SKKN Phương pháp giải bài tập Quy luật di truyền_Sinh học lớp 12 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP QUY LUẬT DI TRUYỀN SINH
HỌC 12"
1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sinh học là môn khoa học có tính ứng dụng ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội,
cũng như trong sản xuất. Trong nhà trường việc giảng dạy bộ môn sinh học, song song
với nhiệm vụ dạy học kiến thức thì việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy logic,
phân tích, tổng hợp, khái quát là vô cùng quan trọng. Điều này càng có ý nghĩa hơn với
học sinh miền núi. Làm thế nào để học sinh hình thành và phát triển khái niệm một cách
tốt nhất là một vấn đề khó khăn trong công tác dạy học.
Nhiều khái niệm, hiện tượng, quá trình trong chương III - Chuyển hóa vật chất và năng
lượng trong tế bào(Sinh học 10 - cơ bản) là những khái niệm mới và khó, đòi hỏi học
sinh phải biết tư duy trừu tượng, suy luận logic, có khả năng phân tích, tổng hợp cao mới
có thể lĩnh hội tốt được. Đây cũng là chương trọng tâm của chương trình sinh học lớp 10
THPT, là chương bản lề cho việc lĩnh hội những kiến thức về chuyển hóa vật chất và
năng lượng ở thực vật và động vật sẽ học ở chương I - Sinh học 11 THPT. Trong thực tế,
đã có một số tài liệu bàn về việc dạy học chương này, nhưng đa phần còn ở dạng khái
quát, khó áp dụng cụ thể vào việc dạy học ở THPT, đặc biệt là các trường THPT miền
núi.
Do vậy, trong quá trình dạy học tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để học sinh tiếp cận với
những khái niệm, hiện tượng, quá trình trong chương này một cách dễ dàng và sâu sắc.
Xuất phát từ lý do đó tôi viết sáng kiến kinh nghiệm về “Xây dựng bổ sung và sử dụng
bản đồ khái niệm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chương III - Sinh học 10
THPT(cơ bản)”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2
Hệ thống và phân loại được các kiến thức trong chương III - Sinh học 10 THPT(chương
trình chuẩn) có thể sử xây dựng thành bản đồ khái niệm và sử dụng trong quá trình dạy

niệm.
Ví dụ: Trong khái niệm “hô hấp”, nội hàm của khái niệm là “chuyển năng lượng trong
các chất hữu cơ thành năng lượng trong ATP nhờ chuỗi phản ứng oxi hóa khử sinh học”,
còn ngoại diên của khái niệm là các hình thức hô hấp hiếu khí và hô hấp kị khí.
Logic hình thức không đi sâu vào nội hàm của khái niệm nên khi xét về mối quan hệ giữa
các khái niệm thì chỉ nặng về ngoại diên. Có một số kiểu quan hệ cơ bản: Quan hệ so
sánh được và không so sánh được, quan hệ đồng nhất, quan hệ bao hàm(quan hệ lệ
thuộc), quan hệ tách rời, quan hệ ngang hàng, quan hệ chồng chéo(quan hệ giao nhau),
quan hệ đối lập(quan hệ trái ngược nhau), quan hệ mâu thuẫn(quan hệ phủ nhận)
1.3. PHÂN CHIA KHÁI NIỆM
Khi nghiên cứu khái niệm, chúng ta không chỉ vạch ra nội hàm mà còn phát hiện ngoại
diên của chúng. Thao tác logic vạch ra ngoại diên của khái niệm gọi là phân chia khái
niệm.
4
Phân chia một khái niệm có nghĩa là chia một khái niệm lớn thành những khái niệm nhỏ,
xác định xem trong một khái niệm giống có bao nhiêu khái niệm loài. Mục đích của việc
phân chia là để mở rộng hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu. Dấu hiệu dùng để phân
chia khái niệm gọi là cơ sở phân chia.
1.3.1. Cơ sở phân chia
Phân chia theo sự biến đổi dấu hiệu và phân đôi khái niệm.
1.3.2. Qui tắc phân chia khái niệm
Phân chia phải cân đối, phải theo một cơ sở nhất định và liên tục; các khái niệm nhỏ phân
chia ra phải ngang hàng, không chồng chéo. Khi phân chia phải căn cứ vào cùng một
thuộc tính hoặc tùy mục đích phân chia mà lấy thuộc tính này hay thuộc tính khác làm
căn cứ
1.4. HỆ THỐNG HÓA KHÁI NIỆM
Khi hệ thống hóa một nhóm khái niệm, ta cần vận dụng mối quan hệ giữa các khái niệm
và các cách phân chia khái niệm thì mới rõ ràng và chính xác được. Muốn vậy cần phải
chú ý đến những vấn đề sau:
- Phải nắm vững quan hệ giữa các khái niệm trong hệ thống, từ đó quyết định một trật tự

