Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoa – HS31C
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật là tiền đề và là công cụ quan trọng hàng đầu để duy trì quyền
lực và đảm bảo sự thống nhất của một Nhà nước. Bước vào nền kinh tế thị
trường với biết bao sự thay đổi, chuyển biến của cơ chế, của chính sách cùng với
đó là sự khủng hoảng về tài chính và tệ hơn nữa là sự xuống cấp trầm trọng của
ý thức và nhân cách con người. Bên cạnh những kết quả đạt được thì mặt trái
của nền kinh tế thị trường cũng không ngừng bộc lộ rõ nét. Tội phạm gia tăng
với những hành vi vi phạm ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Kẻ phạm tội nhất
là bọn phản động, lưu manh chuyên nghiệp, những phần tử chuyên sống bằng
đầu cơ, buôn lậu, cướp giật, làm ăn phi pháp… thì thủ đoạn thường rất gian
ngoan, xảo quyệt. Nguy hiểm hơn nữa là loại tội phạm công nghệ cao đã và
đang làm cho các cơ quan chức năng phải đau đầu, người dân không khỏi bàng
hoàng và lo lắng trước những thủ đoạn phạm tội mà chúng đã thực hiện.
Trước thực tế ấy, CQĐT cùng với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã
hội và toàn thể nhân dân đã nhận thức được rất rõ về yêu cầu và nhiệm vụ đấu
tranh phòng chống tội phạm, hơn nữa CQĐT còn luôn coi đây là nhiệm vụ cấp
bách hàng đầu. Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, hỏi cung bị can là một
trong những biện pháp điều tra hết sức quan trọng nhằm phát hiện, giải quyết
nhanh chóng vụ án. Hoạt động điều tra vụ án hình sự nhiều năm qua đã chứng
minh, chuẩn bị hỏi cung bị can có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với hoạt động hỏi
cung bị can, là cơ sở để ĐTV chủ động, linh hoạt trong việc lựa chọn các chiến
thuật, các phương pháp tác động tới bị can nhằm khai thác, làm rõ sự thật khách
quan của vụ án. Mặt khác, chuẩn bị hỏi cung bị can còn là một khâu đặc biệt
quan trọng quyết định sự thành bại của một cuộc hỏi cung.
Trong nhiều năm qua, những vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn bị hỏi cung
bị can đã được để ý và quan tâm đáng kể. Tuy nhiên, có rất ít công trình nghiên
cứu độc lập về vấn đề này, nên chuẩn bị hỏi cung bị can mới dừng lại ở việc
nghiên cứu một cách khái quát mà chưa nhận được sự ưu tiên hay sự tập trung
hỏi cung bị can của cơ quan Cảnh sát điều tra trong thời gian qua.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của triết học Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Khoá luận sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp nghiên
cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu…
5. Kết cấu đề tài
Khoá luận gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục
các tài liệu tham khảo. Phần nội dung của khoá luận gồm 2 chương sau:
Chương 1: Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của chuẩn bị hỏi cung bị can
Chương 2: Thực trạng chuẩn bị hỏi cung bị can và một số kiến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA CHUẨN BỊ HỎI
CUNG BỊ CAN
1.1. Khái niệm chuẩn bị hỏi cung bị can
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, một người sẽ trở thành bị can
khi bị CQĐT có đủ căn cứ xác định họ đã thực hiện tội phạm và ra quyết định
khởi tố bị can. Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Bị can là người đã bị
khởi tố về hình sự”. Đó là những người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự,
xâm hại đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, bị CQĐT hoặc Viện kiểm
sát khởi tố và áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết để tiến hành điều tra.
Hoạt động điều tra được tiến hành đầu tiên bằng biện pháp hỏi cung bị
can - đó là biện pháp điều tra công khai trực diện với bị can nhằm làm rõ sự thật
của toàn bộ vụ án và được khoa học điều tra tội phạm đánh giá là biện pháp tố
tụng quan trọng nhất của hoạt động điều tra. Đồng thời, xuất phát từ bản chất
cũng như mục đích của hoạt động hỏi cung bị can mà hỏi cung bị can được hiểu
là “biện pháp điều tra được tiến hành nhằm thu thập lời khai của bị can về các
.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, lời khai và lời nhận tội của bị
can là chứng cứ pháp lí quan trọng. Giá trị chứng cứ càng cao nếu trong lời khai
của bị can chứa đựng càng nhiều chi tiết về hành vi phạm tội, phương thức và
thủ đoạn gây án. Để thu được kết quả tốt về những lời cung khai của bị can, giai
đoạn chuẩn bị hỏi cung cần phải tiến hành một cách khoa học và công phu.
