1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hoạt động sản xuất
ngày càng được nâng cao và các doanh nghiệp ngày càng mở rộng quy mô
tăng sản lượng, đạt được hiệu quả kinh tế cao và thu nhiều lợi nhuận nhất.
Nhưng trong quá trình chạy theo lợi nhuận đó các doanh nghiệp lại thường bỏ
quên một vấn đề quan trọng đó là ô nhiễm môi trường và sự tiêu hao, thất
thoát một lượng nguyên, nhiên liệu trong quá trình sản xuất.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển
biến tích cực để hội nhập, phát triển và đang trở thành điểm nóng của các nhà
đầu tư từ các nước trên thế giới. Hiện tại cơ cấu kinh tế ngành dầu thô, thủy
sản, dệt may, xuất khẩu gạo…., là những ngành chủ lực đóng góp phần vào
kim ngạch xuất khẩu của đất nước, trong đó ngành Gỗ nổi lên như một điểm
sáng với mức tăng trưởng nhanh, đang thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư và
sản xuất vì lợi nhuận cao, thị trường rộng lớn, nhiều tiềm năng.
Trong nghiên cứu ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn đã và
đang là con đường phù hợp nhất với các nước phát triển như nước ta hiện nay.
Việc thực hiện các tiêu chí, giải pháp này không những mang lại lợi ích về
môi trường mà còn mang lại lợi ích về kinh tế- xã hội. Việc ứng dụng các
công nghệ sản xuất sạch hơn, trước tiên cải thiện môi trường sản xuất, có lợi
cho sức khỏe của người lao động trực tiếp và người tiêu dùng. Tiếp đó là giúp
cho Công ty đạt được một số chỉ tiêu, chứng chỉ nhất định trong quản lý nhà
nước, giúp các Công ty vượt qua được rào cản “xanh”, nâng cao năng lực cạnh
tranh của sản phẩm, việc áp dụng sản xuất sạch hơn còn có tác dụng trong
giáo dục tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường, tài nguyên, thúc đẩy phát
triển bền vững của ngành công nghiệp sạch.
Vì vậy sản xuất sạch hơn là một cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp sản
xuất hướng tới mục tiêu kinh doanh bền vững, trong đó chú trọng tới giảm
2
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hiện nay, hiện trạng phân bố cũng như điều kiện về công nghệ và
trình độ sản xuất của ngành công nghiệp nước ta nói chung và ngành chế biến
gỗ nói riêng vẫn còn là ngành công nghiệp thải ra nhiều chất thải, bên cạnh đó
sự thất thoát nhiên liệu trong ngành này còn nhiều vấn đề đáng quan tâm và
giải quyết.
Với những vấn đề như vậy, hiện tại ngành gỗ xuất khẩu đang rất cần
một công cụ giúp việc để kiểm soát hiệu quả trong quá trình sản xuất nhằm
đem lại hiệu quả và lợi nhuận cao nhất, đồng thời giảm được chất thải phát
sinh ra môi trường bên ngoài nhằm bảo vệ môi trường.
Gần đây một tư duy mới đang phát triển đó là phòng ngừa và giảm
thiểu chất thải đầu nguồn và cải thiện hiệu quả sản xuất, giảm tiêu hao nhiên
liệu, cách tiếp cận này mang tính chủ động và tính tích cực hơn, tư duy “ Sản
xuất sạch hơn” là phương pháp để thể hiện sự tối ưu cho việc giải quyết vấn
đề trên.
Trong ngành chế biến gỗ Việt Nam hiện nay việc nhận thức về
phương pháp SXSH và áp dụng các biện pháp SXSH còn hạn chế, chưa được
phổ biến rộng rãi, do đó việc xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong
dây chuyền sản xuất gỗ cần phải nghiên cứu để áp dụng SXSH trong ngành
chế biến sản xuất gỗ ở Việt Nam.
