SKKN Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập những tác phẩm tự sự - Pdf 26


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 ÔN TẬP NHỮNG TÁC PHẨM
TỰ SỰ"
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 12 thi cử luôn là một áp lực gây căng
thẳng tâm lí. Thời gian ôn tập không nhiều, kiến thức của các môn thi thì quá lớn. Vậy
làm thế nào để cho việc ôn tập 6 môn thi tốt nghiệp và thi Đại học đạt kết quả tốt ? Thiết
nghĩ đây là một bài toán không đơn giản cho học sinh và cũng là cho mỗi người thầy
trong quá trình hướng dẫn học sinh yêu quý của mình ôn thi đạt hiệu quả.
Trong thực tế các môn thi tốt nghiệp THPT, môn Ngữ văn bao giờ cũng là một trong
những môn cố định có tính bắt buộc đối với các kì thi. Môn học này chiếm một
lượng kiến thức tương đối lớn đòi hỏi học sinh cần phải có kế hoạch ôn tập chu đáo
thì mới có thể đạt được điểm cao. Để làm được điều này bên cạnh việc nắm vững các
kĩ năng làm bài đòi hỏi mỗi học sinh cần phải có phương pháp ôn tập hữu hiệu thì
mới có thể đạt được kết qủa tốt. Tuy nhiên, vấn đề học môn Văn hiện nay không
phải học sinh nào cũng làm được điều đó.
Để tránh gây áp lực căng thẳng vể tâm lí và tạo được hứng thú cho học sinh trong quá
trình ôn thi, vấn đề đặt ra cho mỗi người thầy là cần phải có một phương pháp thiết thực
để hướng dẫn các em ôn tập đạt được hiệu quả cao nhất.
Trong quá trình ôn tập môn Ngữ văn và hướng dẫn cho các em thi cử thiết nghĩ sẽ có
rất nhiều phương pháp được áp dụng và tất nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu
điểm nhược điểm nhất định. Song tôi thấy hiệu quả vẫn là phương pháp hướng dẫn ôn tập
cho học sinh theo cấu trúc đề thi. Trong những năm gần đây cấu trúc đề thi gồm có hai
phần: phần dành chung cho tất cả các thí sinh và phần danh riêng cho từng ban để cho
2
các em lựa chọn. Cho dù thuộc về ban nào đi chăng nữa thì đề thường yêu cầu nghị luận
về các vấn đề sau:

là làm ra cái đó như thế nào vào bằng cách nào? Từ cơ sở ấy chúng ta có thể nói một cách
đơn giản các em học sinh lớp 12 không chỉ phải chỉ đơn giản là ôn cái gì mà điều quan
trọng là ôn như thế nào?
2. Cơ sơ thực tiễn
Tác phẩm tự sự thường chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong các bài học của học sinh lớp
12 ôn thi tốt nghiệp THPT. Cách làm bài nghị luận về một tác phẩm tự sự không đơn
giản so với các câu hỏi khác trong cấu trúc một đề thi. Thực tế cho thấy khi nghị luận về
một tác phẩm tự sự, phần nhiều học sinh khó đạt điểm cao so với các dạng câu hỏi nghị
luận khác. Chính vì vậy việc học các tác phẩm tự sự đối với các em rất ngại, thường hay
4
đối phó hoặc phụ thuộc vào tài liệu, văn mẫu khi làm bài mà không có sự độc lập, tư duy
sáng tạo.
Qua kết quả thức tế mà tôi thống kê, hầu hết các em học sinh lớp 12 chưa thực sự có
kinh nghiệm và kĩ năng về cách làm bài nghị luận về một tác phẩm tự sự do đó kết quả
thi môn Ngữ văn thường thấp. Vấn đề đặt ra cần phải có một cách hướng dẫn cụ thể
mang tính khoa học để giúp các em tháo gỡ những khó khăn trong quá trình làm bài.
Chương II
Nội dung hướng dẫn ôn tập những tác phẩm tự sự.
Tự sự là phương thức tái hiện đời sống qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người
trong toàn bộ tính khách quan của nó. Ở đây, tư tưởng và tình cảm của nhà văn thâm
nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động của con người, nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy
ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong
tác phẩm là một thế giới tạo hình xác định đang tự tồn tại, phát triển, không phụ thuộc
vào tình cảm, ý muốn của người viết.