1.2. Nội dung cơ bản của chuẩn bị hỏi cung bị can
Thực tiễn hoạt động điều tra cho thấy chuẩn bị chi tiết, cụ thể cho cuộc
hỏi cung đảm bảo hiệu quả của cuộc hỏi cung. Bởi vì, hỏi cung bị can là một
biện pháp điều tra phức tạp, trong nhiều trường hợp xảy ra mâu thuẫn gay gắt
giữa một bên là ĐTV mong muốn làm rõ sự thật của vụ án và một bên là bị can
luôn tìm cách cản trở quá trình làm rõ sự thật đó nhằm trốn tránh trách nhiệm
hình sự.
Chính vì vậy, chuẩn bị hỏi cung bị can là một việc làm cần thiết nhằm tạo
cho ĐTV thế chủ động, linh hoạt, sáng tạo áp dụng những thủ thuật hỏi cung
phù hợp trong từng tình huống cụ thể để thu thập lời khai của bị can một cách
đầy đủ, chính xác và khách quan. Thậm chí, hoạt động chuẩn bị cho mỗi buổi
hỏi cung có thể giúp ĐTV nhận định được thái độ khai báo của bị can là thành
khẩn hay không thành khẩn, bị can ngoan cố từ chối khai báo hay khai báo gian
dối bằng cách nghiên cứu các hồ sơ, tài liệu phản ánh đặc điểm nhân thân của bị
can như trích lục tiền án, tiền sự, hồ sơ những vụ án do bị can gây ra trước
đây… để dự đoán được thái độ khai báo của bị can trước mỗi buổi hỏi cung.
Mặt khác, nếu qua các buổi hỏi cung trước, ĐTV đã xác định được thái độ của
bị can là không thành khẩn khai báo hoặc khai báo gian dối, vòng vo thì việc
1
. Xem: Giáo trình khoa học điều tra hình sư - Trường ĐHL Hà Nội - NXB CAND Hà Nội. Tr90.
chuẩn bị chu đáo cho cuộc hỏi cung tiếp sau sẽ tạo điều kiện cho ĐTV chủ động
áp dụng những thủ thật hỏi cung phù hợp để thu thập lời khai của bị can một
cách đầy đủ và chính xác. Ngược lại, nếu không làm tốt công tác chuẩn bị hỏi
cung, ĐTV sẽ không xác định được chính xác phạm vi những vấn đề cần phải
kiểm tra và đánh giá lời khai của bị can ngay trong quá trình hỏi cung để trên cơ
sở đó nhanh chóng có đối sách phù hợp.
1.2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung vừa nêu trên, trong quá trình nghiên cứu, ĐTV
cần tổng hợp và phân loại các tài liệu chứng cứ theo nội dung hay theo ý nghĩa
của những tài liệu chứng cứ đó đối với hỏi cung bị can. Trong quá trình nghiên
cứu, ĐTV cần đối chiếu so sánh những tài liệu chứng cứ với nhau để tìm ra
những mâu thuẫn nếu có.
Đặc biệt chú ý, trong quá trình nghiên cứu, ĐTV cần có tác phong làm
việc cụ thể, tỷ mỷ, khách quan và thận trọng, không được bỏ qua bất cứ tài liệu
nào. Mặt khác, ĐTV cần nhớ rằng, việc nghiên cứu những tài liệu chứng cứ đã
thu thập được về vụ án hoặc hành vi phạm tội của bị can và những tài liệu chứng
cứ khác có ý nghĩa đối với hỏi cung được tiến hành không chỉ ở giai đoạn chuẩn
bị hỏi cung mà còn xuyên suốt quá trình hỏi cung.
