BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY THUỘC DA ĐỒNG NAI - Pdf 13

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại Trạm Đồng Nai
Bảng 2.2. Lượng mưa các tháng trong năm tại Trạm Đồng Nai
Bảng 2.3. Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm Trạm Đồng Nai
Bảng 2.4. Bảng tổng hợp tốc độ gió tại Trạm Đồng Nai
Bảng 2.5. Chất lượng nước ngầm tại khu vực dự án
Bảng 2.6. Hiện trạng mơi trường khơng khí tại khu vực dự án
Bảng 2.7. Các loại khí thải cách khu dự án 50m cuối hướng gió
Bảng 2.8. Cơ cấu kinh tế của Đồng Nai trong các năm qua
Bảng 2.9. Hiện trạng phát triển nơng – lâm – ngư
Bảng 3.10. St tiêu hao tài ngun của một số nhà máy thuộc da cho một tấn da
ngun liệu
Bảng 3.11. Tỷ lệ giữa các hóa chất sử dụng trong thuộc da truyền thống
Bảng 4.12: Tải lượng chất ơ nhiễm do mỗi người hàng ngày đưa vào mơi trường
Bảng 4.13. Nồng độ các chất trong nước thải sinh hoạt
Bảng 5.14: Đặc trưng của nước thải ở từng cơng đoạn
Bảng 5.15: Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải thuộc da
Bảng 5.16: Lượng chất thải phát sinh khi sản xuất 1 tấn da nguyên liệu
Bảng 5.17: Tóm tắt các tác động mơi trường của cơ sở thuộc da
Bảng 5.18: Đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải
Bảng 5.19: Các giải pháp sản xuất sạch hơn
CHƯƠNG 1: MÔ TẢ TÓM TẮT DỰ ÁN
1.1. Tóm tắt dự án:
• Tên dự án:
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy thuộc da Đồng Nai
• Địa điểm: Khu Công Nghiệp Bàu Xéo, xã Sông Trầu, huyện Thống Nhất, tỉnh
Đồng Nai.
• Diện tích mặt bằng: 28.800 m
2
Hình thức đầu tư: 100% vốn trong nước.
• Chủ dự án:

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC DỰ ÁN
Vị trí dự án nằm trên địa bàn huyện Thống Nhất nhưng nằm trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai nên khí hậu của khu vực dự án nằm trong vùng ảnh hưởng khí hậu chung của tỉnh
Đồng Nai do vậy có thể sử dụng số liệu khí tượng tại trạm Đồng Nai để đánh giá ảnh
hưởng của khí hậu đến phát tán ô nhiễm khi đánh giá tác động môi trường.
2.1.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát tán và chuyển hóa các chất
ô nhiễm trong khí quyển. Nhiệt độ càng cao thì tốc độ các phản ứng hóa học trong khí
quyển càng lớn và thời gian lưu các chất ô nhiễm trong khí quyển càng nhỏ. Ngoài ra
nhiệt độ không khí còn có tác dụng tích cực trong quá trình phát tán, pha loãng các chất
gây mùi hôi, là yếu tố quan trọng tác động lên sức khỏe công nhân trong quá trình lao
động. Vì vậy trong quá trình tính toán, dự báo ô nhiễm không khí và thiết kế các hệ
thống khống chế ô nhiễm cần phân tích yếu tố nhiệt độ. Kết quả theo dõi thay đổi nhiệt
độ tại tỉnh Đồng Nai nhiều năm được tóm tắt như sau:
Bảng 2.1. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại Trạm Đồng Nai
THÁNG NĂM 2007 NĂM 2008 NĂM 2009 NĂM 2010 NĂM 2011
1 26.1 25.7 25.1 26.4 26.7
2 26.0 26.2 27.0 26.4 27.0
3 27.5 28.0 28.3 28.5 28.6
4 29.3 29.1 29.7 29.6 29.8
5 28.2 29.2 28.2 28.7 28.5
6 27.8 27.8 28.1 27.4 27.6
7 27.1 28.0 27.2 27.5 27.4
8 27.1 26.7 27.2 27.2 27.2
9 26.5 27.2 27.0 27.0 26.9
10 26.7 27.1 26.7 27.1 26.7
11 26.1 26.8 26.7 27.3 26.7
12 25.0 26.8 25.4 25.7 25.8
Trung
bình năm

