IỆN PHÁP GIA TĂNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM - Pdf 26

- 1 - - 1 -
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ CẨM LỆ BIỆN PHÁP GIA TĂNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN NGỌC MINH TP. HỒ CHÍ MINH-NĂM 2008
- 2 - - 2 -

1.2.2. Hoạch định nhu cầu vốn ngân hàng 15
1.2.3. Cách thức tăng vốn tự có 17
1.2.3.1. Tăng vốn từ nguồn bên trong 17
1.2.3.2. Tăng vốn từ nguồn bên ngoài 20
1.2.3.2.1. Phát hành thêm cổ phiếu mới 20
1.2.3.2.2. Phát hành trái phiếu chuyển đổi 21
1.2.3.2.3. Một số phương thức khác 21
1.3. Ý nghĩa của việc tăng vốn tự
có 22 KẾT LUẬN CHƯƠNG
I 24
Chương II Thực trạng và kết quả đạt được trong quá trình tăng vốn tự có của
các NHTMCP tại Việt Nam 25
2. 1.Bối cảnh kinh tế và nguyên nhân buộc các NHTMCP phải tăng vốn tự có 25
2.1.1. Bối cảnh kinh tế trước yêu cầu tăng vốn tự có của các NHTMCP 25
2.1.2. Nguyên nhân buộc các NHTMCP phải tăng vốn tự có 27
2.1.2.1. Nguyên nhân vĩ mô 27
2.1.2.1.1. Áp lực trong vấn đề hội nhập quốc tế 27
- 4 - - 4 -
2.1.2.1.2. Những quy định ràng buộc từ phía NHNN và Chính Phủ 28
2.1.2.1.3. Một số yếu tố khác 30
2.1.2.2. Nguyên nhân vi mô 31
2.1.2.2.1. Động lực để các NHTMCP tự tin hợp tác với đối tác nước ngoài 31
2.1.2.2.2. Duy trì và gia tăng niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng 32
2.1.2.2.3. Mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh 32
2.1.2.2.4. Triển khai thêm nhiều hoạt động kinh doanh mới, đa dạng hóa dịch vụ 32
2.2. Tình hình tăng vốn tự có của các NHTMCP tại Việt
Nam 33
2.2.1.Tăng vốn từ nguồn bên trong 33
2.2. 2.Tăng vốn từ nguồn bên ngoài 35
2.3. Kết quả từ quá trình tăng vốn tự có của các NHTMCP 44

3.2.4. Cân đối quyền lợi của các cổ đông khi thực hiện chính sách chia cổ tức bằng cổ
phiếu 62
3.2.5. Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tự có tăng thêm rõ ràng và chi tiết
hơn 63
3.2.6. Các NHTMCP nhỏ nên hợp tác với nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp 64
3.3. Kiến nghị về phía ngân hàng Nhà Nước và cơ quan Chính phủ 66
3.3.1. Cơ cấu lại hệ thống NHTMCP 66
3.3.2. Thắt chặt việc cấp phép thành lập ngân hàng mới 66
3.3.3. Kiểm soát chặt chẽ các phương án tăng vốn mới 68
3.3.4. Tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn tự có tăng thêm 69
3.3.5. Tăng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng 70
- 6 - - 6 -
3.3.6. Cần có chính sách phát triển thị trường tài chính nhằm giảm đi gánh nặng cho
các ngân hàng 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 74
Kết luận 75
Tài liệu tham khảo 76 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ATM: Automatic Teller Machine
Máy rút tiền tự động
ANZ: Australia and New Zealand Banking Group

Bảng 2.4 Vốn điều lệ và vốn tự có của Techcombank giai đoạn 2006-2007
Bảng 2.5 Vốn điều lệ của một số NHTMCP giai đoạn 2007-2008
Bảng 3.1
Đối tác chiến lược của một số NHTMCP tại Việt Nam
- 8 - - 8 -
Biểu đồ 2.1 Lợi nhuận giữ lại của một số NHTMCP giai đoạn 2006-2007
Biểu đồ 2.2 Vốn điều lệ của một số NHTMCP giai đoạn 2006-2007
Biểu đồ 2.3 Vốn điều lệ và vốn tự có của khối NHTMCP trên địa bàn TPHCM giai
đoạn 2006-2007
Biểu đồ 2.4 Vốn điều lệ và vốn tự có của Techcombank giai đoạn 2006-2007
Biểu đồ 2.5 Vốn điều lệ của ACB trong giai đoạn 2006-2008
Biểu đồ 2.6 Vốn điều lệ dự kiến của ACB giai đoạn 2008-2012
Biểu đồ 2.7 Vốn điều lệ của một số NHTMCP giai đoạn 2007-2008