Có thể nói, phương pháp mà ĐTV áp dụng chủ yếu để nghiên cứu hồ sơ
vụ án và các tài liệu khác có liên quan là phương pháp nghiên cứu tài liệu,
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp. Mỗi
phương pháp đều có những ưu thế nhất định, do đó trong quá trình sử dụng,
ĐTV cần biết cách kết hợp các phương pháp đó nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
cho việc nghiên cứu.
1.2.1.3. Nội dung nghiên cứu
Để nắm bắt được sơ bộ nội dung vụ án, những chứng cứ tình tiết và các
tài liệu khác cần thiết có liên quan đến việc chứng minh lời khai của bị can và
đấu tranh với bị can trong quá trình hỏi cung làm rõ sự việc phạm tội của bị can,
ĐTV cần phải nghiên cứu các tài liệu sau:
- ĐTV cần nghiên cứu kỹ những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được từ
những biện pháp điều tra như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả
khám xét, lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, người
bị hại, kết quả nhận dạng, kết luận của giám định viên, của thanh tra…
- Những tài liệu thu thập được từ những biện pháp trinh sát phản ánh
trình hỏi cung. ĐTV cũng phải tập trung xác định những thông tin, tài liệu nào là
chứng cứ, mức độ chứng minh và giá trị pháp lí của nó; xác định xem tài liệu đó
có còn giữ được bí mật với bị can hay không. Đồng thời, khi nghiên cứu hồ sơ,
ĐTV cũng cần phải phát hiện những mâu thuẫn giữa các tài liệu đó cũng như
các khiếm khuyết của nó; mâu thuẫn trong lời khai của bị can với lời khai của
người có liên quan (như người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan tới vụ án…) qua đó tìm hiểu nguyên nhân của nó để xác định
được những vấn đề cần làm rõ khi tiến hành hỏi cung. Nếu thấy cần thiết, ĐTV
cần phối hợp với các lực lượng, cơ quan, tổ chức có liên quan để thu thập đầy đủ
thông tin phục vụ cho quá trình hỏi cung bị can được nhanh chóng và hiệu quả.
Có thể nói nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án và các tài liệu khác có liên quan là
một trong những tiền đề quan trọng để ĐTV phá án. Ví dụ như vụ án Nguyễn
Văn Tám cùng đồng bọn buôn bán ma túy
1
(Nam Định – 2000) gây xôn xao dư
luận trên cả nước và là vụ án điển hình thể hiện vai trò quan trọng của việc
nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án và các tài liệu khác có liên quan trước khi hỏi cung
lấy lời khai của bị can. Khi bị bắt và trong quá trình điều tra, bị can Tám luôn
một mực nói: “Tôi chẳng có tội gì”. Nhưng trước những tài liệu, chứng cứ
không thể chối cãi được về bị can mà ĐTV đã thu thập, nghiên cứu, cuối cùng bị
can đã khai nhận hoàn toàn tội lỗi của mình.
1.2.2. Nghiên cứu nhân thân bị can
1.2.2.1. Mục đích nghiên cứu
Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh chống tội phạm không thể đạt kết quả
cao nếu các cơ quan trực tiếp làm nhiệm vụ này lại không hiểu đối tượng mà
mình đấu tranh có những đặc điểm gì để từ đó đề ra phương pháp cũng như
chiến thuật, chiến lược phù hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu nhân thân bị can, làm
rõ các phẩm chất tiêu cực vốn có ở bị can như các đặc điểm tâm lý, quan điểm,
nhận thức cuộc sống, nhu cầu, sở thích, thói quen… có ý nghĩa rất to lớn về mặt
thực tiễn.
Để việc quan sát đạt hiệu quả, ĐTV cần xác định cụ thể mục đích quan
sát, có chương trình, kế hoạch quan sát, thời gian, địa điểm quan sát. Hơn nữa,
ĐTV phải là người có năng lực quan sát tốt, nhanh chóng, nhạy bén phát hiện
vấn đề, có khả năng hệ thống hóa và so sánh các kết quả quan sát với kết quả do
các phương pháp khác đem lại.