loại bụi và chất ô nhiễm có trong khí quyển làm giảm nồng độ các chất này, nước mưa
sẽ pha loãng và mang theo các chất ô nhiễm trên mặt đất.
Chất lượng nước mưa phụ thuộc vào chất lượng khí quyển và môi trường khu vực.
Khi xem xét và đánh giá khả năng gây ô nhiễm nguồn nước, tính toán lượng nước thải
và hệ thống xử lý nước thải cần quan tâm đến lượng nước mưa, hệ thống thoát nước
mưa của cơ sở.
Thông thường để giảm khối lượng nước thải cần phải xử lý, vào mùa mưa cần phải
tách riêng hệ thống thoát nước mưa với hệ thống thoát nước thải sản xuất. Lượng mưa
trung bình tại trạm Đồng Nai khoảng 1,578.7mm/năm; Lượng mưa lớn nhất trong năm
là 2,676mm; Số ngày mưa trong năm là 124 ngày, lượng mưa lớn nhất trong ngày là
147mm.
Kết quả theo dõi lượng mưa tại tỉnh Đồng Nai nhiều năm được tóm tắt như sau:
Bảng 2.2. Lượng mưa các tháng trong năm tại Trạm Đồng Nai
THÁNG NĂM 2007 NĂM 2008 NĂM 2009 NĂM 2010 NĂM 2011
1 - 71.3 74.2 - 0.7
2 - 35.3 - - -
3 36.7 27.5 116.5 - -
4 25.5 99.3 292.8 58.70 85.1
5 350.5 143.5 188.3 72.40 218.3
6 142.8 558.9 437.3 328.50 322.3
7 230.1 313.2 150.4 144.90 283.2
8 202.1 235.3 364.5 216.20 241.1
9 672.4 169.5 252.6 252.90 171.8
10 312.9 469.9 314.2 323.50 173.5
11 68.1 156.4 47.4 173.90 82.6
12 42.7 167.7 134.2 153.20 0.1
Tổng lượng
mưa
2083.8 2447.8 2372.4 1724.2 1578.7
2.1.3. Độ ẩm không khí

2,200 giờ/năm. Hàng ngày có đến 7 ÷ 8 giờ có nắng (vào mùa khô) và cường độ chiếu
sáng vào giữa trưa có thể lên tới 100,000 lux.
Bức xạ mặt trời gồm 3 loại cơ bản: bức xạ trực tiếp, bức xạ tán xạ và bức xạ tổng
cộng. Cường độ bức xạ trực tiếp lớn nhất trong tháng 2 và 3 có thể đạt đến 0.72 ÷ 0.79
cal/cm
2
.phút, từ tháng 6 đến tháng 12 có thể đạt 0.42 ÷ 0.46 cal/cm
2
.phút vào giờ giữa
trưa.
Cường độ bức xạ trực tiếp đi đến mặt thẳng góc với tia mặt trời có thể đạt 0.77 ÷
0.88cal/cm
2
.phút vào những giờ trưa của các tháng nắng và đạt 0.42 ÷ 0.56cal/cm
2
.phút
vào những giờ trưa của các tháng mưa (từ tháng 6 đến tháng 12).
Bức xạ tán xạ còn gọi là bức xạ khuếch tán - là năng lượng đi từ bầu trời và mây
xuống đất. Cường độ bức xạ tán xạ lớn nhất vào các tháng mùa mưa và nhỏ nhất vào các
tháng mùa khô. Vào những giờ trưa, cường độ bức xạ tán xạ đạt 0.43 ÷ 0.50cal
/cm
2
.phút và 0.29 ÷ 0.36 cal /cm
2
.phút.
Cường độ bức xạ tán xạ tổng cộng lớn nhất xảy ra vào tháng 3, nhỏ nhất vào các
tháng 11 và tháng 12; và đạt các giá trị vào giờ trưa 1.12 ÷ 1.2 và 0.78 ÷ 0.86 cal
/cm
2
.phút.