Để hiểu được nội dung phản ánh, để phân tích được các giá trị về mặt tư tưởng lẫn
nghệ thuật của một tác phẩm tự sự, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ôn tập
như sau:
1/ Cần đọc kĩ và tóm tắt chính xác cốt truyện của mỗi tác phẩm.
- Để có thể làm bài đạt kết quả tốt về một tác phẩm văn xuôi thì tóm tắt cốt truyện là yêu
cầu không thể thiếu, việc tóm tắt chính là cơ sở để từ đó tìm hiểu các vấn đề khác của tác

Trên cơ sở đọc kĩ tác phẩm, nắm vững kiến thức cơ bản theo yêu cầu trên mới có thể
đi đến xây dựng văn bản tóm tắt.
Ví dụ : Tóm tắt truyện Rừng Xànu (Nguyễn Trung Thành)
Mở đầu truyện là cảnh rừng xà nu bạt ngàn trong “tầm đại bác ”của giặc, đang ưỡn tấm
ngực lớn ra che chở cho làng Xô Man. Sau 3 năm đi lực lượng, Tnú được cấp trên cho
phép về thăm làng một đêm. Bé Heng nay đã trở thành một giao liên chững chạc, nhanh
nhẹn. Dít nay đã trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội vững vàng. Đêm hôm
đó, cụ Mết đã kể cho cả dân làng nghe về cuộc đời Tnú. Hồi đó Mĩ Diệm khủng bố gắt
gao, Tnú cùng Mai tham gia nuôi giấu anh Quyết- cán bộ cách mạng- từ nhỏ. Giặc bắt
Tnú sau 3 năm anh lại vượt ngục Kon Tum trở về. Lúc này anh Quyết đã hi sinh, Tnú lấy
Mai. Anh tiếp tục cùng dân làng mài giáo mác chuẩn bị chiến đấu. Giặc nghe tin, chúng
về làng càn quét, khủng bố. Kẻ thù bắt vợ con anh, tra tấn tàn bạo ngay trước mắt anh.
Căm hờn cháy bỏng, Tnú đã nhảy xổ ra giữa bọn lính nhưng cũng không cứu được mẹ
con Mai. Giặc bắt anh, quấn giẻ tẩm dầu xà nu đốt mười đầu ngón tay anh. Cụ Mết cùng
thanh niên trong làng đã nổi dậy giết sạch bọn lính cứu Tnú. Sau đó anh gia nhập lực
lượng quân giải phóng. Câu chuyện kết thúc bằng cảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú trở lại
đơn vị, trước mắt họ là những cánh rừng xà nu nối tiếp đến tận chân trời.
Để xây dựng văn bản tóm tắt tác phẩm, điểm đáng nói nữa là rèn luyện về lời văn. Độ
dài, ngắn của một văn bản tóm tắt tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể. Song nhìn chung, lời văn
tóm tắt cần gọn gàng, súc tích, hàm chứa lượng thông tin cao. Tránh lối viết chỉ một ý mà
7
quá nhiều câu, dùng nhiều từ đồng nghĩa ở một mệnh đề. Bài tóm tắt nên có ngắt đoạn,
chuyển ý để người đọc nắm được các phần tác phẩm, nắm được diễn tiến của dòng cốt
truyện.
Ví dụ: Tóm tắt truyện Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển
miền Trung (cũng là nơi anh đã từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm
sau.
Sau nhiều ngày “phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt
trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương.

- Thể hiện cái nhìn hiện thực có chiều sâu mang tính độc đáo của Nguyễn Thi: Ông đã
chọn lăng kính gia đình để nhìn ra cả cuộc chiến đấu lớn của nhân dân MN. Cách nhìn
này là một sự phát hiện, khám phá mới mẻ: sự tiếp nối giữ hiện tại và quá khứ, sự hoà
quyện giữa tình cảm gia đình và tình cảm cách mạng tạo nên sức mạnh thiêng liêng của
con người Việt nam, dân tộc Việt nam.
- Nhà văn muốn ta nghĩ đến không chỉ một gia đình, mà cả một tổ quốc đang hào hùng
chiến đấu được sinh ra từ sức mạnh đau thương.
9
3. Cần chú ý đền tình huống và chi tiết trong tác phẩm
3.1. Vấn đề tình huống truyện.
- Nếu như tứ thơ giữ một vai trò quan trọng đối với thơ trữ tình, thì với văn xuôi tự sự,
tình huống truyện có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của tác phẩm. Nếu tạo
được một tình huống truyện xem như đã tạo được một tiền đề khá vững chắc cho sự
thành công của tác phẩm. Do đó các cây bút tài năng thường ý thức đến điều này.