- Phương pháp nghiên cứu lai lịch, tiểu sử. Là phương pháp dựng lại chân
dung của bị can thông qua việc hệ thống hóa các quan hệ xã hội của bị can. Các
quan hệ của bị can có thể là quan hệ gia đình, bạn bè, quan hệ trong công việc
hay với đồng bọn trong quá trình phạm tội… Qua việc dựng lại các quan hệ trên,
ĐTV có cơ sở nắm bắt các đặc điểm của bị can như: Trình độ học vấn, nghề
nghiệp, kinh nghiệm, vốn sống xã hội, quan điểm chống đối…
Khi sử dụng phương pháp này, ĐTV cần: Quan tâm tới các mối quan hệ
có ảnh hưởng, tác động lâu dài nhất đến bị can. Đây là các mối quan hệ quy định
nội dung và phẩm chất của các đặc điểm tương đối ổn định trong nhân cách bị
can; những biến cố và sự thay đổi lớn trong quá trình sống và hoạt động của bị
can; thái độ đáp lại của bị can trước tác động của các mối quan hệ đó, bị can tiếp
nhận một cách tiêu cực hay tích cực.
Để việc nghiên cứu có hệ thống các đặc điểm nhân thân của bị can, ĐTV
cần thu thập, xác minh và bổ sung thêm nhiều tài liệu làm phong phú và hoàn
chỉnh về tiểu sử, lai lịch của bị can đó. ĐTV phải hệ thống hóa được các mối
quan hệ nói lên: Hoàn cảnh sống của bản thân và gia đình bị can (bị can được
sinh ra và lớn lên ở đâu, hoàn cảnh kinh tế của bị can và gia đình, thái độ chính
trị của bị can và các thành viên trong gia đình…); quá trình hoạt động của bị
can, quá trình tiếp nhận và hình thành ý thức, tư tưởng, quan điểm, lối sống và
con đường dẫn tới phạm tội; hệ thống các quan hệ xã hội, nhất là các quan hệ
phức tạp, tiêu cực có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, quan điểm chống đối của
bị can.
- Phương pháp nghiên cứu hoạt động của bị can. Đây là phương pháp
nghiên cứu nhân thân bị can dựa vào các mặt hoạt động mà bị can đã thực hiện.
Sử dụng phương pháp này cho phép ĐTV biết được về nhu cầu, nguyện vọng, tư
Bởi những hiểu biết về đặc điểm nhân thân của bị can chính là những điều kiện
cần thiết để đánh giá cơ sở tâm lí và tính xác thực của lời khai.
“Nhân thân bị can” - thuật ngữ này được hình thành từ khái niệm chung
của xã hội học “nhân thân con người” và khái niệm pháp lí hình sự “bị can”.
Nhân thân là khái niệm đặc trưng chỉ được sử dụng khi nói về bản chất của thực
thể tự nhiên, xã hội đặc biệt đó là con người. Sự hình thành nhân thân của một
người chịu sự tác động bởi chính sự tồn tại của cá nhân người đó. Những kinh
nghiệm sống của họ được quy định bởi nội dung của những quan hệ được hình
thành trong gia đình, môi trường bạn bè, trong tập thể lao động, học tập. Có thể
nói, nhân thân con người chính là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu phản ánh bản
chất xã hội của con người.
Dưới góc độ pháp lí thì “bị can” được hiểu là những người có hành vi vi
phạm pháp luật, xâm hại đến khách thể nhất định được Pháp luật Hình sự bảo
vệ, bị CQĐT hoặc Viện kiểm sát khởi tố về hình sự và có thể bị áp dụng các
biện pháp ngăn chặn cần thiết để tiến hành điều tra. Cụ thể, theo quy định của
Pháp luật Tố tụng hình sự, một người sẽ trở thành bị can khi CQĐT có đủ căn
cứ xác định họ đã thực hiện tội phạm (Khoản 1, Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình
sự 2003) và bị CQĐT ra quyết định khởi tố về hình sự (Điều 104 Bộ luật Tố
tụng hình sự 2003).
Như vậy, nhân thân bị can là tổng hợp toàn bộ các đặc điểm, các phẩm
chất của bị can có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra hình sự, được CQĐT
nghiên cứu, sử dụng phục vụ cho hoạt động điều tra làm rõ sự thật của vụ án.
