TIỂU LUẬN MÔN NGÂN HÀNG QUỐC TẾ ĐỀ TÀI NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
1. Tổng quan về ngân hàng đại lý 1
1.1 Khái niệm ngân hàng đại lý 1
1.2 Đặc điểm của ngân hàng đại lý 3
1.3 Các loại tài khoản sử dụng trong hoạt động ngân hàng đại lý 4
2. Vai trò của ngân hàng đại lý 4
3. Phương thức thông tin liên lạc của ngân hàng đại lý 5
3.1 CHIPS - Hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng tại Mỹ 5
3.2 CHAPS - Hệ thống thanh toán bù trừ tự động tại Anh 6
3.3 SWIFT – Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu 7
3.3.1 Giới thiệu chung về SWIFT 7
3.3.2. Các quy định chuẩn hóa của SWIFT 8
4. Nội dung trong thỏa uớc ngân hàng đại lý 10
5. Nghiệp vụ ngân hàng đại lý 11
5.1. Thanh toán bù trừ 11
5.2. Tín dụng quốc tế 11
5.2.1. Cho vay các ngân hàng thương mại 11
5.2.2. Cho vay hợp vốn 11
5.3. Tài trợ ngoại thương 12
5.3.1. Tài trợ xuất khẩu 12
5.3.2. Tài trợ nhập khẩu 13
6. Các trung tâm tài chính hải ngoại 13
6.1 Jersey 13
6.2 Quần đảo Cayman 14
6.3 British Virgin Islands 15
6.4 Bermuda 16
6.5 Mauritius 16
7. Phân tích SWOT trong phân tích hoạt động đại lý của các NHTMCPViệt Nam 17
7.1. Ưu điểm 17
7.2. Nhược điểm 19

Việt Nam là việc thiết lập quan hệ ngân hàng đại lý với đối tác là các ngân hàng nước ngoài.
Quan hệ đại lý tốt sẽ giúp ngân hàng phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại và tạo điều kiện
để các ngân hàng Việt Nam mở rộng thị trường. Chính vì vậy, việc xây dựng và thiết lập quan hệ
đại lý với các ngân hàng trong và ngoài nước đang trở thành định hướng phát triển của các ngân
hàng thương mại hiện nay. Khóa luận tốt nghiệp ra đời trong hoàn cảnh đó với hy vọng làm rõ
tầm quan trọng của việc thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng đối tác nói chung và đề xuất
các giải pháp nhằm phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý cho các ngân hàng thương mại Việt
Nam.
1. Tổng quan về ngân hàng đại lý
1.1 Khái niệm ngân hàng đại lý
Ngân hàng đại lý là tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ thay mặt cho tổ chức tài chính
khác, tương đương hoặc không tương đương với nó.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về hoạt động ngân hàng đại lý. Tại Anh, hoạt động ngân hàng
đại lý liên quan đến các mối quan hệ mang tính quốc tế. Nhưng ở các nước khác như Mỹ thì hoạt
động ngân hàng đại lý chứa đựng nhiều yếu tố trong nước.
Tại nước ta, vẫn có sự nhầm lẫn giữa hoạt động ngân hàng đại lý với hoạt động ủy thác
ngân hàng. Tuy nhiên, đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra các khái niệm để có sự phân biệt
về hai hoạt động này:
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 1
GVDH: Trương Thị Hồng
Hoạt động ngân hàng đại lý: Theo Thông tư 41/2011/TT-NHNN ngày 15 tháng 12 năm
2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về Hướng dẫn nhận biết và cập nhật thông tin khách
hàng trên cơ sở rủi ro phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền: “Hoạt động ngân hàng đại lý là
việc cung cấp dịch vụ ngân hàng, thanh toán và các dịch vụ khác của một ngân hàng tại một
quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể (sau đây gọi là Ngân hàng đại lý) cho một ngân hàng khác tại một
quốc gia, vùng lãnh thổ khác (sau đây gọi là Ngân hàng đối tác)”.
Hoạt động ủy thác trong lĩnh vực ngân hàng: Theo Thông tư 04/2012/TT-NHNN ngày
08 tháng 3 năm 2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Quy định về nghiệp vụ nhận ủy thác
và ủy thác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “Ủy thác trong lĩnh vực liên
quan đến hoạt động ngân hàng là việc bên ủy thác giao cho bên nhận ủy thác thực hiện nghiệp vụ

quy định rõ về các trách nhiệm và quyền hạn, ngân hàng đại lý sẽ tiến hành cung cấp các dịch vụ
theo yêu cầu. Đối tượng phục vụ của ngân hàng đại lý là khách hàng của các ngân hàng thương
mại mà nó có quan hệ đại lý. Quan hệ đại lý giúp giảm thiểu chi phí hoa hồng và chi phí với thời
gian, chính vì vậy khách hàng khi giao dịch với các ngân hàng có quan hệ đại lý với nhau sẽ
nhận được nhiều quyền lợi và ưu đãi.