Ví dụ: Truyện“Vợ Nhặt”, Kim Lân đã xây dựng tình huống truyện độc đáo. Có thể nói
tình huống truyện của “Vợ Nhặt” được xây dựng trên cơ sở về một cuộc hôn nhân lạ
lùng giữa Tràng và cô “vợ nhặt”.
+ Hôn nhân là một trong những việc hệ trọng nhất của đời người, của cuộc sống nhân
sinh. Có lẽ chính vì vậy mà người xưa thường nhắn nhủ “Trăm năm tính cuộc vuông tròn
- Phải dò cho tận lạch nguồn cuối sông” hay “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà. Trong ba việc
ấy thầy là khó ghê”.
+ Đọc truyện ngắn Vợ Nhặt, Kim Lân đã cho ta thấy cái việc thiêng liêng ấy lại biến
thành trò đùa.
+ Cuộc sống không ra sống, cuộc sống cứ phản phất hơi hướng cái chết với ám ảnh cái
đói. Bối cảnh như thế một cuộc hôn nhân lạ lùng đã diễn ra: Tràng gã trai nghèo khổ, xấu
xí, thô kệch, lại là dân ngụ cư, bấy lâu nay chẳng có ai thèm ngó tới. Thế mà bỗng dưng
anh ta lại “nhặt” được vợ một cách dễ dàng, gần như là cho không. Quả giá trị của Tràng
cũng như địa vị của cô gái hoàn toàn bị đảo lộn. Không gờ người ta có thể láy đựơc vợ
với cái giá rẻ như vậy và cũng không ngờ, một người phụ nữ có thể bị nhặt về làm vợ
như một cái rơm cái rác bên đường.

trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người
lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng
mặt vào bờ”. Cảnh đẹp đến nỗi Phùng có cảm giác bối rối, trái tim như bị bóp thắt vào.
+ Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng:
người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn
bà nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch
cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.
+Trong suốt câu chuyện, nguời đàn bà làng chài không có tên, chỉ được gọi là “người đàn
bà”, là “mụ”, là “ chị”- những cách gọi phiếm định. Đó là người đàn bà vô danh. Đây là
một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Không phải nhà văn "nghèo" ngôn ngữ đến độ không
thể đặt cho chị một cái tên mà là vì chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng
biển nhỏ bé này. Dù vô danh, nhưng người đọc sẽ không quên được chị bởi những nét
đặc biệt về tính cách và nỗi đau thân phận mà chị phải gánh chịu.
Tóm lại có thể xem tình huống là loại hoàn cảnh bất bình thường, hoàn cảnh “có
vấn đề” đòi hỏi con người trong đó phải xử lí, phải vượt qua. Khi được hoặc bị đặt trong
tình huống, con người ta mới bộc lộ tính cách, bản chất của mình một cách đầy đủ, chân
thực nhất. Nếu cuộc sống là một dòng sông thì tình huống là các xoáy nước. Nó chính là
phần đậm đặc nhất của cuộc sống, nơi thể hiện tập trung bản chất một xã hội, một thời
đại.
12
-Trong văn xuôi tự sự, xây dựng tình huống dường như thành nhiệm vụ tất yếu
của nhà văn, trở thành nơi thử thách tài nghệ của nhà văn. Bởi thế, phân tích tác phẩm
thuộc thể loại này, điều quan trọng là phải xác định, khái quát được tình huống và ý nghĩa
của nó. Mối quan hệ giữa tình huống với nhân vật thể hiện mối tương quan giữa hoàn
cảnh và tính cách. Hoàn cảnh càng có tính điển hình, càng có độ gay cấn thì càng dễ nổi
bật tính cách điển hình của nhân vật.
- Khi phân tích tình huống cần phải chú ý tới hiệu quả nghệ thuật của nó đối với
việc thể hiện chủ đề tác phẩm, tư tưởng của nhà văn.
Ví dụ: Ý nghĩa của tình huống truyện trong tác phẩm “Vợ Nhặt” của Kim Lân
+Giúp tác giả xây dựng tính cách nhân vật một cách chân thực

chính mình để yêu thương, cưu mang một người bất hạnh khác.