Trong lý luận khoa học điều tra tội phạm, việc thu thập, nghiên cứu những
đặc điểm nhân thân của bị can được coi là một nhiệm vụ quan trọng mà ĐTV
phải giải quyết tốt trước khi tiến hành hỏi cung bị can. Nghiên cứu nhân thân bị
can để tìm ra nguyên nhân bị can phạm tội, đặc biệt là khi bị can từ chối khai
báo hay khai báo gian dối có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động điều
tra vụ án. Để khai thác được ý nghĩa cũng như vai trò quan trọng của đặc điểm
nhân thân bị can đối với chuẩn bị hỏi cung bị can thì ĐTV cần thu thập các tài
liệu nhằm làm rõ những dấu hiệu đặc trưng của nhân thân bị can như:
của bị can, biết bị can là người có nhiều năm công tác trong ngành công an, đã
trải qua nhiều bộ phận nghiệp vụ khác nhau, lại có trình độ học vấn cao. Do đó
ĐTV được chọn là một người có thâm niên công tác, nắm chắc về kỹ năng,
nghiệp vụ đã nhắc lại và khôn khéo giải thích bằng pháp luật, chính sách hình sự
của Nhà nước vừa sắc bén, vừa lịch thiệp và thuyết phục bị can khai nhận hành
vi phạm tội của mình. Cuối cùng sau nhiều ngày đấu tranh không khoan nhượng
Thà đã nhận tội.
1
. Xem: Bản án HSST số 39 v/v Tô Ngọc Thà cùng đồng bọn mua bán trái phép chất ma túy - TAND Tỉnh Nam
Định.
Đối với bị can vị thành niên, ĐTV cần xác định tuổi, mức độ phát triển
về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của bị can; điều
kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người lớn xúi giục; nguyên nhân và
điều kiện phạm tội. Chẳng hạn, nghiên cứu độ tuổi của con người cho thấy: lời
khai của em bé 3-4 tuổi thường không đánh giá được, có chăng thì cũng phải hỏi
ngay sau khi sự việc vừa xảy ra. Còn các em bé từ 5-6 tuổi đã có thể nhớ những
sự kiện xảy ra trước đó hàng tuần. Các em từ 7-10/11 tuổi được coi như là nhân
chứng “lý tưởng”. Đối với các em ở trước tuổi dậy thì hoặc trong độ tuổi dậy thì
từ 12-14/15 tuổi thì dễ bị xúc động, có những mơ ước và mong đợi. Trí tưởng
tượng cũng phát triển theo hướng này và bắt đầu xuất hiện những lời khai dối có
ý thức đầu tiên. Như vậy, việc nghiên cứu độ tuổi sẽ phản ánh được chất lượng
lời khai của bị can qua đó có thể đánh giá được bị can khai thật hay khai dối
nhất là đối với các bị can vị thành niên.
ĐTV được giao nhiệm vụ trước khi xác định, lựa chọn được thủ thuật đấu
tranh với từng loại bị can có hiệu quả thì phải dành thời gian, công sức thoả
đáng, áp dụng mọi biện pháp có thể để thu thập đầy đủ mọi thông tin cần thiết
về đặc điểm nhân thân của bị can. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể xác định được kế
hoạch đấu tranh với bị can nói chung và với những bị can không thành khẩn
khai báo, khai báo gian dối nói riêng một cách có hiệu quả nhất.
Yêu cầu đối với ĐTV trong quá trình nghiên cứu nhân thân của bị can là
- Tác động tâm lý nhằm đảm bảo cho việc xác định sự thật một cách đầy
đủ, khách quan trong quá trình hỏi cung bị can.
Xác định sự thật về sự việc phạm tội luôn là mục đích cao nhất và xuyên
suốt quá trình tác động tâm lý đối với những người liên quan đến hoạt động điều
tra nhất là đối với bị can. Để xác định sự thật về sự việc phạm tội, CQĐT mà cụ
thể là ĐTV được giao nhiệm vụ tiến hành hỏi cung phải bằng nhiều biện pháp,
dựa vào nhiều tài liệu chứng cứ khác nhau. Cùng với các vật chứng, kết luận
giám định… lời khai của bị can đến vụ án luôn được coi là một nguồn chứng cứ
quan trọng.
