Phân tích báo cáo tài chính ngân hàng thương mại cổ phần Vietcombank 2008 - 2012 - Pdf 26

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM 2008 - 2012
Có thể nói, nền kinh tế Việt Nam từ 2007 đến 2012 đã trải qua một giai đoạn vô cùng
khó khăn. Nếu như từ năm 2000 đến 2007, nền kinh tế luôn đạt tốc độ tăng trưởng tốt với
mức tăng bình quân (CAGR) là 6,7%/năm thì trong 5 năm gần đây, mức tăng trưởng này chỉ
đạt 4,5%. GDP năm 2012 chỉ đạt mức tăng trưởng 5,03%, mức thấp nhất kể từ năm 1999.
Bên cạnh nguyên nhân ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra năm
2008, cơ cấu tăng trưởng kinh tế với động lực chủ yếu dựa trên tăng trưởng vốn và lao động,
thiếu đầu tư chiều sâu đã khiến cho nền kinh tế rơi vào trạng thái quá nóng và gây nên tình
trạng lạm phát cao, tạo nên bong bóng tài sản đầu tư và có khả năng gây bất ổn trong dài
hạn. Nếu như trong giai đoạn 2000 – 2006 lạm phát tăng nhưng thường duy trì ở mức hợp lý
dưới 10% và vẫn tạo được đà tăng trưởng tốt thì từ năm 2007 đến nay, diễn biến lạm phát rất
thất thường với biên độ dao động quá lớn đã phần nào thể hiện những bất ổn về cơ cấu kinh
tế, đòi hỏi phải có những chính sách đột phá nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng. Chính vì
vậy, trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015, hai vấn đề chính của nền
kinh tế đã được cập và được xác định là mục tiêu cần giải quyết: (i) ổn định kinh tế vĩ mô
được đặt lên hàng đầu, và (ii) định hướng nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc thay đổi về cơ cấu kinh tế đòi hòi một chiến lược dài hạn trong khi
ngắn hạn, nền kinh tế đang cần ngay những giải pháp tức thời để bình ổn. Chính vì vậy, mục
tiêu trước mắt trong giai đoạn hiện nay của Chính phủ là phải tháo gỡ khó khăn cho doanh
nghiệp, phá băng cho thị trường bất động sản, giải quyết nợ xấu và bình ổn thị trường tài
chính, tránh nền kinh tế rơi vào trạng thái giảm tăng trưởng và đình đốn
Như đã phân tích ở trên, nguồn vốn vẫn là nguồn lực chính cho tăng trưởng kinh tế tại
Việt Nam. Thống kê cho thấy tỷ lệ tổng phương tiện thanh toán, tổng dư nợ tín dụng, tổng
dư nợ tiền gửi với GDP đều tăng mạnh trong các năm gần đây. Tỷ lệ M2/GDP và dư nợ tín
dụng/GDP ở Việt Nam ở mức cao trong so sánh tương quan với các nền kinh tế thuộc cùng
nhóm như Thái Lan, Indonesia, Srilanka, Philipines. Tuy nhiên, thị trường vốn vẫn phụ
thuộc chủ yếu vào kênh ngân hàng bởi TTCK còn non trẻ và quy mô nhỏ. Thị trường chứng
khoán tuy đã hoạt động được trên 10 năm nhưng việc huy động vốn trên TTCK của các
doanh nghiệp vẫn còn thấp và phụ thuộc nhiều vào diễn biến của thị trường.
