SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"SỬ DỤNG CÂU HỎI NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG GIẢNG
DẠY SINH HỌC THPT "
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1. Lí do chọn sáng kiến
Trong dạy học câu hỏi có những vai trò rất quan trọng:
+ Dùng câu hỏi để “mã hoá” nội dung sách giáo khoa.
+ Kích thích định hướng nhận thức tri thức mới, phát huy tính tích cực, chủ động sáng
tạo trong học tập của học sinh.
+ Giúp học sinh tự lĩnh hội kiến thức một cách có hệ thống.
Như vậy có thể dùng câu hỏi để tổ chức học tập cho học sinh giúp học sinh tự chiếm lĩnh
tri thức mới, rèn luyện các thao tác tư duy tích cực sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp học
tập để học sinh tự học.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, đối tượng quan sát trong dạy học sinh học là các
sơ đồ, hình vẽ, mẫu vật tự nhiên, các thí nghiệm…Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi để
hướng dẫn học sinh quan sát phương tiện trực quan để kích thích quan sát chú ý , khơi
dậy ở học sinh tính tò mò khoa học, phát hiện những băn khoăn, thắc mắc của học sinh,
tạo tình huống có vấn đề.
Trong thời đại kinh tế vốn tri thức của nhân loại ngày càng nhiều, không những thế còn
luôn luôn đổi mới. Xu hướng chính của chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo là: Giáo
dục định hướng vào học tập, hoạt động nhận thức của học sinh. Do vậy mà phải có
phương pháp giáo dục, dạy học phù hợp, hiệu quả.
Trong dạy học thì câu hỏi có vai trò rất quan trọng. Có câu hỏi tốt là cơ sở cho việc sử
dụng các phương pháp dạy học khác có hiệu quả. Thực trạng của việc xây dựng câu hỏi
2
trong dạy học nói chung và trong dạy học sinh học nói riêng đã khẳng định cần phải rèn
luyện kĩ năng xây dựng câu hỏi trong dạy học sinh học là một vấn đề cấp bách và cần
thiết.
Xuất phát từ mục đích đó, là giáo viên ai cũng trăn trở, làm sao phải tìm ra cho mình một
- Xử lí kết quả thực nghiệm.
- Phân tích định lượng: Các bài kiểm tra thu được chấm theo thang điểm số 10.
- Phân tích định tính: + Phân tích nội dung bài kiểm tra của học sinh để đánh giá chất
lượng câu trả lời, mức độ hiểu sâu sắc kiến thức, từ đó đánh giá khả năng quan sát, chú ý,
mức độ tích cực trong giờ học.
+ Quan sát sư phạm để tìm hiểu hứng thú học tập của học sinh.
II. GIẢI QUYẾT VẦN ĐỀ
II.1. Cơ sở
II.1.1. Cở sở lí luận
Hỏi là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời để mình biết về vấn đề nào đó.
4
Câu hỏi: Aristotle là người đầu tiên đã phân tích câu hỏi dưới góc độ lôgic, ông cho rằng:
“Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết”. Câu hỏi đó là
những bài làm mà khi hoàn thành chúng, học sinh phải tiến hành hoạt động tái hiện, bất
luận là trả lời miệng, trả lời viết hoặc có kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực
nghiệm.
Khái niệm câu hỏi cũng còn được diễn đạt dưới dạng khác như: câu hỏi là dạng cấu trúc
ngôn ngữ, diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh cần được giải quyết.
Câu hỏi thuộc phạm trù khả năng; nó chứa đựng cả hai yếu tố, sự có mặt của cái không rõ
và nguyện vọng nhu cầu của người muốn hỏi.
Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng về dấu hiệu bản chất của câu hỏi, đều được
các tác giả nêu ra, đó là: xuất hiện điều chưa rõ, cần được giải quyết từ điều đã biết.
Trong đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con người chỉ nêu ra thắc mắc,
tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biết thêm. Nếu khi không biết gì hoặc biết
tất cả về sự vật nào đó, thì không có gì để hỏi về sự vật đó nữa. Sự tương quan giữa cái
biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người.