1
. Xem: TS. Trương Công Am - Tác động tâm lý trong hoạt động điều tra hình sự - NXB CAND. Hà Nội.
Tr19.
Lời khai của bị can được quy định tại Điều 72 Bộ Luật tố tụng Hình sự
2003. Thực tiễn hoạt động hỏi cung bị can cho thấy, bị can là người hiểu rõ về
hành vi phạm tội của mình, nhưng do bản chất ngoan cố nên thường quanh co,
gian dối hay tìm cách đổ tội cho đồng bọn, cho người khác. Ngược lại, có
trường hợp bị can không có tội nên đã trình bày những sự việc để thanh minh,
bào chữa lại lời buộc tội đối với mình. Do đó, cần thiết phải sử dụng tác động
tâm lý để giúp bị can thấy được ý nghĩa quan trọng của việc khai báo thành khẩn
đối với việc giải quyết vụ án và với chính bản thân bị can. Bởi nếu bị can hiểu
được việc khai báo đúng sự thật, sự ăn năn hối cải, giúp CQĐT giải quyết và
hoàn thành nhanh chóng vụ án thì sẽ được hưởng chính sách khoan hồng của
Đảng và Nhà nước. Tác động tâm lý sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc thu
thập thông tin đầy đủ và chính xác của ĐTV về các sự kiện cần thiết từ bị can
liên quan đến vụ án trong quá trình hỏi cung.
- Tác động tâm lý nhằm khắc phục những động cơ tiêu cực, khơi dậy
những động cơ tích cực ở bị can, tạo điều kiện cho việc xác lập chứng cứ thông
qua lời khai của bị can được nhanh chóng, đúng đắn và khách quan.
Là chủ thể của tội phạm, bị can là chủ sở hữu một lượng thông tin tương
đối lớn về vụ án. Hơn ai hết bị can biết rất rõ về toàn bộ quá trình chuẩn bị, thực
Tác động tâm lý bị can có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp
khác nhau. Song cần căn cứ vào thực tiễn hỏi cung, điều kiện vật chất kỹ thuật
và tác dụng của từng phương pháp để xác định những phương pháp phù hợp với
từng trường hợp cụ thể, nhằm giúp ĐTV trong quá trình hỏi cung nắm bắt kịp
thời, chính xác về tâm lý bị can, nhất là các đặc điểm tâm lý có ý nghĩa chi phối
tới hoạt động khai báo của bị can, trên cơ sở đó lựa chọn, sử dụng các phương
pháp hỏi cung có hiệu quả.
Khi sử dụng các phương pháp tác động tâm lý bị can, ĐTV phải sử dụng
tổng hợp nhiều phương pháp, không nên chỉ đơn thuần sử dụng một phương
pháp nào đó. Bởi mỗi phương pháp chỉ có thể giúp ĐTV tác động tới tâm lý bị
can ở một góc độ nào đó. Sử dụng kết hợp nhiều phương pháp sẽ giúp ĐTV có
thể tác động tâm lý một cách tổng thể và hiệu quả tới bị can. Các phương pháp
mà ĐTV sử dụng có thể là:
1
. Xem: TS. Trương Công Am - Tác động tâm lý trong hoạt động điều tra hình sự - NXB CAND. Hà Nội.
Tr27.
- Phương pháp phân tích thuyết phục. Phân tích thuyết phục là sự thông
báo với mục đích thay đổi hoặc tạo nên những quan điểm, thái độ mới ở người
bị tác động tâm lý. Đó là sự giải thích, khuyên nhủ bằng lý lẽ; lập luận bằng
logic và trong một số trường hợp có thể lôi kéo đối tượng bị tác động vào khuôn
khổ nhất định của sự tranh luận về những vấn đề nào đó.
Để sự phân tích thuyết phục có hiệu quả, ĐTV khi vận dụng phương pháp
này cần chú ý các vấn đề sau:
+ Phải nghiên cứu, nắm vững các đặc điểm tâm lý của bị can, nhất là đối
với bị can đang có động cơ khai báo không tích cực. Phải phân tích, hiểu rõ tính
chất, mức độ bền vững của mỗi động cơ, nguồn gốc nảy sinh các động cơ đó.
