PHẦN I
MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu quả hoạt động luôn là
tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá khả năng cạnh tranh và tồn tại của doanh
nghiệp. Muốn nâng cao được vị thế cạnh tranh, tồn tại và phát triển, các doanh
nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, trên nguyên tắc lấy thu bù chi và có lãi mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu trên, công tác quản lý doanh
nghiệp nói chung, quản lý chi phí nói riêng là nội dung được quan tâm hàng
đầu và là yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất đối với nhà quản trị các cấp trong
doanh nghiệp.
Với công ty TNHH Daewoo STC & Apparel Việt Nam cũng không ngoại
lệ. Xuất phát từ đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và ngành nghề họat
động, sản phẩm của công ty chủ yếu là hàng may mặc xuất khẩu ra thị trường
các nước EU và Mỹ nên chủng loại sản phẩm cũng rất phong phú và đa dạng.
Chi phí sử dụng là tương đối lớn với nhiều loại chi phí phức tạp, chi phí
nguyên vật liệu từ nhiều nguồn cung cấp, chi phí nhân công lớn, chi phí chung
phân bổ cho nhiều công đoạn, bộ phận, vì vậy đòi hỏi sự phân loại và quản lý
chi phí một cách hợp lý thì mới nâng cao được hiệu quả sản xuất. Những sản
phẩm của công ty đang ngày một tạo được chỗ đứng trong lòng người tiêu
dùng trong nước và trên thế giới. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay việc phát
triển và giữ vững vị thế của công ty trên thị trường bên cạnh sự cạnh tranh
khốc liệt với các doanh nghiệp trong cùng ngành là rất khó khăn. Do đó, việc
quản lý tốt chi phí, lập kế hoạch sử dụng cho các loại chi phí thật chính xác còn
là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể giảm được giá thành sản phẩm và
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Với vai trò như vậy nên yêu cầu quản lý chi
phí cần chặt chẽ trong tất cả các công đoạn, các bộ phận trong doanh nghiệp và
trong việc thực hiện ghi chép đến phân tích, đánh giá.
1
Nhận thức được tầm quan trọng của quản lý chi phí trong quá trình sản
xuất, cũng như ý nghĩa của hiệu quả quản lý chi phí tại công ty. Vì vậy, chúng
2.1.1.1. Khái niệm chi phí
Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất, mặt
khác quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao
động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất có thể khái quát
thành ba giai đoạn cơ bản, có mối quan hệ mật thiết với nhau:
Thứ nhất, quá trình cung cấp: Là quá trình dùng vốn bằng tiền mua sắm
các loại vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa về dự trữ tại kho của doanh
nghiệp, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được tiến hành bình thường.
Thứ hai, quá trình sản xuất: Là quá trình con người dùng sức lao động
của mình thông qua các tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động biến
đối tượng lao động thành sản phẩm phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Thứ ba, quá trình tiêu thụ: Là giai đoạn cuối cùng, kết thúc quá trình
SXKD của đơn vị, thực hiện việc cung cấp sản phẩm cho các đơn vị mua cùng
với đó đơn vị chi ra một khoản gọi là chi phí cho quá trình tiêu thụ và đã thu
được đủ tiền do đơn vị mua trả hoặc đơn vị mua chấp nhận trả tiền.
Như vậy quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp thực chất là sự vận
động, kết hợp chuyển đổi nội tại các yếu tố SXKD đã bỏ ra để tạo sản phẩm,
lao vụ nhất định. Trên phương diện đó khái niệm chi phí có ý nghĩa rất quan
trọng đối với doanh nghiệp. Hiện đã có nhiều khái niệm khác nhau về chi phí.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn luôn quan
tâm đến việc quản lý chi phí, vì mỗi đồng chi phí bỏ ra đều có ảnh hưởng đến
lợi nhuận. Vì vậy vấn đề được đặt ra cho nhà quản lý doanh nghiệp là phải
kiểm soát chi phí của doanh nghiệp.
3
Theo kế toán tài chính, khái niệm chi phí được hiểu là một số tiền hoặc một
phương tiện mà doanh nghiệp hoặc cá nhân bỏ ra để đạt được một mục đích nào đó.
