BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÔ THỊ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế và Quản lý Môi trường
(Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi
trường)
Đề
tài:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY BIA HÀ NỘI – HƯNG
YÊN
Gỉang viên hướng
dẫn:
TS. ĐINH ĐỨC TRƯỜNG
Sinh viên thực
hiện:
PHẠM THỊ HƯƠNG
Mã sinh viên: CQ521754
Lớp: Kinh tế và Quản lý Môi trường
Khóa: 52
2
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
Hệ : Chính quy
HÀ NỘI, THÁNG 11 NĂM 2013
LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa Môi trường & Đô thị trường Đại
học Kinh tế Quốc dân, em xin cám ơn sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô trong
trường và trong khoa.
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay và để có thể hoàn thành tốt bài chuyên đề
7. Kết cấu chuyên đề 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA
CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ 13
1.1. TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 13
1.1.1. Khái niệm về dự án đầu tư 13
Đối với Nhà nước 17
Đối với tổ chức tài trợ vốn 17
Đối với việc hoạch định chiến lược phát triển 17
1.2. TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG 17
1.4.4. Một số phương pháp chính trong ĐTM 31
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG NHÀ MÁY BIA HÀ NỘI – HƯNG YÊN 33
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
5
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
2.1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỊA ĐIỂM NHÀ MÁY 33
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và môi trường 33
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 34
2.2. GIỚI THIỆU VỀ DỰ ÁN 36
2.2.1. Tên dự án 36
2.2.2. Chủ đầu tư 36
2.2.3. Nội dung dự án 36
2.3. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG 44
2.3.1. Chất lượng môi trường không khí 44
2.3.2. Chất lượng môi trường nước 45
2.3.3. Chất lượng đất 48
2.4. ĐÁNH GIÁ TÁC HẠI CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT 49
2.5. DỰ BÁO TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 49
2.5.1. Giai đoạn xây dựng cơ bản 49
2.5.2. Tác động đến môi trường khi dự án đi vào hoạt động sản xuất 54
TCV
N Tiêu chuẩn Việt Nam
VSA
TLD Vệ sinh an toàn lao động
VSA
TTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
WH
O Tổ chức y tế thế giới ( World health organization)
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
7
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Sơ đồ các bước đánh giá tác động môi trường và dự án phát
triển……….23
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Vị trí các điểm lấy mẫu chất lượng môi trường không khí…………43
Bảng 2: Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng môi trường không khí……44
Bảng 3: Kết quả phân tích nguồn tiếp nhận nước thải của công ty………….45
Bảng 4: Vị trí các điểm lấy mẫu nước ngầm……………………………….…46
Bảng 5: Kết quả phân tích nước ngầm…………………………………… …46
Bảng 6: Kết quả phân tích chất lượng đất…………………………………… 47
Bảng 7: Mức độ ô nhiễm khí thải từ các phương tiện chuyên chở……… …49
Bảng 8: Hệ số ô nhiễm của hàn điện và hơi……………………… …… ….49
Bảng 9: Nguồn phát sinh tiếng ồn và mức độ áp âm……………… ……… 50
Bảng 10: Tải lượng chất thải khí phát thải do đốt than……………………….52
Bảng 11: Nồng độ tối đa cho phép của các chất gây ô nhiễm trong khí thải 53
Bảng 12: Tính chất nước thải dòng tổng……………………… …………… 54
Sự yếu kém trong quá trình phát triển vẫn còn là chở ngại chủ yếu tiếp tục gây nên
suy thoái môi trường.
Đánh giá tác động môi trường cần được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để góp
phần quản lý môi trường và phát triển bền vững.
Trong 5 năm gần đây, do tác động của những yếu tố chính như tốc độ tăng GDP,
đời sống thu nhập được nâng cao, tăng dân số, đô thị hóa, du lịch, tốc độ đầu tư, sắp xếp
tổ chức sản xuất… ngành công nghiệp Bia Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng cao, bình
quân 8 – 12% năm. Đặc biệt năm 2003, sản lượng bia đạt 1.290 triệu lít, đạt 79% so công
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
10
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
suất thiết kế, tăng 20,7% so với thực hiện năm 2002, tăng 90 triệu lít theo Quy hoạch,
nộp ngân sách khoảng 3650 tỉ đồng. Năm 2004 đạt 1.387,5 triệu lít (tăng 15,6% so Quy
hoạch năm 2005) và năm 2005 đạt 1500 triệu lít (tăng 25% so Quy hoạch). Tiêu thụ bình
quân đầu người đạt khoảng 18 lít/người/năm, tăng gấp đôi năm 1997 (8,5 lít/người/năm).