- Nghiệp vụ ngân hàng đại lý được xem là một trong các giao dịch bán buôn của các ngân
hàng thương mại. Phần lớn các nghiệp vụ đại lý sẽ được thực hiện thông qua mạng truyền thông
SWIFT với phương thức bù trừ tài khoản. Do vậy, xét về tổng thể, nghiệp vụ ngân hàng đại lý
giải quyết phần nào các giao dịch bán buôn giữa các ngân hàng thương mại với nhau nhằm giảm
bớt áp lực tiền mặt và củng cố quan hệ đối tác giữa các ngân hàng.
- Nghiệp vụ ngân hàng đại lý hỗ trợ cho các nghiệp vụ kinh doanh khác như thanh toán, tín
dụng, đầu tư, bảo lãnh…Giao thương quốc tế phát triển đặt ra nhu cầu thanh toán rất cao cho các
bên đối tác. Bất kỳ hoạt động nào của ngân hàng có tính đến yếu tố xuyên biên đều kết thúc bằng
việc chuyển giao và chu chuyển luồng tiền giữa hai ngân hàng. Chính vì vậy, một khi hai ngân
hàng có quan hệ đại lý với nhau, nghiệp vụ ngân hàng đại lý sẽ giúp đơn giản hóa cũng như hỗ
trợ rất nhiều cho các dịch vụ khác mà ngân hàng đang khai thác.
- Nghiệp vụ ngân hàng đại lý là một trong những công cụ hữu hiệu trong việc nâng cao
tính cạnh tranh của ngân hàng. Hệ thống tài chính toàn cầu phát triển buộc các ngân hàng phải
liên kết với nhau - một mặt để mở rộng thị trường và đối tượng khách hàng, mặt khác nhằm nâng
cao tính cạnh tranh dựa trên mối quan hệ đại lý đã mở với những ngân hàng khác có uy tín. Thay
cho việc phải mở một chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ vấp phải rào cản pháp lý và những quy
định của nước sở tại, thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài được xem là một
trong những phương thức đơn giản, hiệu quả và chi phí thấp khi một ngân hàng có ý định thâm
nhập thị trường mới. Chính vì vậy, phân phối dịch vụ thông qua ngân hàng đại lý thường áp
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 3
GVDH: Trương Thị Hồng
dụng đối với những ngân hàng chưa có chi nhánh. Do đó, ngân hàng thường thông qua một ngân
hàng có trụ sở tại địa điểm kinh doanh làm đại lý về một nghiệp vụ nào đó và ngân hàng đại lý
được hưởng hoa hồng như đại lý thanh toán, đại lý chuyển tiền, sec du lịch. Đây là một trong các
loại kênh phân phối có xu thế phát triển cùng với xu thế toàn cầu hóa thị trường tài chính quốc

là tại các quốc gia đã có Hiệp định thương mại song phương.
Bất kỳ một ngân hàng nào cũng đều gặp hạn chế khi tham gia vào một thị trường tài
chính nhất định. Những hạn chế đó có thể là về không gian (do khác lãnh thổ), thời gian (do
chênh lệch múi giờ), tập quán kinh doanh, năng lực kết nối, thông tin và mối liên hệ với
khách hàng, thị trường, tập quán giao dịch, luật lệ địa phương, … Do vậy, tổ chức này phải
sử dụng các dịch vụ của tổ chức tài chính khác để thực hiện các giao dịch nhất định nhằm đạt
được hiệu quả kinh doanh cao nhất. Vì thế, ngân hàng đại lý ra đời và ngày càng khẳng định
vai trò của nó đối với nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ TTQT. Vai trò của hoạt
động này trước hết thể hiện ở việc giúp thanh toán giữa hai ngân hàng thuộc các quốc gia
khác nhau được dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả. Hoạt động ngân hàng đại lý đảm bảo lưu
thông thông suốt hoạt động kinh doanh giữa khách hàng và đối tác của họ ở các vùng lãnh
thổ khác nhau trên toàn cầu. Bên cạnh đó, hai ngân hàng có thể trao đổi và sử dụng sản
phẩm, dịch vụ của nhau (như mua bán ngoại tệ, kinh doanh vốn, thanh toán, L/C, bảo lãnh,
nhờ thu…) với mục đích hai bên cùng có lợi.
Thực hiện hoạt động ngân hàng đại lý góp phần chuẩn hóa ngân hàng theo các thông lệ
quốc tế, qua đó nâng cao vị thế của chính ngân hàng đó ở trong và ngoài nước.