1
Hiện nay, toàn hệ thống có 5 NHTM NN, 1 NHCSXH, 35 NHTMCP, 50 Chi nhánh

2
Suốt trong giai đoạn 5 năm vừa qua, ngành ngân hàng vẫn được đánh giá là có hiệu
quả tương đối so với các ngành sản xuất kinh doanh khác. Tuy nhiên, đến năm 2012, hiệu
quả hoạt động của các NH đã bắt đầu bị ảnh hưởng. Đặc biệt là nhiều NH không trích lập dự
phòng đầy đủ với các khoản nợ xấu cũng như các khoản đầu tư ngoài ngành. Các khoản trích
lập dự phòng, tỷ lệ nợ xấu trên báo cáo tài chính của các NH chưa phản ánh đúng thực chất
tình hình khó khăn hiện tại. Đến cuối quý II, Thống đốc công bố nợ xấu thực tế của hệ thống
NHTM có thể lên đến 10%, thay vì mức 3% như các ngân hàng báo cáo. Con số này cũng
tương đương với nhận định của nhiều tổ chức tài chính và Ngân hàng Nước ngoài.
* Cơ cấu sở hữu chồng chéo giữa các ngân hàng
Do trình độ quản trị của nhiều ngân hàng TMCP có quy mô nhỏ không theo kịp với đà
tăng tài sản nên dẫn đến việc chất lượng tín dụng của các ngân hàng này kém. Một lý do
khác khiến cho chất lượng tín dụng ở các ngân hàng này kém là vì chúng thường là “sân sau”
của các tập đoàn, cả nhà nước lẫn tư nhân, vì để tăng vốn chủ sở hữu lớn như vậy các ngân
hàng này buộc phải dựa vào vốn đóng góp của chính các tập đoàn này. Một vấn đề khác nảy
sinh khi tốc độ tăng vốn chủ sở hữu quá nhanh của nhóm ngân hàng này là chính các tập
đoàn đằng sau các ngân hàng này cũng phải vay vốn từ các ngân hàng khác để đáp ứng yêu
cầu. Hệ quả là vốn vay của các tập đoàn bị sử dụng sai mục đích. Đây là một trong những
nguyên nhân chủ chốt khiến cho nợ xấu, nợ quá hạn dắt dây trong toàn bộ hệ thống các tổ
chức tín dụng của Việt Nam. Những bất cập này đã khiến các chính sách điều hành của
Chính phủ trong thời gian gần đây phải hướng tới việc tái cơ cấu thị trường tài chính, minh
bạch và lành mạnh hóa để giải quyết thực trạng ứ động vốn trên thị trường.
3
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VCB)
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam (Vietcombank - VCB) chính thức đi vào hoạt động ngày 01/4/1963, với tổ
chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Là ngân hàng
thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá,
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức hoạt động với tư cách là một Ngân hàng
TMCP vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua

sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), góp phần vào việc ổn định tiền tệ, kiềm chế
lạm phát, điều hành tỷ giá và tăng cường dự trữ ngoại tệ quốc gia.
Đầu những năm 90 Vietcombank đã chính thức tham gia vào thị trường tiền tệ thế
giới, gia nhập tổ chức SWIFT; là thành viên của Hiệp hội ngân hàng châu Á, của tổ chức thẻ
quốc tế và là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành các loại thẻ tín dụng quốc tế
(Master Card, Visa…). Bên cạnh đó, Vietcombank đã tăng cường đầu tư, hiện đại hóa, nâng
cao trình độ công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực
khác bằng việc thành lập các công ty liên doanh, các công ty trực thuộc Với lợi thế về
nguồn vốn, đặc biệt là vốn ngoại tệ, Vietcombank đã tham gia tài trợ vốn cho hàng loạt các
dự án thuộc các lĩnh vực then chốt của quốc gia như điện lực, dầu khí, hàng không, viễn
thông
Vietcombank đã xây dựng và thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu mà trọng tâm là
nâng cao năng lực tài chính, quản trị rủi ro, tiếp tục đổi mới công nghệ, đưa nhiều tiện ích
ngân hàng mới vào phục vụ khách hàng và sẵn sàng cho quá trình hội nhập.
Trên nền tảng công nghệ hiện đại, Vietcombank từng bước cung ứng cho thị trường
những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao như VCB online & connect 24, VCB Money, I-
Banking, Home Banking, SMS Banking, VCB Cyber Bill Payment, VCB Global Trade…,
tạo tiền đề quan trọng cho việc xây dựng nền tảng thanh toán điện tử ở Việt Nam, dần thay
thế “văn hóa tiền mặt” bằng “văn minh thẻ và dịch vụ thanh toán hiện đại”.