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính thiết thực của đề tài
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế là một
vấn đề thời sự quan trọng của mỗi nước, nhất là các nước đang trong giai đoạn phát
triển. Mỗi nước phải nhận thức đúng đắn và phải thiết lập các thể chế phù hợp, tuân thủ
các quan hệ kinh tế quốc tế cùng những cam kết mang tính toàn cầu, qua đó cùng tạo
nên một nền kinh tế đa dạng, hợp tác và cùng phát triển. Hội nhập đang đem đến nhiều
cơ hội lớn lao nhưng cũng là thách thức không kém phần cam go cho nền kinh tế đất
nước.
- 9 - - 9 -

Nam trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tập trung vào các nội dung sau:
- Nghiên cứu lý luận cơ bản về vốn tự có của ngân hàng thương mại, nắm bắt được chức
năng, thành phần cơ bản của vốn tự có của ngân hàng thương mại. Hiểu được hoạch
định nhu cầu vốn của ngân hàng và cách thức tăng vốn tự có của ngân hàng thương mại.
- Tìm hiểu và phân tích thực trạng quá trình tăng vốn tự có của các NHTMCP tại Việt
Nam. Trên cơ sở đó rút ra ưu điểm và hạn chế trong kết quả đạt được, phân tích các
nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó của quá trình tăng vốn tự có.
- Đưa ra các giải pháp, đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình tăng vốn tự có
của các NHTMCP tại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là xem xét quá trình tăng vốn tự có của
các NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia
nhập WTO, đánh giá những mặt được và chưa được để đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả quá trình tăng vốn tự có.
4. Phương pháp nghiên cứu
- 11 - - 11 -
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng kết hợp với lịch sử; phương pháp so sánh phân tích; phương pháp thống kê kết
hợp với các lý luận khoa học để làm rõ và xác định được bản chất vấn đề cần nghiên
cứu từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp để giải quyết vấn đề.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận văn đã nghiên cứu những vấn đề đặt ra đối với hệ thống ngân hàng thương
mại nói chung và các NHTMCP nói riêng khi hội nhập kinh tế thế giới. Qua đó luận văn
phân tích thực trạng, nêu lên những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả quá trình tăng
vốn của các NHTMCP. Dựa trên lý luận khoa học cùng với những nghiên cứu của bản
thân, tư duy của nhiều nhà kinh tế để có thể đưa ra các giải pháp đề xuất giúp cho các
NHTMCP nâng cao hiệu quả quá trình tăng vốn tự có, qua đó khẳng định vị thế của
mình trong thời kỳ phát triển và hội nhập.


CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
- 13 - - 13 -

1.1. Những vấn đề chung về vốn tự có của ngân hàng thương mại
1. Khái niệm về vốn tự có
Về khái niệm vốn tự có của ngân hàng thương mại, theo Luật các TCTD Việt Nam
đã sửa đổi và bổ sung năm 2004, vốn tự có của Ngân hàng thương mại bao gồm: giá trị
thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác, gồm các khoản vốn
điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro,
lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản cố định, vốn Nhà nước cấp
để cho vay dài hạn, các loại vốn, quỹ khác,…
Theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005, vốn tự có của ngân
hàng thương mại bao gồm:
− Vốn tự có cơ bản (Vốn cấp 1): Vốn điều lệ thực có (vốn đã được cấp, vốn đã
góp), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát
triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, trừ đi khoản giá trị chênh lệch lợi thế
thương mại.
− Vốn tự có bổ sung (vốn cấp 2): Phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định và của
các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại, trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ
phiếu ưu đãi do TCTD phát hành có thời hạn dài.
2. Đặc điểm của vốn tự có
Trong thời gian đầu hoạt động, vốn tự có là cơ sở để tạo nên nguồn lực tài chính của
ngân hàng thương mại. Vốn tự có được sử dụng cho mục đích đầu tư vào tài sản cố
định, đầu tư dài hạn và ngắn hạn để sinh lời.
Là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động đồng thời vốn
tự có luôn vận động và tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng. Mọi quyết
- 14 - - 14 -