Căn cứ Quyết định số 18/2007/QĐBCN ngày 8/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp, Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Bia – Rượu Nước giải khát Việt Nam đến
năm 2010 được điều chỉnh bổ sung như sau:
a. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng ngành Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam thành một ngành kinh tế
mạnh. Khuyến khích sử dụng nguyên liệu trong nước, phát triển sản xuất các sản phẩm
chất lượng cao, có uy tín, thương hiệu hàng hóa mạnh trên thị trường, đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm, đa dạng hóa về chủng loại, cải tiến bao bì, mẫu mã; phấn đấu hạ giá
thành, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất
khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới.
Khuyến khích hình thành các doanh nghiệp mạnh, tập đoàn kinh tế trên cơ sở góp
vốn liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất bia rượu nước giải khát thuộc
mọi thành phần kinh tế.
b. Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2010 sản xuất 3.500 triệu lít bia, 145 triệu lít rượu và 1.650 triệu lít nước
được sử dụng rộng rãi ở hầu khắp các nước trên thế giới và sản lượng ngày càng tăng.
Trên cơ sở đó Nước giải khát Bia Hà Nội quyết định đầu tư xây dựng nhà máy bia
tại Hưng Yên.
Do đó đối tượng nghiên cứu là: “Dự án đầu tư xây dựng nhà máy bia Hà Nội –
Hưng Yên (công suất 50 triệu lít/năm)” .
4. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Chuỗi số liệu được sử dụng để phân tích chủ yếu từ năm 2006 đến
năm 2008.
Về không gian: Xã Trưng Trắc, Huyện Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp được sử dụng gồm có:
Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập tài liệu liên quan đến dự án – dự án đầu tư
xây dựng Nhà máy bia Hà Nội – Hưng Yên tại KCN, thu thập các số liệu về điều kiện địa
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
12
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
lý tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực xây dựng dự án.
Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực địa:
Khảo sát đo đạc hiện trạng môi trường nền
Vị trí và các khu vực tiếp nhận nước thải
Hiện trạng nước mặt, nước ngầm khu vực thực hiện dự án
Đo đạc chất lượng môi trường nền: không khí, chất lượng nước mặt,
nước ngầm, chất lượng đất
Phương pháp phân tích: Tập hợp các số liệu thu thập được, so sánh với các tiêu
chuẩn môi trường Việt Nam đã ban hành từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá các ảnh hưởng
đến môi trường do xây dựng và hoạt động của dự án.
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các số liệu đã thu thập được, phân tích và rút ra
những kết luận về ảnh hưởng từ các hoạt động của dự án đến môi trường. Đồng thời đề
xuất các biện pháp giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường.
6. Nguồn số liệu, dữ liệu
án được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, các mối quan hệ, mục tiêu, phạm vi khác nhau. Do
vậy cơ cấu tổ chức của dự án cũng tương đối khác nhau. Các nhà kinh tế học đã đưa ra
nhiều khái niệm về dự án. Mỗi một khái niệm nhấn mạnh một số khía cạnh của dự án
cùng các đặc điểm quan trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể.
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
14
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
Xét theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ
cụ thể cần phải đạt được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và phải theo
một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Như vậy theo định nghĩa này thì: dự
án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự án
không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải cấu trúc nên một thực thể mới.
Xét về hình thức: Dự án đầu tư được hiểu là một tập tài liệu tổng hợp bao gồm các
luận chứng cá biệt được trình bày một cách có hệ thống, chi tiết về một kế hoạch đầu tư
nhằm đầu tư các nguồn tài nguyên của một cá nhân, một tổ chức vào một lĩnh vực hoạt
động nào đó của xã hội để tạo ra một kết quả kinh tế, tài chính kéo dài trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ hoạch định nỗ lực có thời
hạn trong việc sử dụng vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã
hội. Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: Mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và
điểm kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc khi xác
định rõ ràng mục tiêu không thể đạt được và dự án bị loại bỏ; Sản phẩm hoặc dịch vụ
mới được tạo ra khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác.
Xét trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư được xem là một kế hoạch chi tiết để
thực hiện chương trình đầu tư nhằm phát triển kinh tế, xã hội làm căn cứ đưa ra quyết
định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư. Dù các định nghĩa khác nhau nhưng có thể rút ra một
số đặc trưng cơ bản của khái niệm dự án như sau:
Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng. Mỗi dự án thể hiện một hoặc một nhóm
nhiệm vụ cần được thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thoả mãn một nhu cầu
nào đó. Dự án cũng là một hệ thống phức tạp nên cần được chia thành nhiều bộ phận
khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng phải dảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian,
giữa các bộ phận cấu thành dự án.
