhiên, đến năm 2007 chỉ một công ty nhận được chứng
nhận cho sản xuất gỗ ở Việt Nam. Do vậy, phần lớn sản phẩm gỗ có chứng nhận FSC xuất đi từ
Việt Nam lại được làm từ gỗ không phải của Việt Nam.
Cuối cùng, đối với ngành dệt may thì không có quy định cụ thể nào ở Việt Nam. Họ phải áp
dụng các quy định kỹ thuật trong Luật Bảo vệ môi trường, đề cập đến quản lý nước thải và chất
thải rắn. Ngành này cố gắng để không ngừng thích ứng với các yêu cầu của EU như Quy định về
việc đăng ký, đánh giá, cấp phép và hạn chế các hóa chất (REACH)
19
. Các tiêu chuẩn môi trường
mang tính tự nguyện cũng được áp dụng như như ISO 9001
20
, ISO 14001 (hệ thống quản lý môi
hệ thống chất lượng nhằm đảm bảo hiệu quả, và (6) tạo điều kiện để không ngừng cải tiến. Chứng nhận ISO 9001
không đảm bảo rằng công ty có sản phẩm chất lượng hảo hạng. Nó chỉ chứng nhận rằng công ty đã làm theo thủ tục
như đã quy định theo tiêu chuẩn.
21
Mục tiêu của ISO 14001 là khuyến khích các tổ chức giải quyết một cách có hệ thống những tác động môi trường do
hoạt động của mình gây ra và thiết lập một phương thức tiếp cận chung đối với hệ thống quản lý môi trường. Những
tiêu chuẩn này dự kiến sẽ được áp dụng cho các doanh nghiệp với mọi quy mô trên thế giới. Chúng cung cấp một
khuôn khổ để tổ chức những nhiệm vụ cần thiết cho việc quản lý môi trường hiệu quả.
22
Oeko-Tex là hệ thống chứng nhận kiểm định toàn cầu nhằm phát hiện những chất độc hại trong sản phẩm dệt may tiêu
dùng. Hệ thống được xây dựng năm 1992 do một nhóm cá tổ chức dệt may của châu Âu. Đó là tiêu chuẩn vượt trội trên
toàn cầu trong lĩnh vực nhãn mác thân thiện với môi trường dành cho sản phẩm dệt may, với hơn 48000 giấy chứng
nhận được cấp trên toàn thế giới kể từ khi bắt đầu.
23
GEF-4 (2006-2010), GEF tài trợ khoảng 19 triệu USD cho Việt Nam (về sinh thái và thay đổi khí hậu).
21
Khoảng 5% viện trợ ODA cho môi trường dành cho tăng cường thể chế (bao gồm điều phối
chính sách môi trường, đánh giá SEA, giáo dục và nâng cao nhận thức,…), các chương trình tiêu
chuẩn hóa,…Về bảo tồn sinh thái, chi phí trung bình hàng năm chiếm 2% tổng viện trợ ODA cho
lĩnh vực môi trường
24
.
5. Những thách thức cơ bản phía trước
Theo thời gian, một hệ thống thể chế về bảo vệ môi trường cùng với khuôn khổ pháp lý tương
tích đã được hình thành. Điều này đã góp phần làm giảm ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi
trường. Tuy nhiên, hệ thống này đang phải đối mặt với một số thách thức:
- Đảm bảo sự nhất quán và kết nối tốt hơn nữa với nhu cầu của các thành phần kinh tế
và với thực tế của các địa phương;
24
Giám sát môi trường Việt Nam, 2005, Ngân hàng thế giới.
22
vấn đề thương mại và môi trường trong FTA giữa EU và Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam có thể
dựa vào kinh nghiệm trong việc đánh giá môi trường chiến lược và mạng lưới giám sát môi
trường để rà soát và đánh giá tác động của việc thực thi hiệp định FTA về vấn đề môi trường.
2. Hàm ý về pháp luật
Việc đưa các điều khoản môi trường vào hiệp định FTA tương lai với EU không dẫn đến việc
thay đổi một cách sâu sắc về khuôn khổ pháp lý. Hàm ý về mặt pháp luật cũng sẽ chỉ là thứ yếu
nếu so với “những vấn đề mới” khác (quyền sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, đầu tư và dịch
vụ, cạnh tranh). Chúng sẽ chủ yếu phụ thuộc vào sự lựa chọn cơ chế thể chế mà sẽ được đàm
phán để giám sát việc thực thi Chương về Thương mại và Bền vững, một mặt giải quyết những
bất đồng, mặt khác đảm bảo trách nhiệm và minh bạch (rà soát tác động bền vững, đối thoại xã
hội dân sự).
Việt Nam trước hết cần thiết lập một quy trình điều phối nội bộ. Điều này có nghĩa là lập một
văn phòng làm đầu mối với mục đích thực hiện Chương về Thương mại và Phát triển bền vững.
Chẳng hạn văn phòng này có thể đặt trong BTNMT hoặc BCT. Có thể sẽ phải thành lập một
nhóm cố vấn quốc gia trong trường hợp EU và Việt Nam đưa nó vào một điều khoản về cơ chế
thể chế. Thành phần của nhóm này có thể được xác định trong hiệp định hoặc tùy các bên. Một
điểm hỏi đáp và nhóm cố vấn sẽ có hàm ý ban hành một nghị định (hoặc sửa đổi luật) để hợp
pháp hóa những thay đổi về mặt thể chế này.