Trong ngành chế biến gỗ các kỹ thuật SXSH cần phải tập trung giải
quyết các vấn đề sau:
- Lãng phí nguyên liệu gỗ
- Ô nhiễm không khí do bụi gỗ, keo
4
phương pháp luận SXSH và áp dụng các kỹ thuật SXSH còn nhiều hạn chế,
các ứng dụng chưa được phổ biến rộng rãi. Do đó tiềm năng SXSH cũng như
đổi mới sản phẩm bền vững trong ngành còn rất lớn, đặc biệt đối với các nước
đang phát triển.
- Việc thực hiện SXSH trên thế giới là nhằm tiết kiệm nguyên – vật
liệu, giảm rủi ro cho con người và tác động xấu đối với môi trường, tăng
cường hiệu quả sản xuất thông qua cải tiến các kỹ thuật đã có và áp dụng các
công nghệ tiên tiến hiện đại. Ngoài ra các kỹ thuật SXSH mang lại những cơ
hội giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Cụ thể trong
ngành chế biến gỗ nói chung và chế biến đồ gỗ nói riêng, các vấn đề chính mà
kỹ thuật SXSH tập trung giải quyết bao gồm:
+ Lãng phí nguyên liệu gỗ,
+ Ô nhiễm không khí do bụi gỗ, các loại keo, chất phủ bề mặt,
+ Nước thải và lãng phí nước thải,
+ Lãng phí năng lượng điện,
+ Chất thải nguy hại.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về sản xuất sạch hơn trong nước
- Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, công nghiệp chế biến gỗ
Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kể cả về quy mô phát triển,
chất lượng sản phẩm và đặc biệt là giá trị kim ngạch xuất khẩu. Với hơn 1200
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ năm 2000, đến năm 2009
cả nước đã có trên 2500 doanh nghiệp, trong đó nhiều doanh nghiệp đã phát
triển thành các tập đoàn lớn. Chất lượng sản phẩm gỗ được nâng cao, minh
chứng là giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam liên tục tăng
trong 10 năm qua: giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 219 triệu USD;
năm 2009 đạt 2.620 triệu USD; tính bình quân giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ
mộc tăng bình quân 500 triệu USD/năm. Sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có
6
mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó các thị trường xuất khẩu chủ
cạnh tranh thị trường kém, thiếu thông tin dẫn đến dễ bị thua thiệt khi xảy ra
tranh chấp quốc tế, bị chèn ép trong các khâu mua, bán…
- Trong cuộc cạnh tranh mạnh mẽ của ngành chế biến gỗ Việt Nam
trên thị trường chế biến gỗ thế giới hiện nay, sau hội nhập WTO ngành chế
biến gỗ Việt Nam đã bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế về mẫu mã, chất lượng,
thương hiệu, pháp luật thương mại quốc tế, tiêu chuẩn, chứng chỉ quốc tế,
thương mại điện tử Đó là chưa kể đến những cạnh tranh (kể cả cạnh tranh
không lành mạnh) trong nội bộ các doanh nghiệp trong nước, cũng là một
trong số các nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ gia công
sản phẩm gỗ xuất khẩu mà không mang thương hiệu của mình trên thị trường
quốc tế.
- Một vấn đề khác phát sinh đối với mặt hàng đồ gỗ khi chúng ta hội
nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đó là các chứng chỉ về nguyên liệu. Mỹ có
đạo luật LACEY, hay luật lâm nghiệp và quản trị rừng (FLEGT) đang được
triển khai ở tất cả các quốc gia, đây là rào cản rất lớn. Nhu cầu về đồ gỗ có
chứng chỉ đang gia tăng, nhưng Việt Nam vẫn chưa có hệ thống chứng chỉ
thích hợp. Các khách hàng chủ yếu là EU ngày càng đòi hỏi các sản phẩm
được làm từ nguồn gỗ nguyên liệu có chứng chỉ của một tổ chức như hội đồng
các nhà quản lý rừng FSC. Đến cuối tháng 5 năm 2011 ở nước ta mới chỉ có 5
Lâm Trường được cấp chứng chỉ rừng với tổng diện tích là 10.500 ha. Vì vậy,
để đáp ứng nhu cầu rất lớn về gỗ để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu, các nước sản
xuất phải nhập khẩu gỗ có chứng chỉ FSC, giá thành sản phẩm đội lên cao nên
khó khăn cạnh tranh và giá trị gia tăng của ngành gỗ bị giảm quá nhiều so với
những quốc gia có hệ thống chứng chỉ, đồ gỗ bị giảm sụt quá nhiều so với
những quốc gia có hệ thống chứng chỉ, cho dù đồ gỗ Việt Nam đang được ưa
chuộng tại nhiều nước. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 200 doanh nghiệp có
8
chứng chỉ FSC và COC, đây là 2 loại chúng chỉ thiết yếu cho việc xuất khẩu
đồ gỗ ra quốc tế.