+ Tiếng khóc tủi thân cho hoàn cảnh của chính mình (không có con cái)
+ Và tiếng khóc ấy còn là tiếng khóc của chính tác giả thương xót cho những “số phận
con người” sau chiến tranh.
Ví dụ: Khi đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành mà không chú ý đến chi tiết tác
giả miêu tả hình ảnh “bàn tay của Tnú” thì quả là một sự thiết sót lớn.
14
Bàn tay là xương thịt, là một phần cơ thể của chúng ta. Đây là điểm đầu hết sức
nhạy cảm của hệ thần kinh, là biên giới xúc giác nối liền chủ thể với ngoại giới, cũng là
công cụ vô cùng quan trọng, linh hoạt để con người lao động, chiến đấu và bộc lộ tâm tư
tình cảm.Trong truyện ngắn “Rừng xà nu”, nhà văn Nguyễn Trung Thành đã đặc biệt đi
sâu vào khắc hoạ hình ảnh bàn tay của nhân vật Tnú với một dung ý sâu sắc.Bàn tay của
Tnú không phải là bàn tay của người lao động với tinh thần “ bàn tay ta làm nên tất cả.Có
sức người sỏi đá cũng thành cơm”, cũng không phải bàn tay của người nghệ sĩ trong sáng
tạo nghệ thuật.Bàn tay của Tnú là bàn tay của người chiến sĩ, bàn tay trong máu lửa khốc
liệt của chiến tranh, trong cuộc chiến sinh tồn, một mất một còn với kẻ thù hung ác.Có
hiểu như vậy mới thấy hết được dụng ý của tác giả khi miêu tả những đoạn văn đầy ý
nghĩa về đôi bàn tay của Tnú
Tóm lại trong một tác phẩm thường có nhiều chi tiết nhưng không phải mọi chi tiết
đều có giá trị ngang bằng nhau. Có các chi tiết có thể lướt qua hoặc bỏ đi cũng không
sao. Có các chi tiết thể hiện thần thái nhân vật, cô đọng nội dung, giá trị của tác phẩm,
như một giọt nước mà qua đó có thể thấy cả cốc nước. Bởi thế, người giáo viên khi
hướng dẫn học sinh đọc văn, phân tích văn phải biết lướt qua những chi tiết vụn vặt, ngẫu
nhiên, đồng thời nắm bắt lấy và tập trung phân tích các chi tiết tiêu biểu, đắt giá nhất.
Làm được điều này chính là một căn cứ để đánh giá năng lực cảm thụ tác phẩm, đồng
thời đánh giá phương pháp, kĩ năng của học sinh. Nhân đây, cũng xin nói với học sinh
rằng một bài viết hay (cũng như một ca sĩ hát) phải có chỗ đậm chỗ nhạt, chỗ thăng chỗ
trầm chứ không nên đều đều, đơn giọng. Muốn đạt đến điều này đương nhiên cần nhiều
điều kiện, yếu tố, cần phải luyện bút công phu.
4. Phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự.

nghệ thuật miêu tả của nhà văn. Chữ phân tích ở đây không nên hiểu chỉ là một thao tác
nghị luận (chỉ ra các đặc điểm của nhân vật) mà bao hàm cả sự nhận xét, đánh giá bằng
cảm thụ, suy nghĩ của mình.
+Thứ hai, bài phân tích nhân vật chỉ dừng ở cấp độ cụ thể mà không nâng lên tầm khái
quát để rút ra tư tưởng, quan niệm của nhà văn. Nên nhớ rằng khi xây dựng một nhân vật
(nhất là nhân vật chính) bao giờ nhà văn cũng muốn gửi gắm qua đó một cách nhìn nhận
về xã hội, một quan niệm nhân sinh. Nếu phân tích nhân vật mà chỉ dừng ở nhân vật
nghĩa là chưa ý thức được vị trí của nhân vật ấy trong chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
- Một nhân vật văn học thành công cũng như một con người sinh động ngoài đời vậy.
Đó là “con người này” trong sự phân biệt với con người khác. Nó có tính cách riêng, số
phận riêng không thể lẫn. Bởi thế, suy cho cùng, phân tích một nhân vật làm sáng tỏ một
tính cách, một số phận. Song vấn đề là nhà văn không trực tiếp bước vào tác phẩm mà
nói lên điều ấy. Tính cách, số phận nhân vật hiện lên sinh động trong tác phẩm qua nhiều
phương diện cụ thể. Đó chính là những phương diện học sinh- người phân tích cần lưu ý.