Theo kế toán quản trị, khái niệm chi phí được sử dụng theo nhiều chiều
hướng, vì chi phí được các nhà quản trị sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Do vậy chi phí được phân ra làm nhiều loại theo nhiều cách, tùy theo mục đích
sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Chi phí
sản xuất cũng được hiểu là những hao tổn về nguồn lực kinh tế và tài sản cho
việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho mục đích sinh lời của các doanh
nghiệp. Như vậy chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí cần thết để tạo ra sản
phẩm hoặc dịch vụ, những loại chi phí khác không gắn liền với việc sản xuất
sản phẩm hay dịch vụ thì không được xếp vào chi phí sản xuất như: tiền hoa
hồng bán hàng, chi phí văn phòng phẩm…
• Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, với mỗi
cách phân loại chi phí được phân thành các loại khác nhau như sau:
a) Phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công dụng đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh. Căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí, chi
phí sản xuất được phân loại theo khoản mục giá thành, thể hiện nơi phát sinh chi phí
và nơi chịu chi phí. Phân loại theo cách này, chi phí sản xuất được sắp xếp theo các
khoản mục chi phí sản xuất có những nội dung kinh tế giống nhau vào cùng một
khoản mục. Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục cơ bản:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí săn xuất chung
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Đây là loại chi phí không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào
để sản xuất ra sản phẩm và thường chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng chi phí sản
xuất. Chi phí nguyên vật liệu bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ tham gia cấu thành thực thể của sản phẩm. Đây là loại chi
phí dễ dàng nhận dạng và được kiểm soát, quản lý theo định mức nên có thể dự
tính được lượng phát sinh của nó theo số lượng sản phẩm sản xuất. Chi phí
5
nguyên vật liệu trực tiếp phụ thuộc vào hai yếu tố là lượng nguyên vật liệu sử
dụng và giá của nguyên vật liệu. Vì vậy để kiểm soát được chi phí này cần
nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Do đặc điểm của chi
phí sản xuất chung không thể tính trực tiếp vào sản phẩm nên chúng được tính
vào sản phẩm thông qua công thức phân bổ sau:
Đơn giá phân bổ chi
phí sản xuất chung
=
Tổng chi phí sản xuất chung ước tính
Tổng số đơn vị được chọn căn cứ
Quá trình hạch toán chi phí vào sản phẩm được trình bày theo sơ đồ:
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và sản phẩm
b) Phân loại theo nội dung tính chất của chi phí
Căn cứ vào tính chất nội dung kinh tế của chi phí sản xuất khác nhau để
chia thành các yếu tố chi phí. Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất
trong kỳ được chia thành các yếu tố như sau:
Chi phí nguyên vật liệu
Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, nguyên
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế,…mà doanh nghiệp đã sử dụng vào sản xuất
trong kỳ
Chi phí nhiên liệu động lực
Bao gồm toàn bộ chi phí về nhiên liệu, động lực dùng vào hoạt động sản
xuất trong kỳ.
Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp
Bao gồ toàn bộ số tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên hoạt
động sản xuất trong doanh nghiệp.
Chi phí NVL
Chi phí khác
phát sinh ở PX
Chi phí NC
Chi phí NVL TT
Chi phí SXC
biến động như thế nào, biến động bao nhiêu và loại nào biến động, để tương ứng
với biến động của mức hoạt động, giúp cho việc dự toán định mức chi phí hoạt
động của doanh nghiệp. Phân loại theo cách này, chi phí được phân thành các lại
sau đây:
Chi phí cố định
Hay chi phí bất biến là những khoản chi phí không thay đổi khi mức độ
hoạt động thay đổi. Nhưng khi tính cho một đơn vị thì định phí thay đổi. Khi
mức độ hoạt động thay đổi thì định phí tính cho một đơn vị hoạt động giảm và
ngược lại. Định phí bao gồm các khoản chi phí như chi phí khấu hao máy móc
thiết bị sản xuất, chi phí quảng cáo, tiền lương của bộ phận quản lý, phục vụ,
đào tạo nhân viên nghiên cứu, thuế tài sản.
8
Xét về ý nghĩa quản lý, chi phí cố định lại phân thành chi phí cố đinh bắt
buộc, không bắt buộc hay chi phí tránh được, không tránh được.