Việc thực thi một điều khoản về rà soát tác động bền vững trong khuôn khổ FTA tương lai với
EU có thể dựa trên SEA về Hệ thống giám sát môi trường và quy trình EIA hiện hành. Như đã
chỉ ra trong Đánh giá tác động bền vững FTA ASEAN-EU, tăng cường đánh giá tác động môi
trường và giám sát có thể là biện pháp hữu hiệu tiếp theo. Khi cần thiết, điều này có nghĩa là xác
định các chỉ số giám sát mới mà có thể được đáp ứng đầy đủ (ô nhiễm, chặt phá rừng, mất cân
bằng sinh thái, khí thải nhà kính,…). Điều này cũng phát triển (hoặc cải thiện) cơ chế chia sẻ
thông tin giữa BTNMT và các Bộ ngành khác liên quan đến những vấn đề thương mại và môi
môi trường đối với khu vực rừng đước, hệ sinh thái ven biển và tài nguyên biển. Kết quả là, cần
theo một cách tiếp cận khác để xét tình hình cụ thể và thực tế ngành mà có thể được giải quyết
trong Chương về thương mại và phát triển bền vững. Điều này có thể được cụ thể hóa trong
trong các biện pháp hợp tác liên quan đến thương mại và môi trường của FTA. Lĩnh vực hàng
hóa và dịch vụ môi trường có vẻ còn mới mẻ và đang nổi ở Việt Nam. Các chương trình và dự
án quốc gia về tiết kiệm năng lượng và công nghệ xanh (do UNIDO hỗ trợ) gần đây đã được
khởi xướng. Hàng hóa và dịch vụ môi trường được tăng cường đến mức độ nào cũng được kết
nối với những chính sách về hợp tác công-tư và FDI. Chính phủ yêu cầu các công ty nước ngoài
tập trung vào các lĩnh vực sử dụng công nghệ sạch. Hiệp định FTA EU-Việt Nam có thể mang
lại cơ hội khuyến khích hợp tác công-tư giữa các trung tâm nghiên cứu và các ngành công
nghiệp của EU và Việt Nam. Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường có
thể là một cơ hội ở cấp song phương để khuyến khích nhanh hơn việc sử dụng công nghệ sạch.
Các quỹ tạm thời cần phải được thiết lập để giúp nâng cấp công nghệ sản xuất.
V. KẾT LUẬN
Phân tích các điều khoản môi trường trong các FTA mà EU ký kết gần đây cho thấy ba cấp độ.
Những FTA này bao gồm các quy định của WTO (Điều XXg), SPS và TBT, các điều khoản
“WTO cộng” (các điều khoản được đưa vào phần văn kiện chính trong mục liên quan đến những
lĩnh vực cụ thể) và các điều khoản “WTO bổ sung” (đưa vào một chương về Thương mại và Phát
triển bền vững). Cấp độ sau này rất đúng với cách tiếp cận của EU, trong khi cấp độ thứ hai có
thể là do các nước đối tác, tùy thuộc vào tầm quan trọng của lĩnh vực (nông nghiệp, dịch vụ,
thuận lợi hóa thương mại,…). Các chương về Thương mại và Phát triển bền vững bao gồm các
biện pháp môi trường liên quan đến thương mại, cơ chế thể chế để tạo thuận lợi cho việc thực thi
các điều khoản của chương, và giải quyết bất đồng phát sinh, các biện pháp hỗ trợ, trách nhiệm
và các biện pháp minh bạch.
Khuôn khổ pháp lý và chính sách về bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng như sự gia tăng các
tiêu chuẩn mang tính tự nguyện trong lĩnh vực này cho thấy Việt Nam không chỉ sẵn sàng giải
quyết những vấn đề môi trường mà còn sẵn sàng tuân thủ yêu cầu của những đối tác thương mại
chính như EU. Tuy nhiên, vẫn có có những quy trình nhằm đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả
của các chiến lược, luật, quy định và các chương trình quốc gia liên quan đến bảo vệ môi trường
cũng như các lĩnh vực phối hợp các điều khoản môi trường (nông nghiệp và phát triển nông
25 VI. PHỤ LỤC
DANH SÁCH CÁC HIỆP ƯỚC VÀ HIỆP ĐỊNH MÔI TRƯỜNG
VIỆT NAM ĐÃ THÔNG QUA
TÊN HIỆP ƯỚC
NGÀY
DUYỆT
Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường của con người, 1972 Công ước về Bảo vệ Di sản tự nhiên và di sản văn hóa thế giới, 1972
19/10/1987
Công ước về Thông báo sớm tai nạn hạt nhân (IAEA), 1985
30/10/1987
Công ước về Hỗ trợ trong trương fhowj tai nạn hạt nhân hoặc tình trạng phóng xạ khẩn
cấp (IAEA), 1986
29/11/1989
Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), 1973
20/01/1994
Công ước Vienna về Bảo vệ tầng Ozone, 1985
- Nghị định thư Montreal về các chất gây nguy hại cho tầng Ozone, 1987
26/04/1994