Một dự án thường có 4 bộ phận sau:
Mục tiêu của dự án: Một dự án thường có 2 cấp mục tiêu là mục tiêu phát triển và
mục tiêu trực tiếp.
Mục tiêu phát triển là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện. Mục tiêu phát triển
được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của
vùng.
Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ
nguồn lực nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
16
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
Kết quả của dự án: là những đầu ra cụ thể của dự án được tạo ra từ các hoạt động
của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.
Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển
hoá các nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án đều đem lại kết
quả tương ứng.
Nguồn lực của dự án: Là các đầu vào về mặt vật chất, tài chính, sức lao động cần
thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Nguồn lực là tiền đề để tạo nên các hoạt động
của dự án.
Bốn bộ phận trên của dự án có quan hệ logic chặt chẽ với nhau: Nguồn lực của dự
án được sử dụng tạo nên các hoạt động của dự án. Các hoạt động tạo nên các kết quả (đầu
ra). Các kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án. Đạt được
mục tiêu trực tiếp là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.
1.1.3. Vai trò của dự án đầu tư
Đối với nhà đầu tư:
Một nhà đầu tư muốn đem tiền đi đầu tư thu lợi nhuận về cho bản thân thì căn cứ
quan trọng nhất để nhà đầu tư có nên đầu tư hay không là dự án đầu tư. Nếu dự án đầu tư
hứa hẹn đem lại khoản lợi cho chủ đầu tư thì nhất định sẽ thu hút được chủ đầu tư thực
hiện. Nhưng để có đủ vốn thực hiện dự án chủ đầu tư phải thuyết phục các tổ chức tài
Dự án góp phần cải thiện đời sống dân cư và cải tiến bộ mặt kinh tế xã hội của
từng vùng và của cả nước, tạo tiền đề cho các công ty, doanh nghiệp phát triển.
Do dự án có vai trò quan trọng như vậy nên dự án phát triển chiếm vị trí cốt yếu
trong hệ thống kế hoạch hoá, trong chiến lược phát triển của công ty, của vùng, của cả
nước. Nó là công cụ để triển khai nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch với hiệu quả kinh tế
xã hội cao nhất.
1.2. TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG
Thất bại thị trường là một thuật ngữ kinh tế học miêu tả tình trạng thị trường
không phân bổ thật hiệu quả các nguồn lực.
Thiệt hại do ô nhiễm môi trường vô cùng đa dạng. Thiệt hại về lợi ích kinh tế, sức
khỏe người dân, suy giảm hệ sinh thái…. Có rất nhiều doanh nghiệp đã vì mục tiêu lợi
nhuận trước mắt mà bỏ qua trách nhiệm với xã hội, thờ ơ trước sức khỏe của con người.
Tất cả các hành vi đó đều vi phạm pháp luật, trái với đạo đức và đi ngược với chủ trương
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
18
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước, đi ngược với xu
thế phát triển chung của thế giới.
Các hành vi đó được gọi là sự thất bại thị trường, do những hành vi tư lợi dẫn đến
những kết quả không có hiệu quả.
Ngoại ứng xuất hiện khi một quá trình sản xuất hay tiêu dùng hàng hóa hay dịch
vụ nào đó gây tác động môi trường (gây thiệt hại hay mang lại lợi ích) đến cả những
người không trực tiếp tham gia vào các giao dịch thị trường.
Khi một quá trình sản xuất hay tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ gây thiệt hại cho
ai đó mà người này không được đền bù thì ta nói quá trình đó đã gây ra một ngoại ứng
tiêu cực. Nói cách khác ngoại ứng tiêu cực xảy ra trong trường hợp một hoạt động sản
xuất hay tiêu dùng nào đó tác động tiêu cực (tạo ra một tổn hại hay chi phí) cho người
khác song người gây ra tác động lại không bị trừng phạt bởi những gì mà anh ta gây ra.
Ngược lại, một hoạt động sản xuất hay tiêu dùng nhất định có thể gây ra ngoại ứng
tích cực nếu như nó đem lại lợi ích cho một người nào đó mà người này không phải trả
Đánh giá tác động môi trường không chỉ thực hiện cho các dự án (hay các cơ sở
chưa đi vào hoạt động) mà nó còn được thực hiện với cả các cơ sở đang hoạt động để biết
được các hoạt động sản xuất kinh doanh đang và sẽ tác động tới môi trường như thế nào.