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu các nguồn gây ô nhiễm trong dây chuyền chế biến gỗ để
thực hiện SXSH tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam tại Tỉnh Đồng Nai.
- Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong sản xuất chế biến gỗ
tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam tại Tỉnh Đồng Nai.
- Áp dụng một số tiêu chí để thực hiện SXSH trong sản xuất chế biến
gỗ tại Công ty
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Những nội dung nghiên cứu về sản xuất sạch hơn.
- Các cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng các tiêu chí để sản xuất
sạch hơn trong Công ty chế biến gỗ.
- Các tiêu chí và giải pháp để thực hiện sản xuất sạch hơn trong Công
ty chế biến gỗ.
- Đề xuất các tiêu chí có liên quan đến SXSH trong sản xuất chế biến
gỗ.
- Áp dụng một số tiêu chí để đề xuất phương án thực hiện SXSH trong
sản xuất chế biến gỗ.
1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Các tiêu chí để thực hiện SXSH trong sản
xuất gỗ và đồ mộc tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam tại Tỉnh Đồng Nai.
10
- Phạm vi nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến không khí, nước thải,
chất thải rắn (rác thải), tiếng ồn, bụi ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
- Các tiêu chí có liên quan đến SXSH trong sản xuất chế biến gỗ.
- Đề xuất các giải pháp về kỹ thuật công nghệ và máy móc thiết bị.
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tiếp cận: Dựa trên cơ sở lý luận về chiến lược, kết
hợp với việc thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp, tham khảo ý kiến của các chuyên
gia, các nhà Quản trị của các doanh nghiệp đang sản xuất và xuất khẩu sản
của thế kỷ trước và đến nay được chuyên gia môi trường nghiên cứu rộng rãi
và đề cập trong nhiều tài liệu. SXSH là cách gọi chung cho cách tiếp cận mang
tính phòng ngừa đối với các hoạt động sản xuất. Hiện nay định nghĩa SXSH
đưa ra bởi UNEP có thể được chấp nhận và sử dụng phổ biến nhất. Theo đó
SXSH được định nghĩa như sau:
Sản xuất sạch hơn là áp dụng liên tục một chiến lược tổng hợp mang
tính phòng ngừa về môi trường trong các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch
vụ nhằm nâng cao hiệu suất kinh tế và giảm thiểu rủi ro đối với con người và
môi trường.
Định nghĩa trên nhấn mạnh đến phòng ngừa trong quá trình sản xuất
cũng như trong suốt vòng đời sản phẩm. SXSH liên quan đến việc áp dụng các
bí quyết nâng cao về mặt công nghệ, và hơn thế là sự thay đổi quan điểm và
thái độ của các nhà sản xuất.
2.1.2 Cách tiếp cận sản xuất sạch hơn
Sản xuất sạch hơn là một cách tiếp cận trong quản lý môi trường mà
có thể đem lại nhiều lợi ích cho sản xuất. Cách tiếp cận trong SXSH có thể
liên quan đến các khía cạnh sau:
Thiết kế sản phẩm
Công nghệ sản xuất ít chất thải
Sử dụng hiệu quả năng lượng và nguyên vật liệu thô
Tính khả quan của các công nghệ hiện có
Tiêu chuẩn cao trong an toàn lao động
13
Đối với quá trình sản xuất, SXSH bao gồm cả việc bảo tồn nguyên
liệu thô và năng lượng, loại bỏ những vật liệu có tính độc hoặc nguy hiểm và
giảm bớt sự thất thoát cũng như giảm thải ngay tại nguồn.