3. Phương thức thông tin liên lạc của ngân hàng đại lý
Trong hoạt động ngân hàng quốc tế, mỗi quốc gia sẽ có một nền tảng công nghệ riêng để
phục vụ cho hoạt động thanh toán của mình. Nền tảng công nghệ nếu quy chuẩn và hiệu quả sẽ
trở thành những hệ thống thanh toán chung được mọi người chấp nhận. Một số hệ thống thanh
toán bù trừ liên ngân hàng tại một số quốc gia lớn như sau
3.1 CHIPS - Hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng tại Mỹ
Là hệ thống thanh toán chuyển tiền qua hệ thống máy tính giữa các ngân hàng của
CHIPCo. (The Clearing House Interbank Payment Company), một công ty thành lập bởi hiệp hội
thanh toán bù trừ NewYork và các Ngân hàng thành viên tham gia hiệp hội này.
CHIPS là một hệ thống thanh toán mạng lưới đa phương, ghép lệnh liên tục và tức thời
nghĩa là các lệnh thanh toán nhận được trong giờ làm việc của CHIPS (từ 12:30 A.M. đến 5:00
P.M., giờ NewYork) sẽ được xử lý và thực hiện ghi có gần như ngay lập tức cho Ngân hàng
hưởng lợi.
Để thực hiện thanh toán thông qua CHIPS, ngân hàng được ghi có phải có mã CHIPS.

Người thụ hưởng cũng có thể theo dõi xem tiền đã đến nơi chưa thông qua hệ thống máy tính
riêng của họ có kết nối với ngân hàng.
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 6
GVDH: Trương Thị Hồng
3.3 SWIFT – Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu
3.3.1 Giới thiệu chung về SWIFT
SWIFT là Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và các tổ chức tài chính quốc tế (Society
for Worldwide Interbank and Finacial Telecommunication). Đây là một hiệp hội mà thành viên
là các ngân hàng và các tổ chức tài chính, mỗi ngân hàng tham gia là một cổ đông của SWIFT.
SWIFT cung cấp các dịch vụ truyền thông an ninh và phần mềm giao diện cho các cơ quan
chuyên bán buôn tài chính. SWIFT là nhà cung cấp sự an toàn, dịch vụ chuẩn hóa và phần mềm
giao diện cho các quốc gia và lãnh thổ. Thành viên của SWIFT bao gồm các ngân hàng, nhà môi
giới, nhà quản lý đầu tư. Cộng đồng của SWIFT cũng bao gồm các công ty cũng như cơ sở hạ
tầng ngân hàng trong việc thanh toán, đảm bảo, ngân khố và thương mại.
Phương châm hoạt động của hiệp hội là phục vụ các ngân hàng, không phải mục tiêu lợi
nhuận. Cho đến thời điểm này SWIFT đã liên kết gần 8100 tổ chức tài chính trên 207 quốc gia
và vùng lãnh thổ. SWIFT hoạt động theo luật pháp của Bỉ và được sở hữu bởi các thành viên là
các tổ chức tài chính, ngân hàng tham gia vào nó. Trụ sở chính của SWIFT đặt tại La Hulpe, gần
thủ đô Brussels, vương quốc Bỉ và có văn phòng tại khắp nơi trên thế giới. SWIFT được thành
lập tại Brussels năm 1973 dưới sự hỗ trợ của 239 ngân hàng của 15 nước và bắt đầu thiết lập các
chuẩn chung cho giao dịch tài chính, chia sẻ hệ thống xử lý dữ liệu và mạng viễn thông toàn cầu.
Năm 1974, SWIFT đưa ra các thủ tục và quy tắc pháp lý và đến năm 1977, thông điệp đầu tiên
đã được gửi đi trên mạng SWIFT. Lý do sử dụng SWIFT của các ngân hàng trên thế giới là do
SWIFT có các ưu điểm:
- SWIFT là một mạng truyền thông chỉ sử dụng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức
tài chính nên tính bảo mật cao và an toàn
- Tốc độ truyền thông tin nhanh cho phép xử lý được số lượng lớn giao dịch
- Chi phí cho một điện giao dịch thấp
- Sử dụng SWIFT sẽ tuân theo tiêu chuẩn thống nhất trên toàn thế giới. Đây là điểm chung
của bất cứ ngân hàng nào tham gia SWIFT có thể hòa đồng với cộng đồng ngân hàng trên thế

- FF là mã nhận diện thành phố Frankfurt
Ví dụ 2: Mã SWIFT của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) ở Hà Nội:
BFTV VN VX
Giải thích:
- BFTV nhận diện Bank for Foreign Trade of Vietnam
- VN là mã nhận diện nước Việt Nam
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 8
GVDH: Trương Thị Hồng
- VX là mã nhận diện bất cứ thành phố nào ở Việt Nam
Ví dụ 3:
Asia Commercial Bank: ASCBVNVX
Bank for Investment & Development of Vietnam (BIDV): BIDVVNVX
Vietnam Technological And Commercial Joint - Stock Bank (Techcombank):
VTCBVNVX
Loại 11 ký tự: là địa chỉ SWIFT thường được dành cho các chi nhánh, giống loại 8 ký tự
nhưng có thêm ba ký tự phía sau để phân biệt các chi nhánh.