Có thể khẳng định ĐMC, ĐTM là một trong những công cụ được Nhà nước sử
dụng trong công tác bảo vệ môi trường. Tham gia lập, thẩm định và thực thi đánh giá tác
động môi trường là tổ hợp các cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cộng đồng
dân cư có liên quan. Trong đó, vai trò của cộng đồng trong quá trình lập
và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là vô cùng quan trọng. Ghi
nhận vai trò này, Khoản 8 Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định: “Ý kiến của
ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn, đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án, các
ý kiến không tán thành việc đặt dự án tại địa phương, hoặc không tán thành đối với các
giải pháp bảo vệ môi trường phải được nêu ra trong báo cáo đánh giá tác động môi
trường”.
Đối với một doanh nghiệp thì uy tín đối với cộng đồng nói chung và đối với khách
hàng nói riêng là điều sống còn, nó quyết định đến việc thành công hay thất bại của một
doanh nghiệp. Uy tín ở đây thể hiện ở lòng tin của cộng đồng đối với sản phẩm doanh
nghiệp sản xuất; những lợi ích mà doanh nghiệp đó đem lại cho cuộc sống của cộng
đồng. Tất cả những thứ đó tạo nên danh tiếng và thương hiệu cho một doanh nghiệp.
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
20
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
Các nhà hoạch định chính sách hiểu rất rõ rằng: Doanh nghiệp có thể chấp nhận
những mức phạt hành chính cao nhưng doanh nghiệp lại không thể thờ ơ đứng nhìn uy
tín, thương hiệu của mình trở lên xấu xí trong mắt cộng đồng.
Điều này lí giải tại sao các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường sợ nhất khi hành
vi vi phạm bị phát giác và thông tin rộng rãi cho cộng đồng. Ở các thị trường văn minh
như Mỹ, EU, Singapore… khi “văn hóa tẩy chay” trở lên phổ biến thì sức ép cộng đồng
là một lá chắn hữu hiệu bảo vệ môi trường. Đứng trước sức ép này, doanh nghiệp buộc
phải cân nhắc thiệt hơn khi có ý định coi nhẹ các giải pháp bảo vệ môi trường.
1.3. NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở
1.3.2. Chính sách trong đánh giá tác động môi trường
Một số đánh giá tác động môi trường hiện nay còn mang tính hình thức, chưa phản
ánh được thực chất vấn đề;
Sự quan tâm và nguồn kinh phí cho việc thực hiện các chương trình đánh giá tác
động môi trường chưa lớn;
Công việc giám sát đánh giá thực thi sau khi các dự án đã được phê duyệt còn ít
quan tâm;
Tiếng nói dư luận còn thiếu trọng lượng.
1.3.3. Đánh giá hiệu quả chính sách
Đánh giá tác động môi trường hiện nay còn mang tính hình thức
Một bộ phận nhỏ chủ quản lý và đầu tư coi yêu cầu lập báo cáo ĐTM như là một
thủ tục trong quá trình chuẩn bị để thực hiện dự án, coi ĐTM như một lực cản cho hoạt
động phát triển sản xuất và đầu tư. Vì vậy, khi được yêu cầu lập báo cáo ĐTM chỉ làm
lấy lệ.
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
22
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
Sự quan tâm và nguồn kinh phí thực hiện
Nguồn kinh phí thực hiện ĐTM chiếm một phần nhỏ trong việc. Bởi vậy, để có
báo cáo ĐTM có giá trị là một thách thức đối với việc thực hiện các công việc phục vụ
cho báo cáo, bên cạnh đó cũng thiếu sự quan tâm, chỉ đạo và việc phân định vị trí, vai trò,
chức năng, thẩm định của các dự án còn nhiều vấn đề chồng chéo.
Công tác giám sát sau đánh giá tác động môi trường và các văn bản luật liên quan
Tâm lý của các chủ đầu tư vẫn còn coi nặng hiệu quả của kinh doanh theo hướng
có lợi nhất cho họ. Bỏ mặc quyền lợi chung của xã hội. Do đó việc thực hiện đánh giá tác
động môi trường đôi khi vẫn chưa tốt và được quan tâm thích đáng và đôi khi báo cáo sai
sự thật. Việc này dẫn đến vi phạm pháp luật.
Vai trò của cộng đồng người dân trong đánh giá tác động môi trường
Vấn đề lấy ý kiến nhân dân đôi khi được thực hiện chưa tốt. Việc này minh chứng
bằng việc cho phép triển khai dự án thì xuất hiện nhiều ý kiến của cộng đồng dân cư. Có
phải được xem xét tât cả những ảnh hưởng mong đợi đối với sức khoẻ con người, hệ sinh
thái (bao gồm thực vật và động vật), khí hậu và khí quyển. Một ĐTM cần phải đảm bảo
rằng tất cả những hậu quả cần phải được xem xét trong suốt quá trình thiết kế, thực hiện
và vận hành của dự án.