sự an toàn cho chính ngân hàng vì kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực hoạt động có tính
nhạy cảm cao, thường xuyên gắn liền với các rủi ro.
3.2. Chức năng hoạt động
Vốn tự có có không chỉ được dùng làm lá chắn và đệm an toàn mà còn được
dùng để đầu tư đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Trước hết, vốn tự có tham gia vào việc hình thành nên tài sản cố định cho các
ngân hàng hoạt động. Tài sản cố định là điều kiện về vật chất và công nghệ có ý nghĩa
quyết định đến quy mô của một ngân hàng. Khả năng gia tăng và hiện đại hóa tài sản cố
định tùy thuộc vào quy mô của vốn tự có và chiến lược của các nhà quản trị ngân hàng.
Tuy nhiên, theo Luật các TCTD Việt Nam, các ngân hàng thương mại chỉ được phép
đầu tư vào tài sản cố định không quá 50% vốn tự có của ngân hàng.
Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức
dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới. Khi một ngân hàng phát
triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đời
những dịch vụ mới và những trang thiết bị mới. Hầu hết các ngân hàng đều mở rộng và
phát triển cơ sở vật chất so với lúc đầu và sự bổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở
rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp với sự phát triển của
thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng. Ngoài ra, khi sử dụng vốn tự
có vào việc đầu tư các tài sản ngắn hạn và dài hạn như đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu
công ty, trái phiếu chính phủ,…là để đem lại lợi nhuận cho ngân hàng cũng đồng thời
nhằm duy trì mức vốn khả dụng cho ngân hàng.
- 16 - - 16 - 3.3. Chức năng điều chỉnh
Với chức năng điều chỉnh, vốn tự có xác lập các giới hạn cho hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Cả các cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi
rằng vốn ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh
mục cho vay và của những tài sản rủi ro khác. Khi thành lập chi nhánh mới hoặc triển
khai các hoạt động kinh doanh mới, quyết định đầu tư, cho vay, mua sắm tài sản, hay

D Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Đ Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD
2 Ngân hàng chính sách 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng
3 Ngân hàng đầu tư 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
4 Ngân hàng phát triển 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng
5 Ngân hàng hợp tác 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
6 Quỹ tín dụng nhân dân
A Quỹ tín dụng nhân dân TW 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
B Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 0,1 tỷ đồng 0,1 tỷ đồng
II TCTD phi ngân hàng
1 Công ty tài chính 300 tỷ đồng 500 tỷ đồng
2 Công ty cho thuê tài chính 100 tỷ đồng 150 tỷ đồng
- 18 - - 18 -
Vốn điều lệ của mỗi ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của ngân
hàng quyết định, nghĩa là nguồn vốn này có thể do nhà nước cấp hoặc có thể do huy
động trong xã hội. Theo quy định của Việt Nam, có thể khái quát như sau:
Nếu là ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước, vốn điều lệ do ngân sách
nhà nước cấp 100% vốn ban đầu.
Nếu là ngân hàng thương mại liên doanh, vốn điều lệ do các bên liên doanh tham
gia đóng góp.
Nếu là chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, vốn điều lệ do ngân hàng
mẹ ở nước ngoài bỏ ra để thành lập.
Nếu là ngân hàng thương mại cổ phần, vốn điều lệ là số vốn do các cổ đông đóng
góp trực tiếp hoặc mua cổ phiếu được ghi vào điều lệ hay hợp đồng khi thành lập ngân
hàng, hay là tổng giá trị của số cổ phần chưa thanh toán của các cổ đông sáng lập và cổ
đông thường. theo Luật các TCTD Việt Nam, vốn cổ phần của ngân hàng thương mại
chỉ được hình thành khi có ít nhất từ 35 cổ đông trở lên, trong đó số cổ đông là Doanh
nghiệp Nhà nước phải có số cổ phần sở hữu ít nhất 10% hoặc cổ đông là các pháp nhân,
thể nhân nước ngoài nhưng tổng số cổ phần sở hữu chiếm không quá 30% vốn điều lệ.
Bao gồm:

lỗ năm trước và các khoản do vi phạm pháp luật sẽ được trích 10% để lập quỹ dự phòng
tài chính (số dư của quỹ không được vượt quá 25% mức vốn điều lệ) và trích 50% lập
quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ và 5% cho quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm (số dư
của quỹ không được vượt quá 6 tháng lương thực hiện)….Đối với các
NHTMCP các tỷ lệ này do Hội đồng quản trị quyết định
- 20 - - 20 -
4.2. Vốn cấp Hai (Vốn tự có bổ sung)
- Giá trị tăng thêm của tài sản cố định và giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu
tư được định giá lại theo quy định của pháp luật. Do giá trị thị trường của tài sản có thể
thay đổi theo thời gian, nên vốn do đánh giá lại tài sản thường không ổn định, vì vậy
các ngân hàng chỉ được tính vào vốn cấp 2 một phần giá trị tăng thêm của tài sản. Theo
quy định hiện hành thì vốn cấp 2 gồm: 50% phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định
được định giá lại theo qui định của pháp luật và 40% phần giá trị tăng thêm của các loại
chứng khoán đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp) được định giá lại theo qui định của
pháp luật.
- Dự phòng chung. Đây là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa
xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong tường
hợp khó khăn về tài chính của ngân hàng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Việc
trích lập và sử dụng dự phòng chung được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo
quy định hiện hành thì mức dự phòng chung được tính vào vốn cấp 2 tối đa bằng 1,25%
tổng tài sản Có rủi ro.
- Các trái phiếu chuyển đổi và một số các công cụ nợ khách thỏa mãn điều kiện do
NHNN quy định. Đây là khoản nợ vốn dài hạn do các nhà đầu tư bên ngoài đóng góp.
Vì vậy các nhà quản lý ngân hàng chỉ được tính vào vốn cấp 2 khi các công cụ này thỏa
mãn các điều kiện do ngân hàng trung ương quy định về thời hạn, về đảm bảo của ngân
hàng khi phát hành, về điều chỉnh tăng lãi suất, về thanh toán nợ gốc và lãi…Theo qui
định hiện hành thì qui định trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do TCTD phát
hành có kỳ hạn ban đầu, thời hạn còn lại trước khi chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông
tối thiểu là 5 năm và các công cụ nợ khác là khoản nợ mà chủ nợ là thứ cấp so với các
chủ nợ khác (chủ nợ chỉ được thanh toán sau khi TCTD đã thanh toán cho tất cả các chủ

khoán.
Phần vượt mức 15% vốn tự có của TCTD đối với khoản góp vốn, mua cổ phần của
TCTD vào một doanh nghiệp, quĩ đầu tư, dự án đầu tư.
Phần vượt mức 40% vốn tự có của TCTD đối với tổng các khoản góp vốn, mua cổ
phần của TCTD vào các doanh nghiệp, quĩ đầu tư, dự án đầu tư, ngoại trừ phần vượt
mức 15% đã trừ khỏi vốn tự có nêu trên.
Khoản lỗ kinh doanh, bao gồm cả các khoản lỗ lũy kế.
1.2. Các phương pháp tăng vốn tự có của NHTMCP
1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp tăng vốn tự có
1.2.1.1. Các qui định của NHNN về quản lý vốn tự có
Khi muốn thực hiện việc gia tăng vốn tự có, các ngân hàng thương mại phải tuân
thủ các quy định của nhà nước về quản lý vốn tự có như ngân hàng thương mại chỉ
được phép tăng vốn tự có từ các nguồn vốn theo qui định của pháp luật, việc thực hiện
tăng vốn tự có phải thực hiện theo lộ trình và phải trình lên NHNN hiệu quả của phương
án sử dụng vốn tăng lên đồng thời phải được sự đồng ý cho phép của NHNN. Ngoài ra,
việc huy động vốn điều lệ để tăng vốn tự có trên thị trường chứng khoán còn phải tuân
thủ các quy định về thủ tục, nguyên tắc trên thị trường chứng khoán,v.v….Tuy nhiên,
một vấn đề vô cùng quan trọng khác nữa là luôn phải đảm bảo vốn điều lệ thực tế lớn
hơn vốn pháp định.
1.2.1.2. Các yếu tố chi phí
Lựa chọn giữa việc phát hành trái phiếu (có thời hạn dài theo qui định) hoặc phát hành
cổ phiếu, nếu xét đến yếu tố chi phí thì ta chọn cách phát hành trái phiếu vì chi phí phát
hành cổ phiếu lớn hơn (nhưng chi phí trả lãi thì ngược lại)
1.2.1.3. Yếu tố thời gian
- 23 - - 23 -
Yếu tố thời gian liên quan đến thời điểm thuận lợi để phát hành chứng khoán. Ở thời
điểm khi lãi suất của trái phiếu tăng thì thị giá của cổ phiếu giảm xuống, và ngược lại.
Do đó, nên phát hành cổ phiếu ở thời điểm khi lãi suất của trái phiếu giảm và ngược lại.
Do giá cả tài sản tài chính thay đổi mạnh trong những năm gần đây, nên yếu tố thời gian
trở thành đối tượng quan trọng để xem xét.