4.1. Lai lịch
- Đây là phương diện đầu tiên góp phần hình thành đặc điểm tính cách, chi phối con
đường đời của nhân vật cũng như mục đầu tiên ta thường khai trong bản “Sơ yếu lí lịch”
là thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình vậy.
17
- Lưu ý không phải tác phẩm nào chúng ta cũng cần phải chú ý đến lai lịch của nhân
vật.Chúng ta chỉ chú ý đến lai lịch của nhân vật khi đó là một dụng ý của nhà văn trong
việc khắc hoá số phận và tính cách của nhân vật mà thôi.
4.2. Ngoại hình
-Trong văn học, nhà văn miêu tả ngoại hình nhân vật thường với hai mục đích.
+ Thứ nhất, để cá thể hóa nhân vật, nghĩa là tạo ấn tượng riêng về nhân vật ấy (không thể
lẫn vào các nhân vật khác).
+ Thứ hai, qua vẻ bề ngoài mà phần nào hé mở tính cách, bản chất của nhân vật ấy. Một
nhà văn có tài thường chỉ qua một số nét khắc họa chấm phá có thể giúp người đọc hình
dung ra diện mạo, tư thế cùng bản chất của một nhân vật nào đó. Một nhân vật thành
công bao giờ cũng là “con người này” khác với con người kia, con người nọ…

bàn bạc về nhân vật ấy.
-Sau khi trình bày sáu phương diện cụ thể lúc phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự,
chúng tôi muốn lưu ý các bạn mấy điểm:
+ Thứ nhất: Không phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà văn thể hiện đầy đủ các
phương diện này (lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, cử chỉ, hành động, qua lời các
nhân vật khác). Tùy trường hợp mà có chỗ nhiều, chỗ ít, chỗ đậm, chỗ nhạt. Bởi thế,
không phải cứ máy móc tìm đủ, phân tích đủ mà cần biết tập trung, xoáy sâu vào các
19
phương diện thành công nhất của tác phẩm. Cũng không cứ phải tuần tự theo sáu phương
diện như thế mà nên sắp xếp theo thực tế, làm sao cho bài văn của mình hấp dẫn.
+ Thứ hai: Tránh lầm lẫn cấp độ của những phương diện phân tích. Có thể xem sáu
phương diện đã nêu đồng đẳng và đều là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa của tính cách, số
phận nhân vật. Không nên xem tính cách như một phương diện ngang bằng các phương
diện ấy (như một vài cuốn sách về làm văn lâu nay vẫn sắp xếp). Điều này không đúng về
mặt lí luận và sẽ gây lúng túng trong thực tế làm bài.
+ Thứ ba: Nắm vững sáu phương diện cơ bản đã nêu khi phân tích nhân vật chính là điều
có ý nghĩa định hướng cho việc đọc tác phẩm tự sự. Biết đọc tác phẩm tự sự nghĩa là hiểu
được, nhớ được nội dung phản ánh của tác phẩm và mối quan hệ giữa các nhân vật, nắm
được tính cách, số phận của các nhân vật chính. Để có căn cứ phân tích, để có chất liệu
làm bài, khi đọc tác phẩm cần ghi nhớ các chi tiết, các hình ảnh về từng phương diện ấy.
- Ví dụ: Về nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyên
Minh Châu)
- Nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm này đã để lại nhiều ấn tượng và cảm
xúc trong lòng người đọc. Để tạo nên hình tượng người đàn bà ấy nhà văn đã tạo ra tình
huống truyện độc đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận.
- Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ
cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để
chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát
hiện một “ cảnh đắt trời cho”. Cảnh đẹp đến nỗi Phùng có cảm giác bối rối, trái tim như
bị bóp thắt vào.

c/ Tính cách và tâm hồn .
- Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu, lão chồng của chị từ một anh con trai “hiền
lành nhưng cục tính” đã trở thành một kẻ vũ phu lỗ mãng. Hắn đã lấy phương pháp đánh
vợ để giải tỏa những bế tắc cuộc sống. Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ bằng
một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa: “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận
nặng”. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh
một con thú, với lời lẽ cay độc" Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông
nhờ". “Mày” ở đây là vợ ông ta. “Chúng mày” là vợ con của ông ta.