Như vậy, bản đồ khái niệm bao gồm các “nút” tượng trưng cho các khái niệm và các
“cung” tượng trưng cho mối quan hệ giữa các khái niệm - tương ứng với các “đỉnh” và
các “cung” trong Lý thuyết Graph. Do đó, bản đồ khái niệm là một dạng đồ thị trực
quan(visual graph). Tuy nhiên, để bản đồ khái niệm có thể biểu diễn những thông tin
phức tạp một cách rất rõ ràng hơn trong nhiều lĩnh vực khác nhau, người ta thường thêm
vào các nhãn để chú thích cụ thể hơn các mối quan hệ giữa các khái niệm.
Ví dụ: Bản đồ khái niệm quá trình chuyển hóa vật chất:
Trong bản đồ khái niệm, các khái niệm thường được biểu trưng trong một hình dạng
mang tính hệ thống với những khái niệm tổng quát nhất ở trên cùng của bản đồ và những
khái niệm cụ thể hơn được sắp xếp một cách có hệ thống bên dưới. Cấu trúc có hệ thống
đối với từng lĩnh vực kiến thức riêng biệt cũng phụ thuộc vào bối cảnh mà kiến thức đó
được áp dụng hay xem xét. Vì thế, để xây dựng được bản đồ khái niệm tốt nhất, chúng ta
phải tìm được được gọi là câu hỏi trọng tâm(focus question).
Một đặc trưng quan trọng khác của bản đồ khái niệm là sự bao gồm các đường nối
ngang(cross - link). Chúng là những mối liên hệ hay liên kết giữa các khái niệm trong
những mảng hay những lĩnh vực khác nhau của bản đồ khái niệm. Trong sự tạo thành
7
CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT
Tập hợp các phản ứng sinh hóa
Cơ thể sống
Đồng hóa
Dị hóa
Tổng hợp
Chất hữu cơ phức tạp
chất đơn giản
Phân giải
Chất hữu cơ phức tạp
Chất chất đơn giản
ADP + P
i

- Bản đồ khái niệm có thể giúp người học sinh học hệ thống hóa các kiến thức của bài
học trong quá trình học bài. Từ việc hệ thống hóa kiến thức một bài học, học sinh cũng có
thể thấy được mối liên hệ giữa các khái niệm và sự phát triển khái niệm khi nghiên cứu
sâu hơn.
1.5.3. Các bước tiến hành làm bản đồ khái niệm
Phương pháp xây dựng bản đồ khái niệm bởi Novak và Gowin (1984) bao gồm một số
bước sau:
- Xác định chủ đề hay câu hỏi trọng tâm.
8
- Khi chủ đề được xác định, bước tiếp theo là xác định và liệt kê những khái niệm quan
trọng nhất hay chung nhất liên quan đến chủ đề.
- Các khái niệm được liệt kê được sắp xếp trên đỉnh hay dưới cùng cùng bản đồ, từ các
khái niệm chung nhất đến những khái niệm cụ thể nhất.
- Khi các khái niệm chủ chốt được xác định và sắp xếp, các đường nối được thêm vào để
hình thành một bản đồ khái niệm sơ bộ.
- Các cụm từ nối được thêm vào để mô tả mối quan hệ giữa các khái niệm.
- Khi bản đồ khái niệm sơ bộ được xây dựng, bước tiếp theo là tìm kiếm các đường nối
ngang, nó nối các khái niệm thuộc những khu vực khác nhau hay những tiểu khu trong
bản đồ với nhau. Các đường nối ngang cho thấy sự tương quan giữa các khái niệm.
- Cuối cùng, bản đồ được xem xét lại và có thể có những thay đổi cần thiết về cấu trúc và
nội dung.
* Một số lưu ý khi lập bản đồ khái niệm:
- Để làm quen với việc xây dựng một bản đồ khái niệm, nên bắt đầu với một lĩnh vực
kiến thức khá quen thuộc đối với người lập bản đồ.
- Nên xây dựng nên một câu hỏi trọng tâm cho mỗi bản đồ khái niệm. Đó là câu hỏi xác
định một cách rõ ràng vấn đề mà bản đồ khái niệm phải giải quyết.
- Nên sử dụng từ 15 đến 20 khái niệm cho một bản đồ khái niệm. Những khái niệm này
sẽ được liệt kê ra, từ danh sách đó, một danh sách được sắp xếp thứ tự sẽ được thiết lập
từ khái niệm chung nhất đến khái niệm cụ thể nhất.
- Nên xây dựng nên một bản đồ khái niệm sơ bộ bằng cách viết tất cả các khái niệm trên