XXXX XX XX XXX
Bank Country Area Branch
Ví dụ 4:
VIETCOMBANK CAN THO - Swift code: BFTV VN VX 011
VIETCOMBANK DA NANG - Swift code: BFTV VN VX 004
- Tiêu chuẩn ISO 15022-1999 về cấu trúc mẫu điện (thay thế cho tiêu chuẩn ISO 7775)
Các thành viên trao đổi thông tin hoặc thực hiện chuyển tiền cho nhau dưới dạng các
SWIFT message là các bức điện được chuẩn hóa dưới dạng các trường dữ liệu, ký hiệu để máy
tính có thể nhận biết và tự động xử lý giao dịch.
Tất cả các mẫu điện được phân chia thành 10 nhóm điện, mỗi nhóm điện được sử dụng
cho một phương thức TTQT hoặc một loại giao dịch ngân hàng quốc tế.
Ví dụ 5:
Nhóm 3 sử dụng cho mua bán ngoại tệ
Nhóm 7 sử dụng cho thư tín dụng và bảo lãnh

chính nhạy cảm – đều phải tuân theo quy định luật pháp và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những
thay đổi trong chính sách của Chính phủ.
Thiết lập quan hệ ngân hàng đại lý được thực hiện trên cơ sở một Thỏa ước ngân hàng,
gồm các nội dung chủ yếu:
- Các mẫu chữ ký có liên quan, khóa mã Telex, Swift (nếu có)
- Các điều kiện kinh doanh tổng quát: các nghiệp vụ mà các NHĐL có thể cung cấp
cho nhau và cách thực hiện các giao dịch này.
- Các điều khoản và điều kiện khác
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 10
GVDH: Trương Thị Hồng
- Danh mục ngân hàng đại lý
- Báo cáo thường niên và các văn bản thông tin khác
- Hợp đồng tín dụng (gồm thỏa thuận về hạn mức tín dụng trong thời gian luân chuyển
chứng từ qua bưu điện, hạn mức tín dụng cho việc xác nhận chứng từ, đảm bảo cho các hối phiếu
được xác nhận, tỷ lệ ký quỹ, phí thanh toán,…)
5. Nghiệp vụ ngân hàng đại lý
Nghiệp vụ ngân hàng đại lý là nghiệp vụ liên quan đến việc xử lý các giao dịch phát sinh
giữa hai ngân hàng có thiết lập quan hệ đại lý hoặc giữa ngân hàng với khách hàng của ngân
hàng đại lý đối tác. Một số nghiệp vụ ngân hàng đại lý cơ bản như sau:
5.1. Thanh toán bù trừ
Thanh toán bù trừ trong hoạt động ngân hàng đại lý là việc chỉ thanh toán phần chênh
lệch giữa các giao dịch mua và các giao dịch bán có cùng cặp tiền tệ hoặc của một loại tiền tệ
của nhiều cặp tiền tệ khác nhau, cùng ngày giá trị thanh toán giữa ngân hàng với ngân hàng đại
lý.
Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán bù trừ là đồng tiền clearing tức là đồng tiền
không được chuyển đổi ra bất kỳ đồng tiền nào khác, không được chuyển khoản sang các tài
khoản khác, bên nào dư nợ sẽ phải trả bằng ngoại tệ tự do hoặc chuyển sang tài khoản vay nợ
năm sau. Tùy theo sự thỏa thuận của hai bên, tiền tệ clearing có thể được lựa chọn là tiền tệ của
một trong hai nước của hai bên hoặc tiền tệ của nước thứ ba. Với phương thức thanh toán này có
thể qui định cả hai bên phải mở tài khoản hoặc chỉ cần một bên mở tài khoản.

thực hiện dưới các hình thức phổ biến sau:
5.3.1. Tài trợ xuất khẩu
Bao gồm các dịch vụ cơ bản
- Bao thanh toán quốc tế: Là nghiệp vụ bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất khẩu
hàng hóa mà khách hàng và con nợ là những doanh nghiệp ở các nước khác nhau mà ngân hàng
của hai bên có quan hệ đại lý. Vai trò của đơn vị bao thanh toán là thu tiền nợ nước ngoài bằng
việc tiếp cận với nhà xuất khẩu tại đất nước của mình và truy đòi lại nhà nhập khẩu hoặc ngân
hàng của nhà nhập khẩu.
