1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 5 năm trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại WTO,
cùng với các nước trên thế giới, Việt Nam đã phải cố gắng rất nhiều để trải qua các
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Qua đây, ta đã thấy được tầm quan trọng của tín
dụng trong vai trò là “đòn bẩy” của nền kinh tế cũng như là một công cụ đắc lực để
hỗ trợ cho Nhà nước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả của nền
kinh tế. Do vậy theo dự đoán nhu cầu về vốn trong thời kỳ hậu khủng hoảng sẽ
ngày gia tăng để đáp ứng nhu cầu phục hồi sản xuất kinh doanh cũng như nâng cao
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Vì vậy nên kinh tế sẽ cần không ít vốn
để đáp ứng nhu cầu cần thiết này. Mà nơi đến của các doanh nghiệp không đâu khác
chính là các tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên trong thời qua, đặc biệt là thời kỳ khủng hoảng vấn đề tín dụng tại
các tổ chức tín dụng trong nước đã bộc lộ những yếu kém nhất định nên hoạt động
tín dụng đã gặp không ít những khó khăn và rủi ro thường xuyên rình rập. Mà hoạt
động tín dụng lại mang lại thu nhập chủ yếu cho các tổ chức tín dụng. Chính vì vậy,
làm thế nào để phân tích một cách chính xác, khoa học các nguyên nhân phát sinh
rủi ro tín dụng. Từ đó, có thể đề ra những giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng
tín dụng là nhiệm vụ hàng đầu của các ngân hàng thương mại cũng như của các tổ
chức tín dụng trong nước.
Trong quá trình học tập tại Học Viện Ngân Hàng và nghiên cứu tại Quỹ tín
dụng nhân dân Trung ương - Chi nhánh Thái Bình, em nhận thấy được tầm quan
trọng của công tác nâng cao chất lượng tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của
các tổ chức tín dụng. Do đó, em đã quyết định chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp
của mình là: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của Quỹ
tín dụng nhân dân Trung Ương - Chi nhánh Thái Bình”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến hoạt
động tín dụng và chất lượng tín dụng, cũng như sự cần thiết của hoạt động tín dụng.
1.1.1. Khái niệm
Tín dụng (Credit) xuất phát từ gốc La tinh Credo, có nghĩa là một sự tin tưởng
tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin.
Có thể định nghĩa quan hệ tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là
quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện
vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về
một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về tín dụng nhưng tựu chung lại đều có
3 nội dung hay đặc trưng sau:
- Thứ nhất: Là quan hệ chuyển nhượng một lượng giá trị mang tính chất tạm
thời. Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc hiện vật. Tính chất tạm
thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó là kết
quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm
bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó. Sự
thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài
chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến những rủi ro, những nguy
cơ phá hủy quan hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển
nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian
nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó.
- Thứ hai: Tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả
đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: Gốc và lãi. Phần lãi
đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Sự chênh lệch này
là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời. Nói cách khác, nó là giá trả cho sự hy
sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để
người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó.
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
3
4
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
- Thứ ba: Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và
5
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của
xã hội.
Các nguồn tín dụng được cung ứng luôn đi kèm với các điều kiện tín dụng để
hạn chế rủi ro và với áp lực phải trả cả gốc và lãi vay buộc người đi vay phải quan
tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn, đến khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế
trong hoạt động kinh doanh.
Tín dụng là kênh truyền tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh
tế và tạo công ăn việc làm. Tín dụng trở thành một công cụ quan trọng để Nhà nước
thực hiện các mục tiêu vĩ mô này. Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều
kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận
động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu và tổng cung của
nền kinh tế cả về quy mô và kết cấu, đồng thời cũng ảnh hưởng tới các điều kiện
sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động
của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết.
Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội
Thông qua các hình thức tín dụng ưu đãi như tín dụng cho người nghèo với lãi
suất thấp, tín dụng đối với các đối tượng chính sách khác… sẽ góp phần nâng cao
điều kiện sống và tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế của các đối tượng này. Khi sử
dụng vốn tín dụng ưu đãi, các đối tượng chính sách này buộc phải quan tâm đến
hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn, kết hợp với các ưu đãi có
được, điều kiện tài chính của họ sẽ được cải thiện, từng bước dần có thể độc lập với
nguồn vốn tài trợ. Đó chính là mục đích chính của việc sử dụng phương thức tài trợ
các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng.