Ví dụ: Khi nêu “Tổ chức của hệ thống sống” chưa phải là câu hỏi, vì chưa thể hiện điều
muốn người khác trả lời là gì, chưa dựa vào cơ sở nào để trả lời. Nêu như trên là chưa chỉ
rõ nhiệm vụ cần giải quyết và chưa rõ điều cần giải quyết đó là dựa vào những kiến thức
nào.
quá trình…Do đó mà chưa hình thành được ở học sinh năng lực quan sát.
II.2. Giải quyết vấn đề
II.2.1. Thành phần câu hỏi
Như phần khái niệm về câu hỏi ta thấy: Câu hỏi chứa đựng điều đã biết và điều cần tìm.
Trong câu hỏi, điều đã cho và điều cần tìm luôn luôn phải quan hệ chặt chẽ với nhau, cho
đến đâu sẽ tìm được đến đó hay nói cách khác, điều cần tìm chỉ có thể thực hiện được khi
dựa vào điều đã cho và phải cho đầy đủ. Điều đã cho là rộng và khái quát thì điều tìm
được cũng khái quát; điều cần tìm càng cụ thể, chi tiết thì điều tìm được cũng cụ thể, chi
tiết.
Ví dụ: Nếu hỏi: Nhìn vào hình 1 (Sách giáo khoa Sinh học 10 Cơ bản) em có nhận xét
gì ? Học sinh sẽ trả lời rất rộng, thuộc nhiều lĩnh vực như hình có rõ, đẹp, nội dung mỗi
hình là gì. Điều kiện cho ở đây là hình 1, tuỳ mức độ hiểu của người trả lời.
Nhưng nếu hỏi: Quan sát hình 1, em thấy sự sống có cấu trúc theo các cấp độ như thế
nào? Học sinh chỉ trả lời về các cấp độ tổ chức sống (trả lời các lĩnh vực khác là sai).
Điều kiện cho là hình 1, về các cấp tổ chức sống từ thấp (phân tử) đến cao (sinh quyển).
Nếu hỏi: Quan sát hình 1, em thấy vật không sống khác sinh vật ở điểm nào ? Trong câu
hỏi này điều đã cho và điều cần tìm không phù hợp với nhau, nên không trả lời được.
Cũng cùng hình 1 đã nêu, nhưng muốn hỏi được nhiều vấn đề và mỗi vấn đề thuộc những
khía cạnh khác nhau, người ta dùng cách diễn đạt khác bằng cách cho biết nhiều điều kiện,
hỏi nhiều vấn đề, diễn đạt nhiều mệnh đề khác nhau. Chẳng hạn như: đọc mục I, nghiên
cứu hình 1 và cho biết:
– Sự sống được cấu tạo theo các cấp độ từ thấp đến cao như thế nào?
7
– Cấp độ tổ chức vật chất sống, khác cấp độ tổ chức hệ thống sống như thế nào?
– Cấp độ tổ chức biểu hiện ở hình 2, giống cấp độ tổ chức biểu hiện ở hình 6 như thế
nào?
– Dựa vào cơ sở nào xếp tế bào trong cơ thể đa bào và mô vào cấp độ tổ chức của hệ
thống sống?
Trong bài tập vừa nêu, điều kiện cho bao gồm: các loại cấp độ tổ chức của sự sống, các
cấp độ tổ chức sống của từng loại và đặc điểm của mỗi cấp độ tổ chức, các ví dụ minh
nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau.
Trong phạm vi của chuyên đề này, chúng ta chỉ nghiên cứu sâu vào việc sử dụng câu hỏi,
bài tập để tổ chức hoạt động nhằm khám phá kiến thức mới hình thành kĩ năng mới, qua
đó phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động và hình thành nhân cách.
II.2.3.1. Sử dụng câu hỏi để tạo tình huống học tập
Con người hoạt động khi có nhu cầu, nhu cầu có được khi đứng trước một nhiệm vụ cần
được giải quyết. Do đó giáo viên cần xác định rõ nhiệm vụ nhận thức và diễn đạt nhiệm
vụ nhận thức đó bằng câu hỏi. Khi đó câu hỏi là phương tiện để tạo tình huống học tập.