Dịch vụ thanh toán điện tử này tại Vietcombank được hỗ trợ bởi hệ thống mạng lưới của
NHNT rộng khắp trên cả nước với 80 chi nhánh, hơn 200 phòng giao dịch, 2 công ty trực
thuộc và một đơn vị sự nghiệp; đã vươn ra thị trường quốc tế với 1 công ty con và 2 văn
phòng đại diện tại nước ngoài. Vietcombank đã có quan hệ đại lý với gần 2000 ngân hàng và
định chế tài chính tại trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
5
Vietcombank năm 2007 trở thành một đơn vị đi tiên phong trong ngành ngân hàng về
thực hiện chủ trương cổ phần hóa DNNN. Vietcombank đã thực hiện thành công việc phát
hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng vào ngày 26/12/2007. Thời điểm IPO diễn ra trong giai
đoạn khó khăn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam nhưng một lần nữa Vietcombank
đã khẳng định thành công về thương hiệu, uy tín và tầm nhìn với gần 97% lượng phát hành,

CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH BCTC NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TỪ
NĂM 2008 - 2012
I. Phân tích khái quát tình hình tài sản – nguồn vốn
1.1 Về tổng tài sản:
Tổng tài sản của Ngân hàng VCB giữ vững xu hướng tăng trưởng đều qua các năm từ
2008 đến năm 2012.
ĐVT: Triệu đồng, %
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012
Tổng tài sản
222,089,52
0
255,495,883 307,496,070 366,722,279 414,475,073
Tốc độ tăng 15.04% 20.35% 19.26% 13.02%
Bảng 1: Tổng tài sản của VCB từ năm 2008 - 2012
Nếu năm 2008 tổng tài sản của toàn hàng là khoảng hơn 222 ngàn tỷ VND thì đến năm
2012, tổng tài sản đã gia tăng lên đến hơn 414 ngàn tỷ, mức tăng trưởng hơn 85% trong thời
gian 4 năm. Với những biến động lớn về điều kiện kinh tế vĩ mô và của ngành tài chính ngân
hàng nói riêng là kết quả đáng ghi nhận bước đầu. Trong khoảng thời gian được cho là khó
khăn nhất của nền kinh tế Việt Nam kể từ sau đổi mới 1986 đến nay, tổng tài sản của chủ sở
hữu mà trong trường hợp này hơn 75% là thuộc Nhà nước đã được giữ vững và phát huy
hiệu quả. Trên bình diện tăng trưởng tổng tài sản thì đây là chỉ tiêu tích cực đối với một
“Doanh nghiệp nhà nước”, loại hình doanh nghiệp vốn luôn gắn liền với hình ảnh trì trệ, kém
hiệu quả.
Biểu 1: Tổng tài sản của VCB từ năm 2008 - 2012
8
Tốc độ tăng trưởng của Ngân hàng qua các năm được thể hiện chi tiết trong biểu đồ sau:
Biểu 2: Tốc độ tăng tổng tài sản của VCB từ năm 2008 - 2012
Qua các số liệu trên có thể nhận thấy VCB luôn giữ vững ở tổc độ tăng trưởng khá cao,
ở mức trên 10% đặc biệt là trong 2 năm 2010 – 2011 gần 20%. Đây là giai đoạn nền kinh tế
Việt Nam nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng có sự phục hồi nhẹ sau khủng hoảng kinh

hữu khoảng 4,364 tỷ đồng và vẫn đảm bảo cơ cấu vốn của Nhà nước là 90.72%. Đặc biệt
trong năm 2012 VCB đã chào bán cổ phiếu riêng lẻ cho cổ đông chiến lược nước ngoài là
Mizuho Corporate Bank, Ltd tăng thêm vốn điều lệ 3,416 tỷ đồng, theo đó VCB là 1 trong 3
ngân hàng (Agribank và BIDV) có mức vốn điều lệ trên 1 tỷ USD.