Trước tiên, cần phải xác định loại ngân hàng mà họ muốn có là gì? Điều đó liên quan
đến những yếu tố cơ bản như: Qui mô ngân hàng cỡ nào? Ngân hàng sẽ cung cấp cho
những loại dịch vụ nào cho khách hàng? Mức sinh lời ngân hàng phải đạt được trong
tương lai dài hạn.
Theo xu thế hiện nay, trong lĩnh vực ngân hàng, sự sát nhập các ngân hàng lại với nhau
để hình thành một ngân hàng có qui mô lớn hơn, có hoạt động an toàn hơn và hoạt động
hiệu quả hơn nên đã trở nên phổ biến. Nhưng ở một góc độ khác, các ngân hàng nhỏ
cũng có những lợi thế nhất định ở những thị trường nhỏ trong nước, ở khu vực nông
thôn. Như vậy, Hội đồng quản trị và ban giám đốc của ngân hàng cần phải xác định qui
mô của ngân hàng mình sao cho tương xứng với loại dịch vụ thế mạnh mà ngân hàng sẽ
cung cấp cho khách hàng.
Sự nới lỏng qui định trong hoạt động ngân hàng tại nhiều quốc gia trên thế giới đã mở
ra khả năng cung cấp nhiều dịch vụ mới trong giao dịch chứng khoán, bảo hiểm, và
nhiều lĩnh vực khác. Ngân hàng phải xác định loại dịch vụ mới nào có thể làm tăng rủi
ro của ngân hàng (giảm lợi nhuận, rủi ro phá sản, gia tăng chi phí…), dịch vụ mới nào
lại có thể giảm được rủi ro trên. Thông thường, những dịch vụ mới có thể giảm được rủi
- 25 - - 25 -
ro thì đòi hỏi ít vốn ngân hàng, trong khi đó, những dịch vụ có thể làm tăng rủi ro của
ngân hàng đòi hỏi nhu cầu vốn phải nhiều hơn.
Bước 2: Căn cứ vào mục tiêu hoạt động, các dịch vụ dự định cung ứng, mức rủi ro
có thể chấp nhận và các qui định của các cơ quan quản lý để xác định số lượng vốn
cần phải có để phù hợp với các mục tiêu đã chọn, với các dịch vụ dự kiến sẽ cung cấp,
với những rủi ro có thể xảy ra và với các qui định của các cơ quan quản lý ngân hàng.
Trong thực tế hoạt động, một ngân hàng thường xuyên phải đối mặt với hai yêu cầu trái
ngược nhau về vốn tự có:
- Thứ nhất, các cơ quan quản lý ngân hàng xuất phát từ yêu cầu an toàn hệ thống đã
thường xuyên buộc các ngân hàng gia tăng vốn. Nhưng nếu một ngân hàng có quá nhiều
vốn tự có, xem xét dưới góc đô thị trường tài chính, sẽ làm giảm tác dụng đòn cân nợ và
khả năng sinh lời của việc đầu tư các nguồn quĩvay mượn, có thể làm giảm thấp lợi
nhuận và giá chứng khoán một khi các nhà đầu tư dự kiến lợi nhuận của ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status