9
Ta có thể sử dụng câu hỏi để tạo các tình huống trong dạy học Sinh học nói chung, Sinh
học 11 nói riêng như sau:
Giáo viên có thể đưa ra tình huống: Tại sao cây non khi bị chiếu sáng từ một phía sẽ phát
triển thân theo hướng cong về phía ánh sáng? Học sinh chắc sẽ nhanh chóng trả lời đó là
vì cây có tính hướng quang. Tuy nhiên, nếu hỏi cơ chế nào dẫn đến cây sẽ bị cong đi như
vậy thì học sinh không dễ gì giải thích được. Việc đưa ra những tình huống mang tính
thách đố như vậy sẽ kích thích học tập và thi đua nhau tìm câu trả lời. Những em trả lời
được sẽ rất tự hào và nhớ kiến thức lâu và chắc, còn những em chưa trả lời được sẽ gắng
học hơn.
Ví dụ khác: Khi dạy bài 22 “Enzim và vai trò của enzim trong quá trình chuyển hoá vật
chất”, ta có thể nêu vấn đề học tập của bài này như sau:
Qua bài 8 ta đã biết: tinh bột và xenlulozơ đều được liên kết từ nhiều phân tử đường
glucozơ, chỉ khác nhau về cách liên kết, nhưng khi người ăn xenlulozơ vào cơ thể không
tiêu hoá được, mà tinh bột lại được tiêu hoá. Vì sao lại có hiện tượng như vậy?
II.2.3.2. Sử dụng câu hỏi để hình thành kiến thức, kĩ năng mới
Sử dụng câu hỏi để định hướng vấn đề học tập
Nhiều khi nghiên cứu một vấn đề có chứa đựng nhiều nội dung, người học không dễ gì xác
định được vấn đề nào là cơ bản, đặc điểm nào là bản chất. Do vậy giáo viên cần định hướng
cho người học bằng câu hỏi.
Ví dụ: Khi dạy bài 9 “Quang hợp ở các nhóm thực vật” Sinh học 11 Cơ bản, sau khi ghi
đầu bài lên bảng ta có thể định hướng vấn đề học tập như sau:
tự điều chỉnh cách học nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng và phát triển năng lực nhận
thức. Để giúp học sinh tự kiểm tra tốt nhất là sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan,
dạng nhiều lựa chọn.
Để học sinh tự kiểm tra kiến thức bài 4 (Sinh học 10 Cơ bản), ta có thể sử dụng bài tập sau:
Hãy ghép số thứ tự các câu đánh số từ I đến IV với các câu đánh số từ 1 đến 10 cho phù
hợp:
I. Đường đơn
II. Đường đa
III. Lipit
IV. Đường đôi
1. Saccarozơ
2. Glicôgen
3. Kitin
4. Xenlulozơ
5. Lactozơ
6. Galactozơ
7. Glucozơ
8. Photpholipit
9. Stêrôit
10. Dầu
II.2.4. Kĩ thuật thiết kế câu hỏi
12
Để thiết kế được câu hỏi đảm bảo các yêu cầu sư phạm, để sử dụng trong quá trình dạy
học cần thực hiện theo trình tự sau:
– Thứ nhất, phải xác định rõ và đúng của việc hỏi.
Mục tiêu hỏi được hiểu là mục tiêu của việc hỏi, nghĩa là muốn người học phải trả lời ở
mức độ nào về kiến thức, tư duy, kĩ năng. Như vậy, giáo viên phải nắm vững mục tiêu
bài dạy, nội dung bài dạy, biện pháp tổ chức thực hiện bài dạy và năng lực của học sinh.
– Thứ hai: liệt kê và sắp xếp những cái cần hỏi theo một trình tự phù hợp với trình độ các
hoạt động học tập.
2
.
• Sản phẩm đầu tiên khi khử CO
2
.
• Các giai đoạn của pha tối.
• Giải thích tên gọi của chu trình
• Ý nghĩa của chu trình.
3) Diễn đạt điều cần hỏi bằng câu hỏi:
Quan sát hình 9.2, SGK trang 41 và cho biết:
+ Hợp chất tham gia đồng hoá CO
2
là chất nào?