+ Việc lựa chọn bố trí ĐTV thực hiện thuyết phục phải phù hợp với bị can
cả về tuổi tác, trình độ nhất là trường hợp bị can là người có trình độ học vấn
cao, có vị trí nhất định trong xã hội. ĐTV phải là người có trình độ vững vàng,
am hiểu tâm lý, có khả năng lý giải, phân tích các vấn đề một cách lôgic, mạch
giá trị và có tính xác thực, đảm bảo có liên quan chặt chẽ đối với sự việc phạm
tội và hành vi che giấu tội phạm của bị can và chắc chắn phải gây được phản
ứng cần thiết khi sử dụng. Ngoài ra, việc truyền đạt thông tin phải đảm bảo yếu
tố bất ngờ cả về nội dung và thời điểm tác động mới dễ dàng làm thay đổi cảm
xúc và trạng thái tâm lý của bị can.
- Phương pháp tác động tình cảm. Tác động tình cảm là phương pháp tác
động tâm lý được tiến hành bằng cách sử dụng các yếu tố, các quan hệ tình cảm
để tác động đến bị can nhằm làm thay đổi tâm trạng, tình cảm của họ, phục vụ
các yêu cầu điều tra vụ án.
Trong quá trình tác động tâm lý, ĐTV sử dụng những tác động tình cảm
từ gia đình, từ bạn bè hay từ những người có uy tín… kết hợp với chính cách xử
sự của mình để tạo nên quan hệ tâm lý tích cực với bị can. ĐTV cũng khơi dậy ở
bị can những tình cảm tốt với vai trò là động cơ thúc đẩy sự thành khẩn và thái
độ hợp tác tích cực với CQĐT, góp phần xóa bỏ những mặc cảm xấu, những tâm
trạng buồn chán, thất vọng, tình cảm chống đối ở họ.
Ví dụ như vụ án Lê Xuân Trường (Hải Phòng) đã gây xôn xao dư luận
năm 2006, ĐTV đã phải sử dụng phương pháp tác động tình cảm để khuất phục
Trường. Trường là một tay sát thủ máu lạnh, nghề chính của hắn là cướp của,
giết người… Giữa năm 2006, Trường dùng súng bắn chết anh Bùi Văn Mười
trên đường từ Đồ Sơn về Cầu Đất để đồng bọn cướp xe máy. 10h ngày
30/11/2006, Trường cùng đồng bọn đi xe máy đến trước cửa nhà nghỉ Thanh
Tươi, xã An Hưng, huyện An Dương. Nhìn thấy anh Bảo, người có mâu thuẫn
với Trường trước đây, Trường chẳng nói chẳng rằng, bước xuống xe và gí súng
bắn vào đầu anh Bảo rồi bỏ trốn khỏi Hải Phòng. Công an Hải Phòng lập tức
phát lệnh truy nã đặc biệt và bắt được Trường vào cuối năm 2006 khi Trường và
đàn em đang đi trên đường Giảng Võ - Đê La Thành. Hơn một tuần sau khi bị
bắt, Trường không hé răng nói nửa lời, hắn dùng chiến thuật “đổ bê tông” để cố
thủ. Trước tình hình như vậy, các ĐTV đã chuyển sang nghiên cứu sâu hơn về
đặc điểm nhân thân, đời tư, cuộc sống hôn nhân của Trường và biết được vợ
Trường mới sinh con trai. Các ĐTV đã đến thăm, hỏi han, động viên gia đình,
Hơn nữa, lập kế hoạch hỏi cung còn có vị trí rất quan trọng nhất là trong
những vụ án xảy ra kéo dài, có nhiều đối tượng tham gia, trong quá trình hỏi
cung cần phải sử dụng nhiều tài liệu, chứng cứ để đấu tranh với thái độ ngoan cố
không chịu khai báo hay cố tình khai báo gian dối của bị can. Trong những
trường hợp này, không những lập kế hoạch hỏi cung tất cả những bị can của vụ
án nói chung mà còn lập kế hoạch hỏi cung từng bị can trong từng bước, từng
ngày và từng lần hỏi cung.