11 S 8 15
12 NW và NE 6 2
T.bình NE và SW 8 nhiều
2.2. ĐỊA HÌNH VÀ ĐỊA CHẤT
Khu vực thực hiện dự án nói chung có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc phổ
biến từ từ 0 –3
0
. Hướng dốc chung từ Nam xuống Bắc, cao độ trung bình so với mực
nước biển là 30m.
Nền đất cứng, cường độ chịu nén cao. Sức chịu tải của nền đất tại KCN Bàu Xéo
2,4 kg/cm2.
2.3. HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHU VỰC DỰ ÁN
2.3.1. Hiện trạng môi trường nước ngầm:
Bảng 2.5. Chất lượng nước ngầm tại khu vực dự án
STT CHỈ TIÊU PHÂN
TÍCH
KẾT QUẢ QCVN 09:2008/BTNMT
1 pH 5.90 5,5 - 8.5
2 NO
3
(mg/l) 0 15
3 NO
2
(mg/l) 0.3 1
4 Fe
tc
(mg/l) 0.06 5
5 Độ cứng(mg/l CaCO
3
) 12 500

Pb
(mg/m
3
)
Trung tâm
khu vực dự
án
64 0.29 0.67 0.03 0.056 1.23 <0.002
Thời gian đo: 11h trưa, thời gian lấy mẫu trung bình 1 giờ
Kết quả phân tích cho thấy, môi trường của Dự án hiện nay khá trong sạch, kết quả
này sẽ là cơ sở để đánh giá hiệu quả của các công trình xử lý khí thải nhằm bảo vệ môi
trường không khí tại khu vực dự án luôn trong sạch.
Bảng 2.7. Các loại khí thải cách khu dự án 50m cuối hướng gió.
Đơn vị: Microgam trên mét khối (
µ
g/m
3
)
Chỉ tiêu Nồng độ
QCVN 05 :
2009/BTNMT
NO
2
100 200
SO
2
300 350
CO 3500 30000
Bụi 280 300
Nguồn: Trung tâm Công nghệ và Môi trường ETC - ngày 10/3/2011

Nông lâm ngư
nghiệp
43,47% 43,48% 40,63% 39,99% 41.22%
Công nghiệp –
XDCB
20,62% 22,25% 25,55% 25,55% 25,63%
Thương mại dịch vụ 35.92% 34,26% 33,82% 34,45% 33,15%
Hiện tại các ngành kinh tế mũi nhọn đã phát triển:
* Nông nghiệp:
Phát triển các vùng cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày ổn định như: vùng
chuyên canh mía, vùng chuyên canh cây mì, vùng chuyên canh cao su, vùng chuyên
canh cây đậu phộng, tạo nhiều giống vật nuôi có năng suất cao đưa vào sản xuất đại trà.
* Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Đã xây dựng được hệ thống các nhà máy chế biến nông sản tại các vùng chuyên
canh như: các nhà máy đường, các nhà máy chế biến bột củ mì, các nhà máy chế biến
mủ cao su. Hạt nhân công nghiệp của tỉnh là các KCN tập trung, trong đó KCN Biên
Hòa 1 đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này tạo thế cho việc
chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo kết cấu công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.
* Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp
Bảng 2.9. Hiện trạng phát triển nông – lâm – ngư
CÁC THÔNG
SỐ
2004 2005 2006 2007 2008 2009
Trồng trọt 88,08% 88,89% 87,34% 85,61% 85,95% 82,72%
Chăn nuôi 11,15% 9,99% 11,64% 13,28% 13,03% 15,08%
Dịch vụ 0,77% 1,12% 1,02% 1,11% 1,02% 1,47%
2.4.2. Điều kiện kinh tế xã hội vùng dự án
Khu vực Dự án thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Người dân ở đây sinh sống
chủ yếu làm thuê, buôn bán nhỏ. Nhìn chung, đời sống người dân trong huyện khá
nghèo. Hoạt động của Dự án sẽ tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người trong huyện,