+ Sản phẩm đầu tiên khi khử CO
2
là gì? Có bao nhiêu cacbon trong phân tử?
+ Pha tối có những giai đoạn nào? Nêu đặc điểm của mỗi giai đoạn.
+ Tại sao lại có tên là thực vật C
3
? Chu trình C
3
có ý nghĩa gì?
14
4) Xác định các nội dung cần trả lời cho từng câu hỏi:
+ Hợp chất tham gia đồng hoá CO
2
là ribulôzơ -1,5-diphotphat.
+ Hợp chất ribulôzơ -1,5-diphotphat (có 5C) kết hợp với CO
2
tạo 2 phân tử APG có 3C.
3
, C
5
, C
6
… là nguyên
liệu để tổng hợp nên các sản phẩm quan trọng như đường, tinh bột, protein, lipit.
5) Chỉnh sửa lại câu hỏi và ý trả lời:
Xem lại câu hỏi và câu trả lời, chỉnh sửa lại nội dung cách diễn đạt cho phù hợp mục tiêu
(nếu cần).
II.2.5. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi
1) Đảm bảo nội dung khoa học, cơ bản, chính xác của kiến thức.
15
2) Phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh.
3) Phản ánh được tính hệ thống.
4) Phù hợp với trình độ đối tượng học sinh.
Tóm lại việc xây dựng các câu hỏi phải dựa trên các nguyên tắc trên. Tuy nhiên không
phải câu hỏi nào được xây dựng cũng phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc trên mà tuỳ
thuộc vào nội dung kiến thức của từng bài học.
5. Yêu cầu sư phạm của câu hỏi Sinh học
– Câu hỏi phải là công cụ, phương tiện trong dạy học. Câu hỏi phải là phương tiện để
hướng dẫn phương pháp học, hướng dẫn nội dung học, cũng như nội dung kiểm tra và tự
kiểm tra kết quả học tập.
– Câu hỏi phải mã hoá được lượng thông tin quan trọng đã trình bày dưới dạng thông
báo, phổ biến kiến thức thành dạng nêu ra vấn đề học tập.
Ví dụ: Khi học mục I, bài 5, Sinh học 10, Nâng cao, ta có thể mã hoá nội dung thông báo
trong mục I, bằng bài tập sau:
Qua nghiên cứu, người ta đã xác định được động vật có những đặc điểm trái ngược với
thực vật như ở bảng sau:
Đặc điểm Thực vật Động vật
đồng thời về tri thức là nhớ được các cấp độ tổ chức sống mà các nhà khoa học đã phân
chia.
+ Câu hỏi quan trọng hơn là: Mỗi cấp độ tổ chức sống có đặc điểm đặc trưng như thế
nào? Dựa vào cơ sở nào mà chia các cấp độ như vậy? Hiểu được các cấp tổ chức sống có
giá trị gì?
Ba câu hỏi sau mới là điều cơ bản, vì đó là nội dung cốt lõi, nội dung bản chất, nếu liệt
kê được đủ các cấp độ tổ chức sống mới là nêu được dấu hiệu bề ngoài. Trả lời được 3
câu hỏi sau mới là hiểu bản chất, phát triển tư duy.
Phân tích như trên ta sẽ xác định được 4 câu hỏi có yêu cầu từ thấp đến cao:
Câu 1: Cấu trúc của sự sống được chia thành các cấp độ nào? Đây là câu hỏi dẫn dắt.
Câu 2: Mỗi cấp độ tổ chức sống có đặc điểm đặc trưng như thế nào? Đây là câu hỏi khai
thác dấu hiệu bản chất.
Câu 3: Dựa vào cơ sở nào phân chia cấp độ tổ chức sống như vậy? Cũng là câu hỏi khai
thác dấu hiệu bản chất.
Câu 4: Hiểu được các cấp độ tổ chức sống có giá trị gì? Đây là câu hỏi nhằm rèn luyện
cho học sinh năng lực nhận xét, đánh giá kiến thức.
Bốn câu hỏi nêu trên là những câu hỏi hướng vào cái cần hỏi. Nếu đặt câu hỏi loại như:
Phân tử vô cơ là gì? Tế bào là thế nào? thì đó là những câu hỏi chưa hướng vào vấn đề
cần hỏi của mục I, ở bài 1.