Biểu 3: Tổng nguồn vốn của VCB từ năm 2008 - 2012
1.3 Phân tích cơ cấu tài sản
Không giống với những doanh nghiệp trong các ngành khác, đặc thù trong hoạt động cơ
bản của ngân hàng là huy động và cho vay. Do đó, nguồn doanh thu và chi phí luôn đi liền
với quá trình gia tăng của tổng tài sản. Doanh thu của Ngân hàng sẽ không thể tăng trưởng
mà không đi kèm với nó là sự tăng trưởng trong tổng tài sản – chủ yếu là các khoản vay và
nguồn huy động từ người gửi tiền.
ĐVT: Triệu đồng, %
10
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012
Tiền gửi tại NHNN
13.76% 9.85% 2.68% 2.90% 3.80%
Cho vay khách hàng
50.79% 55.43% 57.50% 57.11% 58.19%
Chứng khoán đầu tư
18.72% 12.77% 10.67% 8.03% 18.94%
Tiền, vàng và cho vay
các TCTD khác 13.67% 18.57% 25.90% 28.63% 15.85%
Bảng 3: Cơ cấu tài sản của VCB từ năm 2008 - 2012
Xuất phát từ đặc thù của ngành, tài sản lớn nhất của một ngân hàng thương mại thông
thường là các khoản cho vay khách hàng. Từ năm 2008 – 2012 cho vay khách hàng luôn
chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản và có xu hướng ngày càng tăng. Bên cạnh đó khoản
mục tiền gửi và cho vay TCTD khác cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao qua các năm, mặc dù
năm 2012 đã sụt giảm xuống còn 15.85%. Thay vào đó chứng khoán đầu tư lại tăng mạnh từ
8.03% năm 2011 lên 18.94% năm 2012.
Biểu 4: Cơ cấu tài sản của Ngân hàng VCB qua các năm từ 2008 – 2012.

CK nợ do tổ chức NN phát hành 6.08% 8.16% 0.00% 0.00% 0.00%
Các khoản đầu tư ủy thác tổ chức
NN 14.18% 18.99% 19.92% 0.00% 0.00%
Các khoản đầu tư ủy thác tổ chức
trong nước 0.00% 0.62% 1.59% 1.99% 0.65%
CK khác 0.74% 0.00% 0.00% 0.00% 0.00%
Bảng 5: Cơ cấu chứng khoán đầu tư của VCB từ năm 2008 - 2012
Năm 2008 – 2010 VCB chuyển dần danh mục đầu tư chứng khoán từ trái phiếu chính
phủ chuyển sang chứng khoán nợ (trái phiếu) do các TCTD khác trong nước phát hành và
các khoản ủy thác đầu tư của tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên trong năm 2011 và 2012 với
những bất ổn của nền kinh kinh tế thì đầu tư vào trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc đã
được VCB quan tâm hơn, điều đó là do VCB chú trọng hơn đến việc đảm bảo các chỉ tiêu an
toàn hoạt động, đã nâng tỷ lệ sở hữu tín phiếu kho bạc nhằm mở rộng dự trữ thanh khoản thứ
cấp, trái phiếu chính phủ và tí phiếu kho bạc đã trở thành trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn,
an toàn cho các tổ chức tín dụng nói chung và VCB nói riêng. Hơn nữa các khoản chứng
khoán đầu tư của VCB hầu hết đều là đầu tư vào chứng khoán nợ (trái phiếu chính phủ
12
24.79%, tín phiếu kho bạc 54.42%, chứng khoán nợ của TCTD 18.3%), riêng chứng khoán
vốn thì VCB chỉ đầu tư dài hạn và chủ yếu đầu tư vào các NHTM khác như Eximbank,
Saigonbank, Mbbank, OCB, … do đó danh mục đầu tư của VCB tương đối an toàn.
Khoản mục tiền gửi và cho vay TCTD khác chiếm thứ 3 trong tổng tài sản, bình quân
20.53% trong giai đoạn 2008 – 2012.