1.2.4.1. Mục đích lập kế hoạch
Thực tế hỏi cung bị can đã chứng minh trong cuộc đấu tranh về lý trí và ý
chí giữa ĐTV và bị can, ĐTV chỉ có thể giành thắng lợi và ở thế chủ động khi
ĐTV đã lập được một bản kế hoạch hỏi cung cụ thể và chi tiết. Lập kế hoạch hỏi
cung giúp cho ĐTV sắp xếp và hệ thống được các vấn đề cũng như những tài
liệu mà mình đã thu thập được để đấu tranh với bị can. Thông qua đó, ĐTV sẽ
biết được nên dùng tài liệu nào trước, tài liệu nào sau, tài liệu nào có tác động
mạnh mẽ nhất đến việc hình thành lời khai của bị can. Như vậy, sẽ đảm bảo cho
quá trình hỏi cung bị can được nhanh chóng và hiệu quả.
Lập kế hoạch hỏi cung đảm bảo cho tiến trình hỏi cung được diễn ra theo
một trình tự hợp lý và hiệu quả. Bởi nếu không có kế hoạch hỏi cung sẽ dẫn đến
việc hỏi cung thiếu hệ thống, hỏi không đầy đủ, hỏi nhiều lần… gây ảnh hưởng
xấu tới kết quả hỏi cung. Lập kế hoạch hỏi cung chi tiết, cụ thể sẽ đảm bảo cho
các thông tin mà ĐTV muốn truyền đạt, những câu hỏi mà ĐTV dự kiến để thu
thập sự thật từ bị can trong từng trường hợp cụ thể không bị xáo trộn và bảo đảm
được tính thống nhất, tính giá trị của lời khai.
1.2.4.2. Căn cứ lập kế hoạch
Kế hoạch hỏi cung là sự chuẩn bị về mọi mặt cần thiết để đảm bảo tiến
trình tố tụng của một cuộc hỏi cung. Kế hoạch hỏi cung không đơn thuần là sự
chuẩn bị về vật chất mang tính chủ quan của ĐTV mà nó phải dựa vào những
căn cứ, những cơ sở khách quan và hợp lý. Có như vậy, ĐTV mới phát huy
được hết vai trò của bản kế hoạch hỏi cung đối với hỏi cung bị can. Để lập được
một bản kế hoạch hỏi cung chi tiết, sát thực có thể dựa vào các căn cứ sau:
hoạch hỏi cung phải nêu được những vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình hỏi
cung. Đó là những tình tiết mà bị can biết, có liên quan tới vụ án như: Nội dung
của vụ án, hành vi phạm tội của bị can và đồng bọn, nguyên nhân, điều kiện làm
phát sinh, nảy sinh tội phạm .v.v. Khi xác định những vấn đề nêu trên, ĐTV cần
phải căn cứ vào quy định tại Điều 63 của Bộ luật tố tụng Hình sự 2003 về những
vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự. Ngoài ra, khi hỏi cung bị can
là những người chưa thành niên phạm tội, ĐTV còn phải thu thập các chứng cứ
nhằm làm rõ những vấn đề khác được quy định tại Điều 302 Bộ luật tố tụng
Hình sự 2003. Là chủ thể của tội phạm, bị can biết rất nhiều tình tiết của vụ án.
Chính vì vậy, tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể, những vấn đề cần phải làm
rõ trong quá trình hỏi cung có thể bao gồm tất cả những tài liệu, chứng cứ chứng
minh các yếu tố cấu thành tội phạm, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can, những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội
phạm, những tin tức và tài liệu khác có ý nghĩa đối với công tác điều tra và
phòng ngừa tội phạm…
Những vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình hỏi cung có thể được điều
chỉnh, bổ sung trong quá trình hỏi cung trên cơ sở lời khai của bị can, những tài
liệu chứng cứ về vụ án và hành vi phạm tội của bị can đã thu thập được từ các
biện pháp điều tra khác như: Khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám
định…
Khi xác định những vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình hỏi cung, ĐTV
phải đặt ra cho mình nhiệm vụ thu thập những tin tức, tài liệu để xác định vai