Đối với sản phẩm chiến lược này được đặt trọng tâm vào việc làm
giảm các tác động môi trường trong toàn bộ vòng đời của vật phẩm được sản
xuất ra, bao gồm cả ý tưởng về sản phẩm đến cách thức sử dụng và sự thải bỏ
GIẢI PHÁP SXSH
6.DUY TRÌ CÁC
GIẢI PHÁP SXSH
2. PHÂN TÍCH
CÁC BƯỚC CÔNG
NGHỆ
SẢN
XUẤT
SẠNH
HƠN
14
2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ ĐỂ
SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG CHẾ BIẾN GỖ
2.2.1 Quan điểm về SXSH trong ngành chế biến gỗ
Trên cơ sở lý thuyết chung về SXSH và từ thực tiễn triển khai SXSH
trong nhiều ngành công nghiệp, các chuyên gia cho rằng quá trình SXSH bao
gồm 4 ý nghĩa sau:
+ Mục tiêu của SXSH là tiết kiệm nguồn năng lượng, giảm thấp sự
tiêu hao của nguyên liệu, giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường.
+ Phương pháp cơ bản của SXSH là cải tiến kỹ thuật, tăng cường việc
quản lý doanh nghiệp, lợi dụng tối đa đối với nguồn tài nguyên và năng lượng,
cải tiến hệ thống sản phẩm, đổi mới quan niệm về thiết kế.
+ Phương châm của SXSH là tính toán, kiểm tra được lượng ô nhiễm
thải ra môi trường, tức là thông qua tính toán và kiểm tra sẽ phát hiện được
những vị trí tạo ra ô nhiễm, nguyên nhân của nó, đồng thời tiến hành tìm giải
pháp loại bỏ hoặc làm giảm lượng ô nhiễm tạo ra.
+ Mục tiêu cuối cùng của SXSH là bảo vệ môi trường và con người,
nâng cao lợi ích kinh tế cho các xí nghiệp.
Như vậy, mưu cầu của SXSH là muốn đạt được hai mục tiêu: một là
nguyên liệu, năng lượng, ít sử dụng những loại nguyên liệu quý hiếm, hay
những sản phẩm được tạo ra từ nguồn nguyên liệu tái sinh, trong quá trình sử
dụng và sau khi sử dụng nó không có nguy hại đối với sức khỏe của con người
và môi trường sinh thái, dễ thu hồi và tái sản xuất, những sản phẩm mà nếu trở
thành phế phẩm thì dễ dàng cho việc sử lý, dễ phân hủy.
Sự khác nhau lớn nhất giữa SXSH và việc không tiến hành SXSH mà
chỉ tiến hành xử lý hậu quả ở chổ, SXSH thể hiện được mức độ rất lớn về lợi
ích kinh tế, lợi ích với môi trường, lợi ích với xã hội, thể hiện được tính cùng
tồn tại giữa con người và môi trường. Trong hàm ý của SXSH không những là
16
cần theo đuổi về tính khả thi của kỹ thuật, mà nó còn theo đuổi về tính khả thi
về mặt kinh tế.
Áp dụng SXSH trong ngành chế biến gỗ sẽ có tác dụng quan trọng
trong việc giải quyết những vấn đề về ô nhiễm môi trường trong ngành công
nghiệp này. SXSH trong ngành chế biến gỗ ở đây là nói đến việc khống chế
được bụi ô nhiễm, lượng khí thải tạo ra, lượng nước thải ra và được khống chế
trong ngành chế biến gỗ.
2.2.2 Quan điểm về xây dựng tiêu chí SXSH trong ngành chế biến gỗ
Các quan điểm và cách tiếp cận để xây dựng tiêu chí SXSH trong
ngành chế biến gỗ như sau:
Thứ nhất: từ mục tiêu quan trọng SXSH là giảm lượng chất ô nhiễm
trong quá trình sản xuất đồ gỗ thải ra môi trường. Trên cơ sở quy trình sản
xuất cho từng loại sản phẩm (từ nguyên liệu đầu vào đến dạng sản phẩm cuối
cùng) để xác định các chất gây ô nhiễm (thí dụ như: bụi ô nhiễm, nước thải ô
nhiễm, khí thải ô nhiễm,…) nghiên cứu đặc trưng của chất ô nhiễm để có biện
pháp thu gom, xử lý, xác định nguồn gốc tạo ra các chất ô nhiễm để xem xét,
nghiên cứu tìm ra các giải pháp khống chế, giảm thiểu ô nhiễm. Đây là nhóm
tiêu chí về môi trường.