- Chiết khấu bộ chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ: Để đáp ứng nhu cầu
vốn, nhà xuất phẩu sau khi giao hàng có thể thương lượng với ngân hàng để ngân hàng thực hiện
chiếu khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền trước khi bộ chứng từ được thanh toán. Sau đó, ngân
hàng sẽ chủ động theo dõi và nhận lại tiền từ ngân hàng xuất trình – lúc này đóng vai trò là ngân
hàng đại lý của ngân hàng đó tại nước nhà nhập khẩu.
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 12
GVDH: Trương Thị Hồng
- Cho vay trên cơ sở chứng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu: Khi ngân hàng xử
lý bộ chứng từ và gửi đi nhờ thu, ngân hàng sẽ cung cấp một khoản ứng trước theo tỷ lệ phần
trăm thỏa thuận dựa trên các khoản nhờ thu tồn đọng chưa nhận được tiền cho nhà xuất khẩu.
Phương thức này tương tự hình thứ chiết khấu bộ chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ.
Đối với loại hình này, vì rủi ro rất cao nên lãi xuất nợ cũng cao hơn so với các hình thức tài trợ
khác, đôi khi ngân hàng yêu cầu nhà xuất khẩu phải có tài sản đảm bảo là chứng từ gửi hàng
mang lại quyền kiểm soát hàng hóa cùng tờ hối phiếu đang trong quá trình nhờ thu.
5.3.2. Tài trợ nhập khẩu
Bao gồm các dịch vụ ngân hàng thương mại cho bên nhập khẩu vay bằng việc ngân hàng
chấp nhận trả tiền cho người xuất khẩu, hoặc bảo lãnh vay vốn nước ngoài, ký quỹ mở L/C
6. Các trung tâm tài chính hải ngoại
Với thế mạnh như trong thủ tục đăng ký dễ dàng, ít rủi ro, quản lý ngoại hối lỏng lẻo và chính
sách thuế ưu đãi, các khu vực pháp lý ở nước ngoài đã trở thành điểm đến phổ biến cho các cá
nhân và các doanh nghiệp quốc tế để đậu tài sản của họ.
6.1 Jersey

Four ". Tính đến tháng 3 năm 2011 , đã có hơn 8.000 quỹ tư nhân trên quần đảo Cayman. Không
có gì cường điệu khi nói rằng hầu như tất cả các quỹ tư nhân đáng chú ý nhất có hoạt động tổ
chức, thương hiệu được thành lập ở Cayman.
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 14
GVDH: Trương Thị Hồng
Ugland House, một tòa nhà văn phòng 5 tầng ở khu vực đô thị của đảo Grand Cayman , là
nơi cư trú của hơn 19.000 công ty . Thương hiệu có uy tín như Coca Cola, Oracle, Sina , Lenovo
và Baidu . Hầu hết trong số họ sở hữu chỉ có một địa chỉ hộp thư trên đảo.
Không có thuế thu nhập, thuế lãi vốn hoặc thuế doanh nghiệp. Cayman đã thu hút một số
lượng lớn các công ty quốc tế chủ yếu là do pháp luật doanh nghiệp, trong đó quy định rằng các
công ty đã đăng ký và được tài trợ theo các điều khoản miễn trừ được tự do để trả thuế trong 20
năm tiếp theo.
6.3 British Virgin Islands
British Virgin Islands ( BVI) , có diện tích chỉ khoảng 153 km vuông, là một lãnh thổ hải
ngoại của Anh nằm trong vùng biển Caribbean về phía đông của Puerto Rico và bên cạnh US
Virgin Islands. Nền kinh tế BVI là một trong những nền kinh tế ổn định và thịnh vượng nhất
trong vùng biển Caribbean. Kể từ sự ra đời của Đạo luật công ty kinh doanh quốc tế trong năm
1984, BVI đã nhanh chóng trở thành một trong những khu vực pháp lý ở nước ngoài chủ yếu cho
các cá nhân và các doanh nghiệp quốc tế.
British Virgin Islands (BVI), có diện tích chỉ khoảng 153 km vuông, là một lãnh thổ hải
ngoại của Anh nằm trong vùng biển Caribbean về phía đông của Puerto Rico và bên cạnh
US Virgin Islands.
Thống kê cho thấy BVI sở hữu số lượng lớn nhất của công ty nước ngoài , với hơn 40 phần
trăm tổng số trên thế giới đăng ký tại lãnh thổ của mình. Khoảng một phần tư của 800.000 BVI
đăng ký ở nước ngoài hoặc các công ty nắm giữ cổ phiếu là từ Trung Quốc, trong đó bao gồm gã
khổng lồ kinh doanh như China Mobile, China Unicom và China National Petroleum .