ĐVT: Triệu đồng, %
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012
Tiền gửi tại TCTD khác 49% 98% 100% 68% 92%
Cho vay TCTD khác 51% 2% 0% 32% 8%
Bảng 6: Cơ cấu tiền gửi và cho vay TCTD khác của VCB từ năm 2008 - 2012
Trong năm 2008 và 2011 trước tình hình lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng cao thì
VCB cũng đẩy mạnh việc cho vay trên thị trường 2, cho vay TCTD khách chiếm trên 30%
tổng tiền gửi và cho vay TCTD. Tuy nhiên đến năm 2009 – 2010 tình hình thanh khoản của

của VCB. Điểm đáng chú ý là số dư tiền gửi/nhận vay của VCB từ các tổ chức tín dụng khác
luôn nhỏ hơn số dư tiền gửi/cho vay của VCB đối với các tổ chức tín dụng.
Cơ cấu nguồn huy động của Ngân hàng theo khảo sát ngành Ngân hàng của KPMG
năm 2013 ta có biểu đồ sau:
15
Biểu 7: Cơ cấu huy động của ngành ngân hàng qua các năm từ 2011 – 2012
Đối chiếu với cơ cấu nguồn nợ phải trả của VCB qua các năm ta nhận thấy rằng, kết
cấu của các khoản mục nợ phải trả của Ngân hàng cơ bản phản ánh đặc điểm chung của
ngành với hai khoản mục chính chiếm tỷ trọng cao nhất là huy động từ TT1 (70% tổng nợ
phải trả trong năm 2012) – trong khi VCB là 76.3% trong năm 2012; huy động từ TT2 (15%
tổng nợ phải trả năm 2012) trong khi VCB là 9.1%. Điểm đáng chú ý là tỷ trọng của khoản
mục huy động từ TT2 của VCB có phần thấp hơn đến gần 6 điểm phần trăm theo số liệu
tuyệt đối so với đặc điểm chung của ngành.
Đi sâu vào phân tích khoản mục huy động và cho vay trên thị trường liên ngân hàng
của VCB sẽ cho ta cái nhìn sau hơn về hoạt động của ngân hàng này.
16
Biểu 8: Cơ cấu huy động – cho vay TT2 của Ngân hàng VCB qua các năm từ 2008 – 2012
Biểu đồ trên cho thấy mức chênh lệch, cho vay trên thị trường liên ngân hàng của
VCB qua các năm 2008 – 2012 dựa trên số liệu tại thời điểm 31/12 qua các năm.
Một điểm có thể nhận thấy là tổng quy mô huy động và cho vay TT2 trong năm 2012
của VCB có sự sụt giảm so với năm trước đó mặc dù vẫn giữ nguyên đặc điểm cho vay ròng
trên thị trường này. Trước hết, điều này được lý giải là do sự hồi phục trong nguồn huy động
từ dân cư nên làm giảm nhu cầu huy động trên TT2 đối với VCB cũng như các ngân hàng
khác. Tiếp đến là sự thay đổi trong chính sách điều hành của Ngân hàng nhà nước. Với sự ra
đời của Thông tư 21/2012/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/9/2013 quy định rằng các Ngân
hàng chỉ có thể đi vay trên TT2 nếu không có nợ quá hạn trên 10 ngày đối với các khoản vay
TT2 trước đó. Thêm nữa, thông tư yêu cầu trích lập dự phòng đối với các khoản vay TT2
cũng phần nào làm giảm tính hấp dẫn của các khoản vay này. Cuối cùng là, các ngân hàng
thường có quy trình phê duyệt và xếp hạng tín dụng khác nhau. Cùng với sự không ổn định
của các điều kiện kinh tế và các hoạt động sáp nhập của các NHTM trong tương lai gần đã

Bảng 7: Cơ cấu nhóm nợ của VCB từ năm 2008 - 2012
Từ năm 2010 theo yêu cầu của NHNN và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, VCB đã áp
dụng hệ thống đánh giá tín dụng theo phương pháp định tính mới, giúp phân loại tín dụng
dựa trên cả số lượng và chất lượng. Hệ thống đánh giá mới này được áp dụng từ năm 2011,
chính vì vậy mà việc phân loại nợ của VCB được chuẩn xác hơn dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn
của VCB cũng tăng đáng kể từ 12.74% năm 2010 lên 16.74% năm 2011 và nợ quá hạn vẫn
duy trì khoảng 16.32% vào năm 2012.