Tương tự, một ĐTM bao gồm những sự quan tâm của các đảng phái và tổ chức (có
nghĩa là cộng đồng địa phương, các nhà chính trị, các nhà đầu tư) và lồng ghép những
ảnh hưởng xã hội liên quan đến những giải pháp về giới hoặc liên quan tới các nhóm xã
hội đặc biệt trong các dự án (có nghĩa là tái định cư của người dân bản địa vì sự thay đổi
cảnh quan hoặc môi trường, vị trí khảo cổ học, đài tưởng niệm).
Một ĐTM đòi hỏi phải ưu tiên cho những dự án là nguyên nhân của những thay
đổi đáng kể đối với nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh, sự thay đổi có ý nghĩa đối với
hoạt động thực tiễn của nghề đánh cá và nghề nông và xem xét tới khai thác tài nguyên
thuỷ điện. Các dự án hạ tầng, hoạt động công nghiệp, các dự án đổ bỏ và quản lý chất
thải cũng cần một ĐTM.
Tất cả những hậu quả có hại tới môi trường cần phải được tính toán bằng biện
pháp giảm nhẹ, biện pháp bảo vệ môi trường hoặc thay thế. Những biện pháp giảm nhẹ
này thường được trình bày bằng một kế hoạch quản lý môi trường. Một kết luận của
ĐTM cần phải được xem xét lại, sau đó các nhà làm kế hoạch dự án có thể thiết kế đề
xuất dự án với mục tiêu tối thiểu hoá tác động tới môi trường.
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường
24
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: TS. Đinh Đức Trường
1.4.2. Vai trò và lợi ích của đánh giá tác động môi trường
Các dự án phát triển, ngoài việc mang lại các lợi ích kinh tế cho xã hội, còn gây ra
những tác động tiêu cực cho con người và tài nguyên thiên nhiên. Nhiều nước trong quá
trình phát triển thường quan tâm đến những lợi ích kinh tế trước mắt, vì thế trong quá
trình lập kế hoạch phát triển, công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đến một
cách đúng mức. Sự yếu kém của việc lập kế hoạch phát triển đã gây ra tác động tiêu cực
cho chính các hoạt động này của các nước. Việc đầu tiên của công tác bảo vệ môi trường
trong quá trình lập kế hoạch thực hiện một dự án là triển khai đánh giá tác động môi
tế xã hội đã góp phần đưa môi trường đến tình trạng hiện nay. Để khắc phục tình trạng
nêu trên, đánh giá tác động môi trường cần được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để
góp phần quản lý môi trường và phát triển bền vững.
Đánh giá tác động môi trường có các lợi ích trực tiếp và gián tiếp. Đóng góp trực
tiếp của đánh giá tác động môi trường là mang lại những lợi ích môi trường, như giúp
chủ dự án hoàn thành thiết kế hoặc thay đổi vị trí của dự án. Đóng góp gián tiếp có thể là
những lợi ích môi trường do dự án tạo ra, như việc xây dựng các đập thủy điện kéo theo
sự phát triển của một số ngành (du lịch, nuôi trồng hải sản). Triển khai quá trình đánh giá
tác động môi trường càng sớm vào chu trình dự án, lợi ích mang lại của nó càng nhiều.
Nhìn chung những lợi ích của đánh giá tác động môi trường bao gồm:
Hoàn thiện thiết kế và lựa chọn vị trí dự án.
Cung cấp thông tin chuẩn xác cho việc ra quyết định.
Tăng cường trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình phát triển.
Đưa dự án vào đúng bối cảnh môi trường và xã hội của nó.
Gỉam bớt những thiệt hại môi trường.
Làm cho dự án có hiệu quả hơn về mặt kinh tếxã hội.
Đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững.
1.4.3. Đánh giá tác động môi trường và chu trình dự án
Luật pháp của nhiều nước Châu Á yêu cầu thực hiện đánh giá tác động môi trường
đối với tất cả các dự án phát triển quan trọng. Tại nhiều nước, đánh giá tác động môi
trường là một phần nghiên cứu khả thi của dự án. Khi đã có hiệu lực, những quy định luật
pháp về đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa to lớn, thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Một vấn đề khác liên quan đến đánh giá tác động môi trường, đó là tài chính của dự án.
SV: Phạm Thị HươngCQ521754 Lớp: Kinh tếQuản lý Tài nguyên và Môi trường