Điểm mạnh của BVI nằm trong môi trường an toàn và ổn định, chi phí quản lý cạnh tranh,
miễn thuế cho các công ty quốc tế, miễn tăng vốn, quà tặng hoặc thuế tài sản, không hạn chế đối
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 15
GVDH: Trương Thị Hồng

thế giới cũng đã mở chi nhánh tại Mauritius. Các công ty quốc tế có đủ điều kiện để được
miễn thuế, trong khi 80 phần trăm hàng hóa được nhập khẩu miễn thuế .
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 16
GVDH: Trương Thị Hồng
7. Phân tích SWOT trong phân tích hoạt động đại lý của các NHTMCPViệt Nam
7.1. Ưu điểm
Mạng lưới ngân hàng đại lý của các ngân hàng Việt Nam hiện nay tuy chưa thật sự nhiều
nhưng đã có một số thành tựu đáng ghi nhận. Phần lớn các ngân hàng đại lý đều là những ngân
hàng có uy tín (Ngân hàng HSBC, Tập đoàn Citigroup…) và thuộc các vùng kinh tế phát triển
cao như Châu Âu, Châu Mỹ, khu vực Đông Á đã giúp cho các giao dịch thanh toán quốc tế trở
nên nhanh chóng và tiết kiệm chi phí do các ngân hàng khi đã thiết lập quan hệ đại lý sẽ dành
cho nhau và cho khách hàng của đôi bên một số ưu đãi nhất định như phí giao dịch thấp hoặc ưu
tiên chấp nhận các phương tiện thanh toán phi tiền mặt của ngân hàng đối tác.
Dưới góc độ kinh tế, vấn đề thiết lập quan hệ đại lý của các ngân hàng thương mại Việt
Nam có những ưu điểm như sau:
Thứ nhất, Việt Nam đang là một nước đang phát triển nên thu hút được lượng vốn đầu tư
nước ngoài rất lớn, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Sự hợp tác với các ngân hàng nước ngoài
mang lại nhiều cơ hội mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
Việt Nam, chính vì vậy xu hướng chung hiện nay là việc chào bán cổ phần cho các ngân hàng
nước ngoài nhằm kêu gọi lượng vốn đầu tư và tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý của các
đối tác chiến lược là các ngân hàng nước ngoài có uy tín lớn. Xu hướng này nhanh chóng được
các ngân hàng Việt Nam áp dụng. Sacombank là ngân hàng TMCP Việt Nam đầu tiên chào bán
cổ phần cho đối tác là ngân hàng nước ngoài, giao dịch được thực hiện vào năm 2005 với giá trị
27 triệu USD tương đương 10% vốn cổ phẩn của Sacombank cho ngân hàng Úc và New Zealand
ANZ. Kể từ đó, hoạt động này diễn ra sôi nổi với hàng loạt các ngân hàng TMCP Việt Nam chào
bán cổ phần cho ngân hàng và các tổ chức nước ngoài như ACB bán cổ phần cho Standard
Charter, Techcombank bán cổ phần cho HSBC, Sacombank thúc đẩy kêu gọi vốn từ IFC
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 17
GVDH: Trương Thị Hồng
(International Finance Corporation trực thuộc Ngân hàng thế giới) và Tập đoàn tài chính

giao dịch được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả hơn. Thiết lập quan hệ đại lý với các ngân
hàng nước ngoài buộc các ngân hàng Việt Nam phải đáp ứng những tiêu chuẩn quốc tế để hòa
chung vào SWIFT. Chính nguồn nhân lực trẻ và năng động sẽ giúp tiến trình hội nhập của các
ngân hàng Việt Nam diễn ra nhanh hơn và hiệu quả hơn.
Cuối cùng, mặc dù tình hình kinh tế thế giới khó khăn nhưng năm 2013 Việt Nam đã có
tốc độ tăng trưởng tốt, GDP đạt 5,4%, lạm phát kiềm chế ở mức 6,04%. đưa tốc độ tăng trưởng
bình quân 3 năm 2011-2013 đạt 5,6%. Đây là những yếu tố tích cực để Tổ chức xếp hạng tín
nhiệm quốc tế S&P quyết định giữ nguyên xếp hạng nợ dài hạn của Việt Nam ở mức BB- và nợ
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 18
GVDH: Trương Thị Hồng
ngắn hạn ở mức B. Mức hệ số tín nhiệm này của Việt Nam là cao hơn bậc so với một số quốc gia
trong khu vực (Philippines có mức hệ số tín nhiệm là (Ba3/BB); Indonesia là (Ba2/BB). Như
vậy, Việt Nam đã khẳng định vị thế như một địa điểm đầu tư an toàn và nhiều tiềm năng phát
triển. Mặt khác, hệ số mở cửa (hệ số tính bằng tỷ lệ giữa doanh số XNK trên GDP) của Việt
Nam có chiều hướng tăng trong những năm gần đây tạo nhiều cơ hội để Việt Nam đón nhận các
đối tác nước ngoài vào đầu tư. Lợi thế về con người và môi trường đầu tư đã thu hút rất nhiều
giới đầu tư nước ngoài về lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Giao thương quốc tế mở rộng yêu cầu
cần có những sự liên kết nhất định từ phía các ngân hàng để phục vụ khách hàng tốt hơn và nâng
cao vị thế của mình. Chính vì vậy, việc mở rộng quan hệ đại lý sẽ giúp các bên được nhiều lợi
ích về hiệu quả và quy mô.