Chi phí biến đổi
Là những khoản chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với sự thay đổi sản lượng hay
mức độ hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và định mức chi phí biến đổi cho
một đơn vị sản phẩm hay khối lượng công việc hoàn thành. Nếu tính cho đơn
vị thì biến phí ổn định, không thay đổi. Biến phí không có hoạt động thì bằng
không. Biến phí gồm các khoản phí như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp; chi
phí nhân công trực tiếp; giá vốn của hàng hóa mua vào để bán lại; chi phí bao
bì đóng gói, hoa hồng bán hàng,…
Chi phí hỗn hợp
Là những khản chi phí bao gồm cả yếu tố định phí và biến phí. Ở một
mức độ hoạt động nào đó thì nó thể hiện là định phí, nhưng khi mức độ hoạt
động thay đổi nó lại mang đặc điểm là biến phí.
d) Phân loại chi phí phục vụ cho kiểm soát chi phí
Cách này phân loại nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch, kiểm
soát và chủ động điều tiết chi phí của nhà quản trị doanh nghiệp.
Chi phí kế hoạch
Chi phí ngoài sản xuất không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra
sản phẩm. Là loại chi phí liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm và quá
trình quản lý hành chính, tổ chức doanh nghiệp.
• Phân loại chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp và các loại chi phí khác.
Chi phí bán hàng
Là những khoản chi phí phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm dịch vụ
của doanh nghiệp. Xét về góc độ quản lý, chi phí bán hàng phụ thuộc số lượng
tiêu thụ và đơn giá chi phí cho một đơn vị sản phẩm tiêu thụ. Chi phí bán hàng
bao gồm các khoản như chi phí tiếp thị, chi phí quảng cáo, chi phí đóng gói sản
phẩm tiêu thụ, chi phí bốc dỡ, lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng,
… Tất cả các tổ chức doanh nghiệp đều có các khoản chi phí lưu thông, dù là
thương mại dịch vụ. Chi phí bán hàng bao gồm nhiều khoản mục, rất khó khăn
trong việc quản lý chi phí do vậy cần có kế hoạch phù hợp để kiểm soát tốt
loại chi phí này.
10
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Bao gồm các khoản chi liên quan đến công tác quản lý chung, công tác
quản lý hành chính văn phòng toàn doanh nghiệp. Đây là loại chi phí liên quan
đến cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp và chủ yếu phụ thuộc vào quy mô sản
xuất kinh doanh. Chi phí quản lý không chỉ bao gồm các chi phí cho công tác
quản lý, hành chính chung mà còn cả các khoản chi không được hạch toán vào
chi phí sản xuất và chi phí bán hàng. Các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp
bao gồm:
Các chi phí liên quan đến toàn doanh nghiệp và có nguồn gốc, đặc điểm
tác dụng đối với sản xuất kinh doanh là khác nhau. Do đây là chi phí phát sinh
liên quan đến cấu trúc tổ chức và hệ thống quản lý chung nên việc phân bổ rất
phức tạp, khó chính xác, dễ đưa đến những đánh giá sai lầm vể thành quả giữa
các đơn vị, bộ phận trong doanh nghiệp.
chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực
hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ: xây
dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn
lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và
thiên nhiên.
2.1.2.1.2. Khái niệm quản lý chi phí
Quản lý chi phí là một phần của các chiến lược tăng trưởng kinh doanh
nhằm không những cắt giảm chi phí mà còn tạo ra các ưu thế cạnh tranh rõ rệt
trên thị trường. Nếu không có kiến thức cơ bản về quản lý chi phí, thì không thể
nào nhận biết được tình hình thực tế của những dự án đầu tư, các kế hoạch kinh
doanh cũng như thực trạng hoạt động của công ty.
Việc tìm giải pháp tài chính tối ưu cho chiến lược phát triển bền vững
trong thời kỳ hậu hội nhập luôn là vấn đề nan giải nhất đối với các DN nhỏ và
vừa hiện nay. Vì vậy, theo các chuyên gia, một trong những “nước cờ” mà DN
nào cũng phải tính đến là việc quản lý và tiết kiệm chi phí ngày một hiệu quả
hơn để sản phẩm, dịch vụ của mình ngày càng có chất lượng, giá cả phù hợp
hơn với khách hàng.
12
Quản lý chi phí là một nội dung quan trọng trong quản lý tài chính. Trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí là những khoản doanh nghiệp đã bỏ ra ở
hiện tại nhằm thu được lợi ích trong tương lai. Nếu không thu hồi được những
khoản chi ra thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ. Vì vậy quản lý chi phí là nhiệm vụ quan
trọng của các nhà quản lý và cũng là vấn đề xuyên suốt trong quá trình hoạt động.