Thứ hai: từ mục tiêu tiếp theo của SXSH là tiết kiệm nguồn năng
2
O), chúng sẽ gây ra ô
nhiễm đối với nhà xưởng và môi trường không khí. Để xử lý đối với bụi tạo ra
trong chế biến gỗ, cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của quá trình sản xuất mà
chọn ra những đối sách có tính khả thi. Một đặc điểm quan trọng trong việc xử
lý đối với bụi ô nhiễm của ngành chế biến gỗ là tiến hành xử lý tổng hợp toàn
diện đối với cả dây chuyền sản xuất, tức là giải quyết được vấn đề bụi từ
nguồn gốc của nó.
1. Nguồn gốc tạo ra bụi ô nhiễm trong ngành chế biến gỗ
Trong ngành chế biến gỗ, máy móc dùng để gia công có chủng loại rất
phong phú, quy cách không đồng nhất, những loại máy móc này trong quá
18
trình gia công chế biến gỗ sẽ tạo ra một lượng lớn bụi gỗ, nếu như chúng
không được xử lý một cách hợp lý, sẽ tạo thành sự ô nhiễm đối với môi trường
không khí ở mức độ tương ứng. Quá trình tạo ra bụi ô nhiễm trong chế biến gỗ
có thể khái quát thành 2 loại đó là quá trình cơ giới và quá trình hóa lý.
* Quá trình cơ giới: quá trình và các bước công nghệ tạo thành bụi ô
nhiễm chủ yếu gồm có:
Trong các công đoạn: Cưa xẻ, bào, phay tiện, đánh nhẵn trong quá
trình hoạt động đều sinh ra bụi. Trong xưởng chế biến gỗ, các loại máy cưa,
máy bào, máy phay, máy đánh nhẵn đều được sử dụng rất rộng rãi. Những loại
máy này trong quá trình gia công không những tạo ra một lượng lớn bụi gỗ,
mà số lượng và tính chất của bụi gỗ tạo ra còn phụ thuộc vào rất nhiều các
nhân tố như: chủng loại gỗ, cấu tạo và tính chất của gỗ, nhiệt độ và độ ẩm khi
gia công, chủng loại máy, loại công cụ cắt, công nghệ gia công (tốc độ cắt, tốc
độ nạp liệu, hướng cắt hay lượng cắt…) khác nhau thì sẽ sinh ra lượng bụi
khác nhau.
Bên trong các xưởng sản xuất đồ mộc, khi tiến hành sấy và phun sơn
cho sản phẩm, hay ở công đoạn làm sạch bề mặt đối với gỗ, cũng sẽ tạo ra một
cũng có những khác nhau. Do đó có thể nói, các hạt bụi từ gỗ là một hệ thống
các hạt phân tán không đồng đều, trong đó sự khác nhau về kích thước và hình
dáng là rõ ràng nhất, như dạng bụi được tạo thành từ quá trình đánh nhẵn đối
với ván dăm, ván dán, ván gỗ ghép thì chúng có dạng bột mịn, còn bụi được
tạo ra từ cưa xẻ gỗ khô thì chúng lại có cả dạng hạt và dạng bột mịn.
Bụi gỗ được bao hàm một số những đặc tính của chất gỗ, đồng thời nó
cũng biểu hiện một số những đặc tính của thể phân tán. Đặc tính chủ yếu của
bột gỗ gồm có: đặc tính vật lý (cấu trúc hình học, hình dạng bề mặt, sự phân
bố kích thước, mật độ, độ ẩm, thể tích, diện tích bề mặt,…) đặc tính lực học
(mật độ tạo đống, góc ma sát,…) động lực của không khí (tốc độ lắng của hạt,
tốc độ chuyển động của hạt, lực cản lớp hạt,…) đặc tính nhiệt học (tính năng
cháy, tính nổ,…) đặc tính điện học (điện trở) và thành phần hóa học của bụi.