ĐVT: Triệu đồng, %
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012
Tỷ lệ nợ quá hạn 7.33% 8.14% 12.74% 16.74% 16.32%
Tỷ lệ nợ xấu 4.61% 2.47% 2.83% 2.03% 2.40%
Dự phòng chung 761,510 1,072,050 1,278,370 1,464,435 1,734,769
Dự phòng cụ thể 3,413,832 3,553,070 4,410,712 3,863,719 3,557,929
Sử dụng dự phòng 463,705 261,711 306,069 3,840,360 3,583,060
Bảng 8: Tỷ lệ nợ quá hạn, trích lập dự phòng của VCB từ năm 2008 - 2012
Để phòng ngừa rủi ro tín dụng thì VCB cũng đã chủ động trích lập dự phòng tủi ro, cụ
thể trong 3 năm gần đây mức trích lập dự phòng hơn 5,000 tỷ đồng, tương đương với lợi
nhuận trước thuế của Ngân hàng. Nhờ đó khi năm 2010 khi nợ xấu tăng cao đến mức 2.83%
thì năm 2011 VCB đã sử dụng quỹ dự phòng để xử lý 3,840 tỷ đồng nên tỷ lệ nợ xấu năm
2011 giảm xuống còn 2.03%. Tuy nhiên trong năm 2012 với tình hình kinh tế khó khăn,
hàng loạt doanh nghiệp phải giải thể, phá sản thì nợ xấu của VCB cũng tăng cao buộc VCB
phải sử dụng 3,583 tỷ đồng để xử lý nợ xấu nhưng tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2012 vẫn tăng hơn
năm 2011 và đang ở mức 2.4%. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu của VCB đang ở dưới mức giới hạn cho
phép nhưng tỷ lệ nợ quá hạn vẫn còn cao, đặc biệt là các khoản nợ nhóm 2 và 3 vẫn tăng nên
19
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của VCB. Tuy nhiên với dự phòng cụ thể đã trích
trong năm 2012 là 3,558 tỷ đồng thì vẫn đảm bảo cho VCB xử lý các khoản nợ nhóm 4 và 5
khoảng 2,665 tỷ đồng sẽ đảm bảo cho phần nào lợi nhuận và chất lượng tín dụng của VCB.
2.2 Tính thanh khoản
Tỷ lệ cho vay/ tiền gửi (LDR) của VCB có xu hướng tăng nhanh, từ 48% năm 2007 lên

Ngân hàng thì tỷ lệ nợ phải trả / vốn chủ sở hữu của VCB so với các Ngân hàng lớn vẫn còn
thấp hơn. cụ thể tỷ lệ tỷ lệ nợ phải trả / vốn chủ sở hữu trong năm 2012 của VCB là 897%,
EIB 976%, CTG 989%, BIDV 1,729%
Trong vài năm trước, VCB gặp vấn đề về việc đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu do
có nhiều khoản đầu tư góp vốn. Tuy nhiên, Ngân hàng bắt đầu duy t• được CAR theo đúng
quy định kể từ năm 2010, đặc biệt năm 2011 đạt 11,4%, giúp ngân hàng có thể đảm bảo
được việc hỗ trợ thanh toán các khoản nợ đến hạn, cũng như hỗ trợ thêm các hoạt động kinh
doanh của mình.