Quản lý chi phí là tính toán hướng nội, mô tả về nguyên tắc được thực
hiện hàng tháng, vận động các nhân tố sản xuất trong quá trình kết hợp chúng
và giới hạn ở việc tính toán mọi hao phí nhằm tạo ra và thực hiện các kết quả
của doanh nghiệp.
Quản lý chi phí là trách nhiệm chi phí của nhà quản lý nhằm thực hiện
mục tiêu sử dụng tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Là công cụ chủ yếu
cung cấp thông tin kinh tế bên trong cho bộ máy quản lý doanh nghiệp làm cơ
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt được hiệu
quả cao hay thấp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như yếu tố đầu vào, giá bán,
giá thành sản phẩm…Đặc biệt việc quản lý chi phí SXKD giữ một vai trò rất
quan trọng vì nó đóng góp một phần không nhỏ vào việc hạ giá thành sản phẩm
của doanh nghiệp, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có
chiến lược quản lý chi phí tốt hơn thì doanh nghiệp đó sẽ không bị thất thoát tài
sản và lãng phí chi phí. Quản lý chi phí là hoạt động có ý nghĩa rất lớn đối với
các doanh nghiệp do vậy phải tính toán sao cho chi phí thấp nhất, thời gian
hoàn vốn nhanh nhất nhằm bảo toàn và phát triển vốn trong điều kiện giá cả
thay đổi. Phải tính toán để đưa ra một đơn vị sản phẩm thì cần bao nhiêu chi
phí, sau đó so sánh với giá thị trường đã được người tiêu dùng chấp nhận từ đó
đưa ra kế hoạch SXKD.
Vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải luôn luôn
quan tâm đến việc quản lý chi phí, vì mỗi đồng chi phí bỏ ra đều có ảnh hưởng
đến lợi nhuận. Vấn để quan trọng đặt ra cho nhà quản trị doanh nghiệp là phải
quản lý chi phí sao cho khoa học và hiệu quả nhất.
2.1.2.3. Nội dung quản lý chi phí
Lập kế hoạch, dự toán chi phí
Để việc quản lý chi phí được chặt chẽ, có hiệu quả thì phải làm tốt tất cả
các khâu của quản trị chi phí mà bước đầu tiên trong công tác đó là lập kế
hoạch. Việc lập kế hoạch ở công ty dựa vào các căn cứ:
14
Mục đích của các nhà quản lý trong điều hành và quản lý kinh doanh là
sử dụng những thông tin phù hợp để đề ra những quyết định đúng đắn nhất cho
hoạt động của doanh nghiệp có được hiệu quả cao và đạt được mục tiêu xây
dựng. Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bước thực
hiện để đạt được những mục tiêu đó, các kế hoạch này có thể dài hạn hoặc
ngắn hạn. Kế hoạch mà nhà quản lý phải lập thường có dạng dự toán, dự toán
là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động và sử dụng các
nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu.
hoạch và nguyên nhân ảnh hưởng giúp cho việc dự toán kỳ sau tốt hơn.
Hiện nay việc lập kế hoạch chi phí các nhà quản lý luôn có một giới hạn
trên là các chi phí phát sinh phải nằm dưới giá thành cho phép đang được thị
trường chấp nhận. Việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh có một ý nghĩa rất
quan trọng, nó là một khâu trong quá trình hoạch định, kiểm soát và ra quyết
định của nhà quản lý doanh nghiệp
Tổ chức thực hiện chi phí
Nội dung này gắn liền với quản lý sản xuất giữa các bộ phận cụ thể. Tổ
chức thực hiện chi phí là đưa chi phí vào sản xuất kinh doanh. Trong quá trình
thực hiện, nhà quản lý phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các tổ chức, con
người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu
quả nhất. Căn cứ vào cấp bậc, vị trí khác nhau của từng người mà giao công
việc,nhiệm vụ cụ thể, chi tiết cho từng bộ phận phòng ban và đồng thời giám
sát việc thực hiện của họ. Tiến hành thực hiện chi đúng, chi đủ tránh tình trạng
lãng phí, gây thất thoát nguồn lực vượt mức kế hoạch cho phép. Trong quá
trình thực hiện chi phí, nếu có những khoản chi phí phát sinh vượt mức kế
hoạch thì nhà quản lý cần phải phản ứng linh hoạt để tiết kiệm chi phí đến mức
thấp nhất.