3. Các biện pháp mang tính tổng hợp để khống chế lượng bụi ô nhiễm
trong nhà máy chế biến gỗ
20
Quá trình xử lý các loại bụi tạo ra trong ngành chế biến gỗ rất phức
tạp, cần căn cứ vào sự khác nhau của các nhân tố như: quá trình tạo ra bụi,
tính chất của bụi, mức độ nguy hại của bụi,… để lựa chọn những biện pháp
thích hợp để tiến hành xử lý. Thực tiển chứng minh, trong phần lớn các trường
hợp chỉ dựa vào một phương pháp nào đó thì rất khó giải quyết được những
vấn đề ô nhiễm của bụi trong chế biến gỗ, mà cần phải sử dụng những biện
pháp tổng hợp thì có thể đạt được hiệu quả như mong muốn. Hiện nay, trong
ngành chế biến gỗ trên thế giới phần lớn là sử dụng các biện pháp như: biện
pháp về hành chính và biện pháp kỹ thuật để tiến hành giải quyết những vấn
đề ô nhiễm của bụi trong ngành công nghiệp chế biến gỗ.
Biện pháp hành chính gồm có: pháp luật liên quan, các quy chế, tiêu
chuẩn về khống chế ô nhiễm, thiết lập cơ cấu quản lý, bộ phận thi hành giám
định ô nhiễm,… Một Công ty hoặc bộ phận quản lý khi được tổ chức thực
hiện một cách đồng thời thì cần phải tăng cường công tác lãnh đạo và quản lý
thiết bị tạo ra bụi, để ngăn chặn lượng bụi bay vào vùng không khí của vị trí
thao tác, ngăn cản sự tiếp xúc của người công nhân đối với bụi. Mặt khác, để
nâng cao hiệu quả bịt kín nên cố gắng duy trì được độ chân không tốt ở bên
trong thiết bị. Kỹ thuật bịt kín nguồn bụi ô nhiễm thường được kết hợp sử
dụng với các thiết bị loại bụi bằng quạt gió.
Sử dụng hệ thống thông gió để loại bụi, giảm bớt sự ảnh hưởng của
bụi ô nhiễm đến cơ thể người công nhân bên trong nhà xưởng: biện pháp này
hiện nay đang được ứng dụng rất rộng rãi, hiệu quả cũng tương đối tốt, trong
xử lý bụi của ngành công nghiệp chế biến gỗ nó cũng đã phát huy được tác
dụng rất quan trọng.
Hiện nay, ngành chế biến gỗ của rất nhiều quốc gia trên thế giới đều
sử dụng các thiết bị loại bụi để giải quyết vấn đề ô nhiễm do bụi gây ra trong
sản xuất. Đối với các nước công nghiệp phát triển, đã tiến hành hàng loạt các
nghiên cứu về kết cấu của thiết bị loại bụi cũng như những kỹ thuật mới trong
22
loại bụi, và cũng đã đạt được những thành quả đáng kể. Những công nghệ loại
bụi mới, các thiết bị mới không ngừng được phát minh, điều đó có tác dụng rất
lớn đối với việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường một cách có hiệu quả.
Hiện nay trong khống chế bụi ô nhiễm của ngành chế biến gỗ, thiết bị
loại bụi kiểu khí động học và thiết bị loại bụi kiểu túi là những thiết bị được
ứng dụng phổ biến nhất. Thiết bị loại bụi kiểu khí động học phổ thông có kết
cấu đơn giản, gia công và lắp đặt dễ dàng, giá thành rẽ nhưng nó chỉ thích hợp
để tập hợp đối với những loại bụi khô, còn đối với những loại bụi có kích
thước nhỏ bay phân tán trong không khí thì hiệu quả loại của nó là không cao,
do đó trong chế biến gỗ thường sử dụng loại này làm thiết bị loại bụi cấp 1,
còn sử dụng thiết bị loại bụi kiểu túi để làm thiết bị loại bụi cuối cùng, sẽ rất
có hiệu quả trong việc khống chế được lượng bụi bay phân tán ra bên ngoài
trong quá trình sản xuất. Bởi vì thiết bị loại bụi kiểu túi có thể tập hợp được
những loại bụi siêu nhỏ (kích thước nhỏ hơn 5 µm), so sánh với thiết bị loại
định sẽ phát sinh các phản ứng phân giải và tùy thủy phân, tạo thành rất nhiều
các hợp chất hữu cơ có khả năng hòa tan trong nước. Những chất hòa tan
trong nước này sau khi đi vào trong nước, một bộ phận sẽ cần khí oxy để phân
giải, làm giảm lượng oxy ở trong nước, bộ phận còn lại cũng sẽ phát sinh
những phản ứng hóa học gây ô nhiễm cho nguồn nước.