– Câu hỏi có tác dụng kích thích tư duy
18
Câu hỏi nêu ra phải có cấu trúc thế nào để học sinh trả lời cần có sự lựa chọn hoặc phân
tích, hoặc tổng hợp, hoặc so sánh những thông tin đã có trong tài liệu đang nghiên cứu để
trả lời. Không nên nêu câu hỏi mà học sinh trả lời một cách ngẫu nhiên như có hay không,
đúng hay sai. Chẳng hạn như: Vật chất sống có được chia thành các cấp độ tổ chức khác
nhau không?
Trong trường hợp câu hỏi mà yêu cầu trả lời cần nêu có hoặc không, đây mới là sự dẫn
dắt, chưa phải nội dung cần khám phá, do đó tiếp sau phải có vế thứ hai là: Tại sao? Trả
lời vế này mới đi vào bản chất và mới là cái cần hỏi.
II.2.6. Sơ đồ quy trình bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi
- Nêu được vai trò quang hợp ở thực vật.
- Trình bày được cấu tạo (đặc điểm về hình thái, giải phẫu) của lá thích nghi với
chức năng quang hợp.
21
- Liệt kê được các sắc tố quang hợp, nơi phân bố trong lá và nêu chức năng chủ yếu
của các sắc tố quang hợp.
b. Kiến thức trọng tâm
- Vai trò của quang hợp.
- Đặc điểm hình thái và giải phẫu của lá thích nghi với chức năng quang hợp.
2. Kĩ năng
Rèn một số kĩ năng:
- Phân tích, xử lí thông tin.
- Tư duy so sánh, khái quát hoá kiến thức.
- Vận dụng lí thuyết vào thực tiễn.
3. Thái độ: Có ý thức bảo vệ, phát triển cơ quan quang hợp góp phần bảo vệ môi trường.
II. Phương pháp: Quan sát trực quan, vấn đáp tìm tòi, nghiên cứu SGK.
III. Phương tiện dạy học
- Hình 8.1. Sơ đồ quang hợp ở cây xanh.
- Hình 8.2. Cấu tạo của lá cây.
- Hình 8.3. Cấu tạo của lục lạp.
IV. Tiến trình bài dạy
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra báo cáo thực hành của học sinh.
3. Bài mới:
22
* Mở bài:
Giáo viên (GV) đưa câu hỏi nêu vấn đề : Về khía cạnh dinh dưỡng, cây xanh khác với
động vật nói chung và con người nói riêng ở điểm cơ bản nào? Tại sao? Học sinh(…)
* Nội dung:
I. KHÁI QUÁT VỀ QUANG HỢP Ở THỰC VẬT
2
+ 12H
2
O C
6
H
12
O
6
+ 6O
2
+ 6H
2
O )
Hệ sắc tố
GV nêu vấn đề: Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Hãy giải thích?
2. Vai trò của quang hợp
- Tại sao nói quang hợp là quá trình mà tất cả sự sống trên trái đất đều phụ thuộc vào nó?
(Em hãy cho biết vai trò của quang hợp)
- Sản phẩm quang hợp là nguồn chất hữu cơ làm thức ăn cho mọi sinh vật, là nguồn
nguyên liệu cho công nghiệp, dược liệu chữa bệnh cho con người.
- Quang năng đã được chuyển hoá thành hoá năng trong các liên kết hoá học của sản
phẩm quang hợp. Đây là nguồn năng lượng duy trì hoạt động sống của sinh giới.
- Quang hợp điều hoà không khí.
Nếu con người chặt phá rừng bừa bãi thì sẽ gây ra những hậu quả gì? Từ đó giáo dục ý
thức bảo vệ rừng và khai thác tài nguyên rừng hợp lý tránh nguy cơ cạn kiệt, ảnh hưởng
đến môi sinh
GV dẫn dắt: Lá có cấu tạo như thế nào để phù hợp với chức năng quang hợp?
II. LÁ LÀ CƠ QUAN QUANG HỢP
Bộ máy quang hợp được tổ chức như thế nào mà thích hợp với việc hấp thụ và chuyển