Với chức năng tổ chức thực hiện chi phí, nhà quản lý phải biết cách liên
kết tốt nhất giữa tổ chức con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế
hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất. Để thực hiện tốt chức năng này nhà
quản lý cũng có nhu cầu rất lớn đối với thông tin kế toán quản trị. Nhà quản lý
được kế toán kịp thời cung cấp thông tin để ra quyết định kinh doanh đúng đắn
trong quá trình lãnh đạo hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, phù hợp với
mục tiêu chung.
16
Kiểm tra đánh giá
Nhà quản lý sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện
đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện nó. Phương pháp thường dùng
là so sánh số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện, để từ đó nhận
Qua sơ đồ trên ta thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế
hoạch đến khâu thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay trở lại khâu lập kế
hoạch cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định. Để làm tốt các
chức năng này đòi hỏi nhà quản lý phải đề ra các quyết định đúng đắn nhất cho
hoạt động của doanh nghiệp. Muốn có những quyết định hiệu quả, hiệu lực,
nhà quản lý cần phải nắm bắt lượng thông tin rất lớn.
2.1.3. Hiệu quả sử dụng chi phí sản xuất
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập
trung phát triển theo chiều sâu, nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và
trình độ chi phí các nguồn lực và trình độ các nguồn lực đó trong quá trình tái
sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một
thước đo quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh
giá việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Lập kế hoạch
Đánh giá Ra quyết
định
Kiểm tra
Thực hiện
18
Hiệu quả sử dụng chi phí phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các loại
chi phí của doanh nghiệp trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu
kinh tế. Doanh nghiệp sử dụng chi phí hiệu quả tức là tạo ra lợi nhuận cao cho
doanh nghiệp đồng thời tiết kiệm được chi phí sản xuất.
Nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí chính là việc nâng cao năng suất lao
động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Điều đó sẽ đem lại hiệu quả sản xuất
kinh doanh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có hiệu quả sử dụng chi phí
cao sẽ có giá thành sản phẩm thấp,tạo sức cạnh tranh cao cho doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng chi phí được thể hiện thông qua các chỉ tiêu:
1. Hiệu quả kinh doanh =
Doanh thu
Hiệu quả sử dụng chi phí là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh
nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh của mình. Hiệu quả sử dụng chi
phí góp phần lớn trong việc tạo nên hiệu quả kinh doanh, khi tiến hành bất kỳ
một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, các doanh nghiệp đều phải huy động
sử dụng tối đa hóa lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh là một trong những công
cụ, phương pháp để doanh nghiệp đạt được mục tiêu đó.
Nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí là góp phần nâng cao sức cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thị trường. Mỗi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh đều gặp rất nhiều đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành cũng như ngoài
ngành. Do vậy có nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí mới có thể tiết kiệm được
chi phí, mới có thể nâng cao được sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường. Vì vậy, nâng cao hiệu sử dụng chi phí là yếu tố khách quan để mỗi
doanh nghiệp có thể trụ vững, tồn tại trong một cơ chế thị trường cạnh tranh
khốc liệt
2.1.4. Mối quan hệ giữa quản lý chi phí và hiệu quả sử dụng chi phí
Khi bắt tay vào xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh có một
điều vô cùng quan trọng mà không một công ty nào được phép bỏ qua là phải
tính đến việc các chi phí sẽ được quản lý và sử dụng như thế nào, xem các
đồng vốn bỏ ra hiệu quả đến đâu, có đem lại lợi nhuận và hiệu quả như mong
muốn ban đầu hay không? Có thể nói, tri thức quản lý chi phí là một yếu tố
thiết yếu trong đầu tư và kinh doanh. Nếu không có kiến thức cơ bản về quản
lý chi phí, thì không thể nào nhận biết được tình hình thực tế của những dự án
đầu tư, các kế hoạch kinh doanh cũng như thực trạng hoạt động của công ty.
Rõ ràng yếu tố chi phí luôn đóng vai trò quan trọng trong bất cứ kế hoạch
mở rộng và tăng trưởng kinh doanh nào. Các công ty muốn tăng trưởng và đẩy
mạnh lợi nhuận cần không ngừng tìm kiếm những phương thức quản lý và sử
dụng hiệu quả nhất các nguồn vốn, chi phí kinh doanh, đồng thời phải tái đầu
tư các khoản tiền đó cho những cơ hội tăng trưởng triển vọng nhất.