Ngoài ra trong nước thải của chế biến gỗ có chứa rất nhiều các nguyên
tố kim loại như: aluminium (Al), iron (Fe), molybdenum (Mo), chromium
(Cr), nickel (Ni), zinc (Zn), barium (Ba),… Các nguyên tố này ở trong nước
rất ổn định, về cơ bản không thể bị vi sinh vật oxy hóa phân giải, chúng sẽ làm
tăng hàm lượng các nguyên tố kim loại có ở trong nước, thông qua thực vật để
đi vào cơ thể người sẽ tạo ra hiện tượng trúng độc mãn tính cho con người.
Trong nước thải của công nghiệp sản xuất đồ gỗ có sử dụng các loại
keo, trong keo có chứa các chất phenol, formaldehyde, hay các chất keo tổng
24
hợp. Những chất này đều có độc tính đối với con người, khi chúng đi vào
trong nước sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nguồn nước, ảnh hưởng đến quá
trình sinh trưởng của các sinh vật trong nước, ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy
sản, khi nước đã bị ô nhiễm thì không thể sử dụng được, cũng không thể dùng
để tưới cho các cây trồng nông nghiệp được.
Trong ngành chế biến gỗ có dùng một số chất hóa học có tính hòa tan
hoặc không có tính hòa tan trong nước như: paraffin, hóa chất chống côn trùng
hại gỗ, thuốc chống mốc,… Khi nước thải có chứa những hóa chất này, nếu
như không được xử lý mà thải trực tiếp vào nguồn nước thì sẽ rất có hại đối
với con người như các loài sinh vật sống trong nước.
3. Kỹ thuật xử lý nước thải từ ngành chế biến gỗ
Nguyên tắc xử lý nước thải là “phòng được coi trọng hơn trừ, phòng
trừ phải kết hợp với quản lý”. “Phòng” là chỉ các biện pháp để khống chế đối
với nguồn gây ô nhiễm, làm giảm đến mức thấp nhất lượng chất ô nhiễm thải
ra môi trường, “Trừ” là sử dụng các biện pháp hợp lý để tiến hành xử lý đối
thiết bị dùng để lắng thường thấy có bể lắng, bể lắng cát hay bể ngăn dầu.
Phương pháp bọt khí: sục không khí vào trong nước thải, lợi dụng sự
phân tán của các bọt khí rất nhỏ, làm cho các hạt nhỏ huyền phù trong nước
thải hấp phụ lên các bọt khí, rồi chúng theo các bọt khí nổi lên bề mặt của
nước tạo thành một lớp tạp chất, từ đó được loại bỏ, đạt được mục đích phân
ly chúng ra khỏi nước thải.
Phương pháp màng phân ly: là lợi dụng tính thẩm thấu qua màng lọc
của các ion và phân tử có tính phân ly ở trong nước tiến hành. Căn cứ vào độ
lớn nhỏ của các lỗ hỏng ở trên màng lọc cũng như động lực khi lọc, có thể
phân ra thành thẩm tích, điện thấm, siêu lọc và thấm tích ngược.
Phương pháp hóa học: là lợi dụng một loại phản ứng hóa học nào đó
để làm cho tính chất của các chất ô nhiễm trong nước thải biến thành dạng keo
hoặc dạng hòa tan hoặc là làm cho nó bị thay đổi về trạng thái, để dễ dàng