Nguồn nguyên liệu dùng cho thuộc da đủ đáp ứng nhu cầu ngành da giầy nói
chung và thuộc da nói riêng. Da thuộc được sản xuất từ 3 nguồn là da trâu, bò và lợn.
Với đàn trâubò năm 2003 khoảng trên 7 triệu con và mức tăng trưởng trung bình hàng
năm khoảng 3,5%, mỗi năm có thể thu mua được khoảng 700.000 con da, ước tính
khoảng20.000 tấn/năm, có thể đủ để phục vụ cho nhu cầu của các cơ sở thuộc da hiện
nay. Tương tự như vậy với da lợn. Chăn nuôi lợn là nghề nông nghiệp truyền thống của
Việt Nam, trong những năm qua, chăn nuôi lợn vẫn rất phát triển. Hàng năm, số lượng
đầu con tăng từ 250.000 đến 300.000 con với tỷ lệ tăng trưởng bình quân là 5-
5,2%/năm. Tính đến năm 2001, toàn quốc có 20.827,35 con. Trung bình mỗi con thu hồi
được 7kg da, nếu tận thu được 100% nguồn da nguyên liệu thì sẽ thu được lượng da là
23.025,597 m2. Hiện nay, tỷ lệ lợn ngoại và lợn lai chiếm khoảng 40%- 50% số lợn của
cả nước, trung bình một con nặng khoảng 60-70kg. Và với lượng da thuộc có thể sản
xuất từ nguồn nguyên liệu trong nước nêu trên, ngành da giầy Việt nam có thể thay thế
việc nhập ngoại da lót từ thị trường Đài Loan, Trung Quốc và một số nước châu Âu.
Công nghiệp thuộc da Việt nam còn nhiều điểm hạn chế. Hoá chất phục vụ quá
trình thuộc da là một trong các yếu tố quyết định chất lượng da thuộc mà hiện nay,
ngành công nghiệp hoá chất trong nước chưa có khả năng cung ứng. Các doanh nghiệp
thuộc da phải nhập phần lớn hoá chất của nước ngoài, thiếu sự chủ động, giá thành cao.
Bên cạnh đó, khả năng cập nhật, lựa chọn hoá chất mới phù hợp cho từng công đoạn còn
hạn chế. Công nghệ và thiết bị chuyên dùng phần lớn còn ở mức độ trung bình, lạc hậu
và không đồng bộ, đặc biệt là các cơ sở phía Bắc. Mặc dù các cơ sở thuộc da đã được
các hãng bán hoá chất hướng dẫn một số công nghệ mới trong quá trình sử dụng hoá
chất của họ, nhưng kiến thức công nghệ còn rời rạc, thiếu cơ bản và tổng thể. Nguồn lao
động trong ngành còn thiếu, đa số còn chưa được đào tạo bài bản, chuyên ngành sâu,
thiếu kinh nghiệm và cập nhật được trình độ công nghệ của các nước tiên tiến, do đó sản
phẩm da thuộc trong nước còn đơn điệu, chưa phong phú.
Thuộc da là ngành công nghiệp có phát thải gây ô nhiễm môi trường dưới cả 3
dạng rắn, lỏng và khí. Chất hữu cơ không mong muốn như lông, mỡ, thịt… trong
nguyên liệu ban đầu (da tươi, da muối) được loại bỏ cùng hóa chất đã sử dụng (vô cơ và
hữu cơ, đặc biệt là crôm III). Sự phân hủy các chất hữu cơ có trong nguyên liệu ban đầu

sunphit (NaHS hoặc Na2S) và vôi được sử dụng để loại bỏ các thành phần keratin
(lông, chân lông, biểu bì) và mỡ trong da nguyên liệu. Một số hợp chất hữu cơ cũng có
thể được sử dụng thay thế muối sunfit như mercaptan, sodium thioglycolate cùng kiềm
mạnh và hợp chất amino. Enzim cũng có thể được sử dụng bổ sung để cải tiến hiệu quả
quá trình.
Thời gian tẩy lông khoảng 18 giờ. Tùy theo yêu cầu, mục đích sử dụng và loại da
thuộc mà sử dụng các phương pháp tẩy lông khác nhau. Có một số phương pháp tẩy
lông chính sau:
- Tẩy lông bằng phương pháp bôi phết: Da sau khi được hồi tươi kỹ được bôi hóa chất
tẩy lông vào mặt thịt và chất đống (mặt lông vào với mặt lông, mặt thịt vào với mặt thịt).
Lông được loại bỏ bằng máy có lưỡi dao tù hoặc nạo bằng tay. Phương pháp này được
áp dụng cho các loại da nhỏ hoặc các loại da mà lông có giá trị như da cừu.
- Tẩy lông da bò theo 2 phương pháp có thu hồi lại lông hoặc phá hủy lông (tẩy lông
nhanh).
- Tẩy lông bằng men theo 2 phương pháp cổ điển hoặc kết hợp. Phương pháp tẩy lổng
bằng men cổ điển dùng vi sinh vật phân hủy bên ngoài các protit không có cấu trúc sợi
và keratin non trong da ướt, sau đó dùng phương pháp cơ học để loại bỏ lông khỏi bề
mặt da. Phương pháp tẩy lông bằng men sử dụng kết hợp men-vôi-sunfua để giảm thời
gian tẩy lông.
Sau khi tẩy lông, da được nạo thịt, mỡ, bạc nhạc và xén diềm.
Ngâm vôi là quá trình đưa da đã nạo trở lại thiết bị phản ứng (hồi tươi, tẩy lông) hoặc
bể chứa nước vôi cũ. Trong khâu này, các protein không có dạng sợi bị phân huỷ. Thời
gian ngâm vôi trong 24 giờ.
Da đã nạo được ngâm vôi trong 24 giờ (nước 250%+CaO 1%) được xẻ theo
chiều dày thành 2 phần là cật và váng. Đối với da thuộc mềm: da cật chiếm 55-60% và
da váng chiếm 40-45% hoặc da cật chiếm 65-70% và da váng chiếm 30-35%. Tỷ lệ này
phụ thuộc vào từng loại da thành phẩm.
• Tẩy vôi, làm mềm
Tẩy vôi được thực hiện nhằm loại bỏ hoàn toàn hay một phần các chất như vôi và
các chất kiềm khác có trong quá trình tẩy lông, ngâm vôi trên bề mặt da. Quá trình này