Quản lý chi phí như thế nào để đạt được hiệu quả sử dụng chi phí không
phải là vấn đề đơn giản, quản lý chi phí phải dựa trên cơ sở hoạt động sản xuất
- Phương pháp so sánh: kết hợp so sánh tương đối và tuyệt đối nhằm:
21
+ Phân tích tình hình biến động của quy mô tài sản nguồn vốn, tình hình
lao động và tình hình kết quả sản xuất kinh doanh qua ba năm 2008-2010.
+ Phân tích tình hình biến động giữa thực hiện và kế hoạch của chi phí
sản xuất.
+ Phân tích biến động cơ cấu chi phí giữa các năm.
- Phương pháp thay thế liên hoàn: để biết được nhân tố ảnh hưởng đến
từng loại chi phí.
- Phương pháp biểu mẫu: Sử dụng biểu đồ để thấy rõ xu hướng biến
động chi phí và cơ cấu chi phí qua các năm.
2.2.3. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu
- Đánh giá tình hình biến động tổng chi phí: Là đánh giá chung tình
hình biến động giá thành toàn bộ sản phẩm theo từng loại sản phẩm để cho ta
nhận thức được một cách tổng quát khả năng tăng lợi tức của doanh nghệp do
tác động ảnh hưởng chi phí của từng loại sản phẩm, là cơ sở định hướng và đặt
vấn để cần đi sâu nghiên cứu chi phí của sản phẩm nào.
Tỷ lệ thực hiện kế hoạch chi phí
(%)
=
Chí phí sản phẩm thực tế
Chi phí sản phẩm kế
hoạch
Ngoài ra còn có thể so sánh giá thành đơn vị thực tế năm nay với giá
thành đơn vị thực tế năm trước để thấy được sự biến động chi phí đối với đơn
vị sản phẩm.
- Phân tích biến động của các khoản mục chi phí :
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
x Giá kỳ gốc
- Phân tích biến động chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung
gián tiếp với từng loại sản phẩm nên phải qua phương pháp phân bổ.
Đơn giá phân bổ biến phí
sản xuất chung
=
Tổng số biến phí sản xuất chung
Tổng số sản phẩm được sản xuất
Đơn giá phân bổ định phí
sản xuất chung
=
Tổng số định phí sản xuất chung
Tổng số sản phẩm được sản xuất
- Phân tích khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Công thức về mức tiêu hao nguyên vật liệu:
TCP nvl =
CPnvli
∑
CPnvli
∑
=
∑
SLi
x TH nvl i x Gj
Qij = SLi x TH nvl ij
Trong đó: CP nvl : Chi phí nguyên vật liệu của sản phẩm i
TCP nvl : Tổng chi phí nguyên vật liệu của sản phẩm i
Gj : Giá thành vật liệu j
TH nvl ij : Tiêu hao nguyên vật liệu j cho sản phẩm i
thành lập ngày 14/12/2004 theo giấy phép kinh doanh số 71/ GP – VP. Công ty
TNHH Daewoo STC & Apparel Việt Nam có hơn 20.000m2 diện tích nhà
xưởng, gồm 7 dây chuyền sản xuất hiện đại, sản phẩm tiêu thụ chủ yếu ở Mỹ
và châu Âu.
Tên quốc tế: Daewoo STC & Apparel Viet Nam Co. LTD
Trụ sở: Lô số 1, khu CN Khai Quang – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Điện thoại: (0211) 847 295
Fax: (0211) 847 341
Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, gia công các sản phẩm dệt
may, nguyên liệu và quần áo; làm đại lý tiêu thụ sản phẩm cho các doanh
nghiệp khác có cùng loại sản phẩm sản xuất tại Việt Nam. Tổng số vốn đầu tư
2.850.000 USD tương đương 45.600.000.000 VND. Trong đó, Vốn cố định là
1.980.000 USD, vốn lưu động là 870.000 USD. Công ty mẹ là tập đoàn
Daewoo International Corporation tại 541, 5- Ganamdamunno, Junggu, Seoul,
Hàn Quốc.
Từ khi thành lập đến nay, sản phẩm của công ty liên tục được mở rộng và
phát triển để đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm sang các thị trờng EU,
Mỹ và Nhật Bản. Trong diều kiện hiện nay, mặc dù đứng trước những khó
khăn thử thách, đối mặt với việc cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường nh-
25