Hình 1: Tình hình tăng trưởng GDP giai đoạn 2005-2013
7.2. Nhược điểm
Bên cạnh những lợi thế về một hệ thống ngân hàng đang phát triển, vấn đề xây dựng
quan hệ đại lý của các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng có một số nhược điểm như sau:
Thứ nhất, năng lực của các NHTMCP Việt Nam còn quá thấp so với yêu cầu hội nhập.
Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22/11/2006, mức vốn pháp
định áp dụng cho các NHTMCP Việt Nam đến năm 2010 là 3.000 tỷ đồng. Năm 2010, áp lực
tăng vốn theo Nghị định trên đối với nhiều ngân hàng là không nhỏ. Tuy nhiên, đây là mức vốn
rất khiêm tốn so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh những ngân hàng
lớn đã hoạt động từ lâu, đa phần các ngân hàng thương mại mới thành lập gần đây đều có mức

vì e ngại trước sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng có uy tín tại Mỹ. Như vậy, vấn đề thiết lập
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 20
GVDH: Trương Thị Hồng
quan hệ đại lý đặt ra nhu cầu phải tính đến sự hợp tác lâu dài và dự báo trước những đổi thay của
nền kinh tế để có kế hoạch thích ứng phù hợp.
Một nhược điểm khác cũng đáng lưu tâm là các ngân hàng Việt Nam chưa có kế hoạch
phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đang nằm trong các tài khoản Nostro. Đối với những
ngân hàng có mạng lưới đại lý rộng khắp thì việc duy trì tài khoản sẽ khiến ngân hàng bị chôn
một lượng tiền khá lớn và nếu không có kế hoạch điều tiết và phân bổ hợp lý sẽ rất dễ rơi vào
tình trạng mất tính thanh khoản tạm thời. Mặt khác, vấn đề chọn lựa đồng tiền duy trì trong tài
khoản Nostro cũng buộc các ngân hàng phải suy nghĩ rất nhiều: đâu là đồng tiền nên duy trì
trong tài khoản Nostro vừa tránh được rủi ro về tỷ giá, vừa có khả năng linh hoạt chuyển đổi khi
có nhu cầu? Việc này đòi hỏi các giám đốc tài chính một cái nhìn sắc bén và nhạy cảm trước
những diễn biến thị trường, đồng thời phải linh hoạt điều tiết nguồn vốn trong các tài khoản
Nostro .
Ngoài ra, phần lớn các dịch vụ liên kết giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng đại lý
thường xoay quanh các dịch vụ thanh toán truyền thống thông qua điện SWIFT và phương thức
bù trừ. Như vậy, trên thực tế sự hợp tác liên kết về dịch vụ tư vấn vẫn chưa phát triển nhiều –
trong khi đây mới chính là nền tảng để phát triển nhiều dịch vụ ngân hàng tiềm năng khác. Phát
triển lĩnh vực tư vấn đòi hỏi các ngân hàng phải có đội ngũ chuyên viên có nhiều kinh nghiệm và
kỹ năng. Chính vì vậy, phát triển mạnh về lĩnh vực tư vấn chứng tỏ ngân hàng có đội ngũ chuyên
viên giỏi. Đây là một yếu tố cạnh tranh quan trọng mà mỗi ngân hàng đều đang chú trọng. Bên
cạnh đó, dịch vụ tư vấn được xem là một hình thức bán chéo sản phẩm nhằm đáp ứng đầy đủ
mọi nhu cầu của khách hàng. Nguồn thu từ dịch vụ tư vấn sẽ bao gồm phí tư vấn và các nguồn
thu khác từ các dịch vụ đi kèm.