Tại công đoạn này, sợi collagen được ổn định bằng các chất thuộc nhờ các liên kết
chéo với các chất này. Phương pháp thuộc crôm truyền thống được tiến hành trong
phulông ở nhiệt độ 18-240C, 100-150% nước theo trọng lượng da trần. Chắt 1/3 nước
làm xốp, rồi bổ sung 7-8% bột crôm có độ kiềm 33-450SCh. Bột crôm chia làm hai lần.
Cuối quá trình thuộc thì cho chất nâng kiềm NaHCO3 để đạt pH = 3,8-4,2. Thời gian
nâng kiềm 2-3 giờ.
• Nâng kiềm:
Đây là phương pháp đẩy nhanh quá trình kết hợp của crôm, nâng cao khả năng phản
ứng của colagen bằng nâng kiềm từ từ để trung hòa axit và nâng cao độ kiềm của muối
phức crôm. Quá trình nâng kiềm phải thực hiện một cách từ từ vì vậy không được cho
chất nâng kiềm vào phulong 1 lần. Chất nâng kiềm cần đảm bảo trung hòa axit một cách
từ từ để độ kiềm của muối thuộc nâng dần từ giá trị ban đầu khảng 300SCh lên khoảng
650SCh ở cuối quá trình thuộc. Hóa chất thường sử dụng để nâng kiềm là NaHCO3,
Na2CO3, đôlômit, khoáng magnezit (MgO).
• Hoàn thành ướt :
Da sau khi thuộc được chuyển sang công đoạn hoàn thành ướt nhằm tạo cho da thành
phẩm có được các tính chất của mặt hàng yêu cầu.
Hoàn thành ướt được chia thành các công đoạn chính sau: Ép nước, bào, xẻ; thuộc lại da
thuộc crôm.
• Ép nước, bào, xẻ :
- Ép nước: Mục đích của công đoạn này là loại nước ra khỏi da để da có độ ẩm phù hợp
(50-55%) cho công đoạn bào. Quá trình này được thực hiện trong máy ép.
- Bào da: Mục đích của công đoạn này là hiệu chỉnh lại độ dày theo yêu cầu của mặt
hàng.
- Xẻ: Mục đích của công đoạn này là để lấy cự ly.
Thuộc lại da thuộc crôm
- Trung hòa: điện tích của da bằng 0 khi pH của da bằng 5,6. Da có pH thấp hơn pH của
điểm đẳng điện thì sẽ mang điện tích dương, sẽ tác dụng rất dễ hoặc tác dụng ngay ở bề
mặt với các tác nhân mang điện tích âm, tạo nên sự phân bố không đồng đều của các tác
nhân đó và hạn chế khả năng xuyên sâu của các tác nhân anion khác. Ngược lại nếu da