21
2.4 Khả năng sinh lời
ĐVT: Triệu đồng, %
MBB VCB ACB CTG
2010 2011 2012 2010 2011 2012 2010 2011
201
2
2010 2011 2012
ROA
1.6% 1.5% 1.3% 1.4% 1.1% 1.1% 1.1% 1.1%
0.5
%
0.9% 1.4% 1.2%
ROE
19.0% 22.0% 18.0% 20.6% 14.7% 10.6% 20.5% 26.8% 7.3% 18.7% 21.9% 18.3%
NIM
3.3% 3.8% 3.8% 2.7% 3.5% 2.7% 2.4% 3.0%
4.1
%
3.4% 4.4% 3.7%
Bảng 10: ROA, ROE, NIM của VCB so với các Ngân hàng khác 2010 - 2012
ROA, ROE có xu hướng giảm dần từ năm 2010 đến nay và ở mức thấp so với các ngân

4.43% 2.62% 6.21% 2.16% 4.31%
Bảng 11: Cơ cấu thu nhập của VCB từ năm 2008 - 2012
Cơ cấu các khoản thu nhập của VCB vẫn đến từ các dịch vụ ngân hàng truyền thống,
trong đó thu nhập lãi thuần vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm trung bình trên 72% tổng thu
nhập. Thu nhập lãi thuần của VCB có xu hướng tăng từ năm 2009 đến năm 2011, trong đó
năm 2011 tăng cao nhất là 62.1% so với năm 2010, tuy nhiên đến năm 2012 thu nhập lãi
thuần lại giảm 4.8% so với năm 2011.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ cũng là một thế mạnh của VCB, tỷ trọng của nguồn
thu nhập này trong tổng thu nhập của VCB có xu hướng tăng từ năm 2010 đến nay. Năm
2011 hoạt động kinh doanh nghoại hối chiếm 7.15% tổng thu nhập và tăng 110% so với năm
2010. Đến năm 2012, tốc độ tăng thu nhập của hoạt động này giảm chỉ còn 26% so với năm
2011 nhưng lại chiếm 9.76% trong tổng thu nhập. Với chiến lược mở rộng và đa dạng hóa
các sản phẩm và dịch vụ ngoại tệ như đàm phán vay vốn từ các đối tác nước ngoài, các sản
phẩm phái sinh và cấu trúc khác như: hoán đổi lãi suất, hoán đổi tiền tệ, quyền chọn ngoại
tệ…, trong tương lai kỳ vọng khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối của VCB sẽ
đem lại một nguồn thu đáng kể cho ngân hàng.
Thu nhập từ dịch vụ của VCB chiếm tỷ trọng tương đối cao so với các Ngân hàng
trong cùng hệ thống, chiếm 9.11% trong tổng thu nhập hoạt động. Hoạt động dịch vụ của
VCB chủ yếu đến từ hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, thanh toán thẻ và đang có xu
hướng giảm dần do các nền kinh tế trên thế giới gặp khủng hoảng khiến cho hoạt động xuất
nhập giảm. Với những lợi thế về thương hiệu, sản phẩm và nguồn nhân lực có chất lượng
cao, có quan hệ đại lý với nhiều ngân hàng hàng đầu trên thế giới, hoạt động thanh toán xuất
nhập khẩu của VCB vẫn duy trì được đà tăng trưởng và giữ vị trí đứng đầu trong ngành.
Trong năm 2011 nền kinh tế thế giới và trong nước bất ổn, Nhà nước hạn chế việc cho vay
nhập khẩu đã gây không ít khó khăn cho hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của VCB. Tuy
nhiên, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu qua VCB năm 2011 vẫn tăng 25,5% so với năm
trước, chiếm thị phần 19,2% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Tính đến năm
2012, thu nhập từ hoạt động dịch vụ của VCB giảm 8% so với cùng năm 2011 và đạt 1,388
24
tỷ đồng. Nguyên nhân chính của việc sụt giảm này là do khó khăn chung của nền kinh tế, đặc

Chi phí lương 1,539,014 1,983,950 2,569,733 3,188,514 3,353,516
Tốc độ tăng 28.91% 29.53% 24.08% 5.17%
Chi về tài sản 548,006 755,935 902,410 1,091,815 1,258,784
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status