73. Thời cơ
Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành ngân hàng nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Ngành ngân hàng thế giới đã trải qua nhiều thập kỷ với những
bước phát triển vượt bậc, chính vì vậy đây là cơ hội để các ngân hàng Việt Nam tiếp thu những
giá trị cốt lõi trong quản lý và điều hành. Thiết lập quan hệ đại lý không những giúp thắt chặt sự

trọng nhập khẩu. Cùng với những cam kết mở cửa thị trường khi Việt Nam gia nhập WTO, có
thể nói hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu trong những năm tới sẽ sôi nổi hơn. Mặt khác, việc
thanh toán nhanh chóng, ít tốn thời gian và giảm thiểu được rủi ro cũng như chi phí hoa hồng sẽ
thiết lập mối quan hệ làm ăn bền vững với đối tác – đặc biệt là những đối tác nước ngoài đã quen
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 22
GVDH: Trương Thị Hồng
với văn hóa giao thương chuyên nghiệp. Chính vì vậy, phát triển quan hệ đại lý với các ngân
hàng nước ngoài chính là chìa khóa hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu và góp phần tạo nên
hình ảnh đẹp của các ngân hàng Việt Nam với đối tác người nước ngoài.
74. Trở ngại
Khi thiết lập quan hệ đại lý giữa hai ngân hàng, biên bản cam kết luôn đi kèm những thỏa
thuận liên quan đến những dịch vụ liên kết và những ưu đãi dành cho khách hàng của đôi bên.
Các ngân hàng Việt Nam khi muốn xây dựng quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài
thường phải nhượng bộ một số điều khoản và thường gặp nhất chính là quy định yêu cầu phải
duy trì số dư tối thiểu bằng ngoại tệ trong tài khoản Nostro. Tiền lưu giữ trong tài khoản Nostro
được xem như một khoản tiền gửi thanh toán của các ngân hàng Việt Nam tại ngân hàng đại lý.
Đa phần khoản tiền này được dùng để thanh toán, một số trường hợp khác có thể được dùng để
ký quỹ…Việc mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng nước ngoài giúp thực hiện các giao dịch
thanh toán quốc tế trở nên dễ dàng hơn, tuy nhiên duy trì số dư trong tài khoản Nostro vô hình là
một rào cản đối với các ngân hàng Việt Nam do quy định này có thể ảnh hưởng đến tính thanh
khoản và dòng chu chuyển tiền của các ngân hàng.
SWIFT là hệ thống thông tin toàn cầu cho lĩnh vực thanh toán liên ngân hàng. Tuy nhiên,
không phải ngân hàng của các quốc gia mà Việt Nam có quan hệ đối tác trong kinh doanh đều là
thành viên của SWIFT. SWIFT cũng không phải hình thức liên lạc có thể thay thế cho các
phương tiện truyền tin trước đó. Điều này tạo nên một trở ngại quan trọng đối với việc thanh
toán qua ngân hàng. Ví dụ: khi chuyển bộ chứng từ TTQT vẫn phải sử dụng thư tín mà không
thể dùng SWIFT để chuyển được; hoặc khi chuyển một bức điện tới ngân hàng ở Myanma ta
không thể dùng SWIFT mà phải sử dụng TELEX vì các ngân hàng ở Myanma chưa tham gia
SWIFT.
8. Định hướng phát triển quan hệ đại lý trong tương lai

Sau gia nhập WTO, môi trường pháp lý của Việt Nam đã có những thay đổi trên nhiều
lĩnh vực. Nhìn một cách tổng thể, môi trường pháp lý Việt Nam ngày càng mở rộng theo hướng
tích cực. Song, theo yêu cầu thượng tôn pháp luật của WTO, môi trường pháp lý của Việt Nam
còn có nhiều vấn đề phải bàn, đặc biệt là Luật pháp Việt Nam vẫn chưa đủ các chế tài pháp lý và
chất lượng xây dựng các văn bản luật còn quá thấp. Để phát triển ngành ngân hàng theo hướng
hiện đại, Chính phủ cần hoàn thiện hơn nữa môi trường pháp lý và những quy định mang tính
định hướng lâu dài cho các ngân hàng thương mại.
Một số giải pháp đối với vấn đề hoàn thiện môi trường pháp lý như sau:
- Nhanh chóng hoàn thiện Luật ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng, cập nhật các
quy định mới theo nhu cầu và thực tiễn hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt cần bổ sung các
quy định điều chỉnh về hoạt động ngân hàng quốc tế
- Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng theo hướng chuyên biệt chức năng, trong đó cần chú ý
sớm đưa ngân hàng Eximbank trở về mô hình vốn có là một cơ quan của Nhà nước theo dõi và
quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế. Mô hình này đã được các nước công nhận,
Nhóm 3.1 – Lớp CHNHDEM1 K22 Page 24

Trích đoạn Quản lý và sử dụng hiệu quả các tài khoản Nostro Tăng cường hoạt động ngoại giao với mạng lưới ngân hàng đại lý Tham gia vào các mạng lưới thanh toán quốc tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status