- Khái niệm ATP, khái niệm enzim, khái niệm quang hợp, mối quan hệ hô hấp và quang
hợp, quá trình chuyển hóa vật chất, vai trò của enzim trong quá trình chuyển hóa vật chất.
2.3. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào nhận định trên và qua khảo sát ý kiến của đồng nghiệp, tôi nhận thấy rất ít
đồng nghiệp tham gia xây dựng và sử dụng bản đồ khái niệm khi dạy học các nội dung
kiến thức này cho học sinh vì nhiều lí do khác nhau. Trong đó lí do chủ yếu nhất vẫn là:
Thứ nhất, sử dụng các sơ đồ trong sách giáo khoa cung cấp là quá đầy đủ, không cần xây
dựng thêm.
Thứ hai, phần kiến thức này ít khi thi đại học nên không chú ý nhiều.
Thứ ba, các khái niệm đôi khi đơn giản, chỉ cần một vài dòng là có thể định nghĩa được,
không cần thiết phải xây dựng bản đồ về khái niệm đó.
Thứ tư, đối với học sinh miền núi, việc đi sâu vào bản chất khái niệm có thể làm các em
thấy khó hiểu, từ đó gây mất hứng thú trong học tập và dễ làm các em nản chí.
Thứ năm, nội dung các kiến thức trong phần này chủ yếu dành thi học sinh giỏi nên học
sinh chỉ cần nắm những kiến thức cơ bản là được.
Nhưng bản thân tôi nhận thấy:
11
Thứ nhất, đây là phần kiến thức khó và trừu tượng, nếu không định hướng cách tư duy
logic thì bản thân các em rất khó nhận thức(đặc biệt với học sinh miền núi).
Thứ hai, đây là chương trọng tâm của chương trình sinh học lớp 10 THPT, là chương bản
lề cho việc lĩnh hội những kiến thức về chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật và
động vật sẽ học ở chương I - Sinh học 11 THPT.
Thứ ba, khả năng tư duy trừu tượng, suy luận logic, năng phân tích, tổng hợp vốn là một
điểm yếu của học sinh miền núi, nếu chúng ta cứ né tránh, thậm chí không nhìn nhận
đúng khả năng của các em thì hiệu quả dạy học sẽ không cao.
Thứ tư, nếu chúng ta xây dựng một bản đồ khái niệm, không có nghĩa là chúng ta chỉ
dừng ở bản đồ khái niệm đó, mà chúng ta có thể yêu cầu học sinh viết lại vài ba lần, trên
cơ sở đó, yêu cầu học sinh tự thành lập các bản đồ khái niệm khác theo cách hiểu của các
em, cuối cùng giáo viên chuẩn hóa.
Thứ năm, việc xây dựng và sử dụng bản đồ khái niệm sẽ sớm phát hiện những nhân tố có

Sinh tổng hợp các chất
Dẫn truyền xung thần kinh
Hoạt tải
Đồng tiền năng lượng tế bào

3.1.2. Khái niệm Enzim
3.1.3. Khái niệm quang hợp
13
ENZIM
chịu ảnh hưởng của
Protein
bao gồm
gọi là
Enzim
1 thành phần
Chất xúc tác sinh học

trong
Cơ thể sống
liên kết
Coenzim
gọi là
Enzim
2 thành phần
Hoạt tính mạnh
Chuyên hóa cao
Giảm năng lượng
hoạt hóa
có đặc tính
Nhiệt độ Độ pH Nồng độ

Oxi
Cacbon
dioxit
chuyển
thành
xảy ra ở
chứa
được
chia thành
nhận phân li
thành
kết hợp

tạo ra
cần có
CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT
Tập hợp các phản ứng sinh hóa
Cơ thể sống
Đồng hóa
Dị hóa
Tổng hợp
Chất hữu cơ phức tạp
chất đơn giản
Phân giải
Chất hữu cơ phức tạp
Chất chất đơn giản
ADP + P
i
→ ATP
ATP