- Dù vậy, chị lặng thầm đón nhận “với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu
một tiếng, không chống trả cũng không tìm cách chạy trốn”mà coi đó là một lẽ đương
nhiên. Thậm chí chị còn yêu cầu hắn “ Muốn đánh chị thì đưa chị lên bờ để đánh vì chị
không muốn để những đứa con nhìn thấy cảnh bố hành hạ mẹ”. Vì đâu chị lại chịu đựng
và cam chịu như vậy?
- Vì đó là một người đàn bà giàu đức hi sinh và thương con.
+ Khi đứa con chị là thằng Phác, vì quá thương mẹ nên đã lao vào đánh lại cha nó, chị đã
khóc, ôm chầm lấy nó mà kêu lên: “Phác, con ơi!”. Hành động ấy thể hiện nỗi đau tột
cùng của người mẹ. Chị muốn tạ lỗi với con vì đã làm tổn thương trái tim bé bỏng của
nó, và cũng van xin con đừng làm những điều có lỗi với cha mình.
22
+ Ra ngoài đời, chị bộc lộ vẻ lúng túng sợ sệt thật đáng thương. Khi được mời đến tòa án
để giải quyết bi kịch gia đình, chị chỉ dám chọn một góc tường để ngồi. Sau đó được mời
chị mới dám rón rén ngồi xuống mép ghế và cố thu người lại. Nhưng khi phải lí giải
nguyên nhân không chịu từ bỏ gã chồng vũ phu hành hạ mình, thì chị tỏ ra sắc sảo không
ngờ. Chị kiên quyết từ chối lời đề nghị của chánh án Đẩu: “quý tòa… phạt tù con cũng
được, đừng bắt con bỏ nó…”
Người đàn bà đau khổ kể lại câu chuyện cuộc đời mình nhằm gián tiếp đưa ra những lí do
khiến mình không thể bỏ chồng.
+ Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe
mạnh, biết nghề, để chung tay nuôi những đứa con khôn lớn nên người. “Mong các chú
cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người

- Với việc tạo tình huống truyện độc đáo, ngôi kể, điểm nhìn nghệ thuật sắc sảo, đa diện,
lời văn giản dị mà sâu sắc, qua câu chuyện của người đàn bà, nhà văn đưa ra một thông
điệp: Không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc
sống mà phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều, phổ quát thì mới hiểu được những sắc
cạnh của cuộc đời. Vì “con người thì đa đoan, cuộc đời thì đa sự”.
5/ Điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự
24
- Trong tác phẩm văn xuôi tự sự, nội dung trần thuật phải được thể hiện từ điểm nhìn,
bằng quan điểm trần thuật nào đó. Thông thường có ba phương thức trần thuật phổ biến
trong tác phẩm tự sự:
+ Phương thức 1: theo ngôi thứ 3 của người kể chuyện giấu mình => Lời gián tiếp.
+ Phương thức thứ 2: theo ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể => Lời trực tiếp.
+ Phương thức 3: theo ngôi thứ ba của người kể tự giấu mình nhưng điểm nhìn, lời kể lại
theo giọng điệu của nhân vật.=> Lời nửa trực tiếp. Tác phẩm “Những đứa con trong gia
đình” của Nguyễn Thi đã kể theo phương thức này.
- Xác định điểm nhìn trần thuật nghĩa là chỉ ra vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và
miêu tả sự vật, tường thuật câu chuyện trong tác phẩm. Nó chính là cách kể, phương thức
kể, là tình huống diễn ngôn. Như thế, điểm nhìn trần thuật có mối quan hệ mật thiết với
cấu trúc nghệ thuật, giọng điệu của tác phẩm, với cách cảm thụ thế giới, thái độ của nhà
văn. Khi nghiên cứu một cấu trúc văn bản, người giáo viên cần quan tâm đến điểm nhìn,
chỗ đứng mà tác giả lựa chọn. Chính điểm nhìn, chỗ đứng này chi phối cách miêu tả,
đánh giá sự việc, câu chuyện và thành cơ sở để người đọc chúng ta cân nhắc, lựa chọn
thái độ đối với hiện thực, nhân vật được phản ánh.
Chương III
Kết quả nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện bằng hai phương pháp
1. Kết quả từ quan sát thực tế
Quan sát việc học tập trong các giờ ôn tập và vở bài tập cho về nhà của học sinh kết quả
như sau:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status