giúp nâng độ ẩm của mặt da rất đều, tuy nhiên đầu tư tốn kém và thường được dùng đối
với các loại da cao cấp.
Vò mềm nhằm mục đích là làm cấu trúc sợi da trở lại vị trí ban đầu, vì trong quá
trình sấy các sợi da dính chặt với nhau. Khi cấu trúc sợi đã trở nên đồng đều, da sẽ trở
nên mềm mại hơn. Quá trình vò mềm có thể được thực hiện bằng tay, bằng máy hoặc
bằng tác động cơ học khác như quay đập khan trong phulông.
• Trau chuốt :
Trau chuốt là công đoạn làm tăng khả năng sử dụng của da thành phẩm và tạo cho da
thành phẩm đồng đều về mầu sắc. Ngoài ra còn khắc phục các khuyết tật ở bề mặt da,
tạo cho bề mặt da đồng đều, không còn khuyết tật, đồng thời tạo cho bề mặt da các hoa
vân khác nhau tùy theo yêu cầu sử dụng và tăng khả năng bảo vệ cho mặt da.
Thành phần của hóa chất trau chuốt gồm: pigment, chất kết dính, chất bóng, dung
môi, các chất trợ như chất làm đầy, làm mềm và một số chất phụ trợ đặc biệt khác.
Da nguyên liệu bao gồm da tươi (hoặc da muối) được xử lý bằng nhiệt, hóa chất và
rửa bằng nước để tạo thành da thành phẩm.

3.2. Tiêu thụ nguyên, nhiên liệu :
Các nhà máy thuộc da ở Việt Nam chủ yếu áp dụng công nghệ truyền thống. Định
mức tiêu thụ tài nguyên và phát thải dựa trên lượng da nguyên liệu đầu vào (thường tính
cho 1 tấn da nguyên liệu).
Bảng 3.10. Suât tiêu hao tài nguyên của một số nhà máy thuộc da cho một tấn da
nguyên liệu
Tên tài nguyên Đơn vị Số liệu
Nước m3 45
Năng lượng GJ 10.2 – 10.5
Điện Kwh 150 - 200
Than Kg 400 - 600
Bột crom( Cr2O3) Kg 88
Tanin Kg 25
Dầu Kg 22

Thay thế các hóa chất bằng hóa chất thân thiện với môi trường sẽ giảm tải lượng ô
nhiễm cho hệ thống xử lý nước thải.
Hiệu suất hấp thu crom theo truyền thống đạt thấp. Theo nghiên cứu trên thế giới,
phần không được sử dụng (30-50%) sẽ bị thải bỏ ra nước thải. Các cải tiến hiện nay cho
thấy tỷ lệ hấp thu có thể đạt tới 80-90%.
3.2.3 Nước :
Mức tiêu thụ nước trong nhà máy thuộc da (da muối) áp dụng công nghệ thuộc
truyền thống vận hành tốt nằm trong khoảng 30 -35 m3/tấn da nguyên liệu.
Mức tiêu thụ nước phụ thuộc vào hệ thống thiết bị, phương thức quản lý và vận hành
của mỗi nhà máy. Nước sử dụng ở hầu hết các công đoạn trong quá trình thuộc da: hồi
tươi, rửa, tẩy lông, ngâm vôi, làm mềm, làm xốp, thuộc da, hoàn thành ướt, vệ sinh thiết
bị nhà xưởng, nồi hơi.
Hiện nay ở Việt Nam, lượng nước trung bình sử dụng cho 1 tấn da muối nguyên
liệu là 40-50 m3. Trong khi công nghệ truyền thống lượng nước sử dụng là tốt nhất
trong khoảng 30 – 35 m3/ tấn da muối nguyên liệu. Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Các cơ sở thuộc da chưa áp dụng triệt để công nghệ mới do thiếu trang
thiết bị và cán bộ kỹ thuật chuyên ngành.
- Công nhân không được đào tạo nghề cơ bản, vì vậy các thao tác kỹ thuật
không chính xác.
- Các nhà sản xuất chưa ý thức được giá trị nguồn nước và tác động của nước thải đến
môi trường.
- Các nhà máy sản xuất chưa có cơ hội tiếp cận được với các giải pháp sản xuất sạch
hơnCHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MƠI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG
DỰ ÁN
4.1. Các tác động đến con người và môi trường
Các tác động điển hình trong giai đoạn này được mô tả và đánh giá một
cách tổng quát thông qua các yếu tố gây ô nhiễm như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status