thành
xảy ra ở
gồm các giai đoạn
Tế bào chất Chuỗi chuyền
electron hô hấp
cần có
biến đổi
2 Axit pyruvic
tạo ra
tham
gia
vào
2 ATP
Chất nền ti thể
4 ATP
4 CO
2
6 NADH
tạo ra
2 FADH
2
2 NADH Acetyl CoA
xảy ra ở
tham gia vào
Các phản ứng oxi
hóa
ở giai
đoạn
34 ATP
tạo ra

kết hợp
H
2
O
tham gia
HÔ HẤP
tạo ra
tạo ra
tạo ra
ATP
Ty thể
xảy ra ở
Lục lạp
xảy ra ở
Hệ sắc tố
chứa
Năng lượng
ánh sáng
nhận
Ví dụ: Hãy hoàn thiện bản đồ khái niệm sau đây về mối quan hệ giữa quang hợp và hô
hấp.
3.2.2. Bản đồ “chỉ có các đường nối”
Các phát biểu chính và cấu trúc bản đồ được cho sẵn, học sinh điền vào những khái niệm
còn thiếu vào các khoảng trống đã cho.
Ví dụ: Hãy hoàn thiện bản đồ khái niệm sau đây về khái niệm Quang hợp
17
QUANG HỢP
chuyển
thành
xảy ra ở

ATP
Ty thể
?
Lục lạp
?
Hệ sắc tố
?
Năng lượng ánh
sáng
?
3.2.3. Bản đồ “chỉ có các phát biểu”
Một danh sách các khái niệm , một danh sách các từ nối và một cấu trúc bản đồ với các
khoảng trống tương ứng với các khái niệm và các phát biểu được cho sẵn. Học sinh xây
dựng bản đồ bằng cách chọn những khái niệm và những phát biểu phù hợp để điền vào
những khoảng cách tương ứng trên bản đồ đã cho.
Ví dụ: Sử dụng danh sách các khái niệm và các từ nối sau để hoàn thiện bản đồ khái niệm
về ATP:
Các khái niệm Các từ nối
ATP, AMP, ADP, ty thể, hô hấp, tiền tệ
năng lượng tế bào, photphat, đường
riboz, năng lượng, sinh tổng hợp các
chất, co cơ, dẫn truyền xung thần kinh,
hoạt tải.
Liên kết cao năng, giải phóng, cấu
tạo nên, cung cấp, là, cấu, tạo gồm,
tổng hợp ở, trong.
18
ATP
?
?

tạo
ra
Acetyl CoA
xảy ra ở
?

giai
đoạn
34 ATP
?
6 H
2
O
?
6 O
2
tham gia
?
?
Ti thể
là thành phần
Các loại sơ đồ trên có thể dùng để hình thành kiến thức mới, ôn tập củng cố hoặc
kiểm tra, đánh giá học sinh. Sau đây là một ví dụ cụ thể:
Ví dụ khi dạy học khái niệm "Chuyển hóa vật chất"(Phần II - Chuyển hóa vật chất
- Bài 13 - Sinh học 10 - Cơ bản):
Hoạt động dạy học Nội dung
Thao tác 1: Giáo viên chia lớp thành 4
nhóm, yêu cầu học sinh đọc mục
II(trang 55 - SGK) và hoàn thành bản
đồ khái niệm được giao.

các
các
là
các
các
là
trong
giúp
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này trong giảng dạy, thực tế cho thấy học sinh
đã khắc phục được nhiều nhược điểm, biết cách trình bày bài giải một cách lôgic, chặt
chẽ. Học sinh hứng thú say mê và tích cực học tập hơn.
Năm học 2011 - 2012 tôi đã tiến hành thực nghiệm chính thức ở các lớp 10A4, 10A5
trường THPT Bá Thước(đây là 2 lớp tương đương nhau về nhiều mặt theo nhận xét đánh
giá của nhiều giáo viên giảng dạy).
Sau khi thiết kế giáo án và tiến hành giảng dạy ở 2 lớp trong các tiết của chương III rồi
kiểm tra bằng 1 đề chung kết quả cho thấy như sau:
Lớp
Điểm số và tỉ lệ % HS đạt điểm Xi
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
10A4
(Thực
S
L
0 0 0 1 5 10 15 8 6 0
% 0 0 0 2.2 11.1 22.2 33.3 17.8 13.4 0
10A5
(Đối chứng)
S
L
0 0 1 2 5 10 10 4 1 0

bình của các thầy cô, đồng
2. KIẾN NGHỊ
- Cần làm cho giáo viên nhận thức rõ hơn nữa quyền lợi và nghĩa vụ phải viết SKKN,
tránh tình trạng viết đối phó.
- Cần phổ biến những sáng kiến kinh nghiệm thiết thực cho công tác dạy học.
23
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status