1.1.3. Phân loại tín dụng
1.1.3.1. Dựa vào thời hạn cho vay
- Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay tới 12 tháng, được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi
hàng đều phải làm các thủ tục (Khách hàng lập kế hoạch vay vốn, ngân hàng xét
duyệt cho vay ) và ký hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương pháp cho vay mà TCTD ( Tổ
chức tín dụng) và khách hàng thoả thuận xác định một hạn mức tín dụng duy trì một
thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
6
7
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
một thời gian nhất định, được ngân hàng và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là loại tín dụng mà qua đó TCTD cho phép
khách hàng được sử dụng vượt quá số tiền mà họ đã ký thác ở ngân hàng trên tài
khoản vãng lai với một số lượng và thời hạn nhất định.
1.1.3.4. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
- Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng.
- Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế
chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba.
1.1.3.5. Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ, hay còn gọi là cho vay trả góp, là loại cho
vay khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.
- Cho vay chỉ có một thời hạn trả nợ, hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần,
khi đáo hạn.
- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tuỳ vào khả
năng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
1.1.3.6. Dựa vào hình thái giá trị tín dụng
- Cho vay bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cung cấp bằng tiền
hội của đất nước nói chung và của địa phương nói riêng, trên cơ sở thu hồi được
gốc và lãi đúng hạn như đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng để đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của tổ chức tín dụng.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng
1.2.2.1. Đối với nền kinh tế xã hội
Lịch sử hình thành và phát triển quan hệ tín dụng cho ta thấy vai trò quan
trọng của nó trong nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển.
Cùng với sự sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng ngày càng phát triển nhằm
cung cấp thêm các phương tiện giao dịch để đáp ứng nhu cầu giao dịch trong xã hội.
Trong điều kiện đó, nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề ngày càng được quan
tâm vì:
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
8
9
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
- Nâng cao chất lượng tín dụng để đưa hoạt động tín dụng thích nghi với điều
kiện kinh tế thị trường, phục vụ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường.
- Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để TCTD làm tốt chức năng trung
tâm thanh toán, vì khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín
dụng. Nó tạo điều kiện cho TCTD làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền
kinh tế quốc dân là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng góp phần điều hoà vốn
trong nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ góp phần tăng vòng quay vốn, huy động tới
mức tối đa lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội để phục vụ quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
- Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ làm giảm tối thiểu lượng tiền thừa trong lưu
thông. Nó góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy
tín quốc gia. Đồng thời, thông qua các công trình đầu tư vốn phát huy tác dụng, tạo
ra những sản phẩm, dịch vụ cho nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng tín dụng tạo điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại vào
động tài chính và kinh doanh của khách hàng. Do vậy, việc nâng cao chất lượng tín
dụng góp phần phát triển chất lượng sản xuất kinh doanh cũng như làm lành mạnh
hoá tình hình tài chính của khách hàng.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
1.2.3.1. Các nhân tố khách quan
Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên không tác động trực tiếp mà tác động gián tiếp đến chất
lượng tín dụng của các TCTD. Bởi đôi khi thiên tai, bão lũ, dịch bệnh… xảy ra bất
ngờ mà con người không thể lường trước được làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế. Đôi khi có thể làm sụp đổ cơ đồ
của một hãng kinh doanh và đặt người đi vay từng làm ăn có lãi vào thế thua lỗ. Từ
đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến khả năng chi trả của người đi vay và dẫn đến chất
lượng tín dụng của TCTD bị hạ thấp.
Môi trường chính trị - xã hội
Sự ổn định của môi trường chính trị, xã hội là một tiêu chí quan trọng để ra
quyết định của các nhà đầu tư. Nếu môi trường này ổn định thì các doanh nghiệp sẽ
yên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn tín dụng TCTD sẽ tăng
lên. Ngược lại nếu môi trường bất ổn thì các doanh nghiệp sẽ thu hẹp sản xuất để bảo
toàn vốn, hạn chế rủi ro khi đó nhu cầu vốn cho vay dự án cũng giảm sút theo.
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
10
11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động tới
chất lượng tín dụng. Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì chất lượng của các
khoản tín dụng sẽ được nâng cao. Ngược lại, sự thay đổi theo chiều hướng xấu thì
sẽ làm cho chất lượng các khoản tín dụng xấu đi ngoài ý muốn.
Nước ta đang trên con đường hội nhập với nền kinh tế thế giới. Do vậy chính
sách và cơ chế vĩ mô của Nhà nước liên tục có sự điều chỉnh, đổi mới. Đồng thời,
bị mất vốn, khách hàng không thể trả nợ gây ra các khoản nợ khó đòi cho TCTD.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng có thể xảy ra khi khách hàng cố tình vi phạm
cam kết với TCTD. Nguyên tắc tín nhiệm trong quan hệ tín dụng bị cố ý phá bỏ nếu
đạo đức của khách hàng và các ràng buộc chưa được quan tâm đúng mức.
Các nhân tố thuộc về bản thân TCTD
Chính sách tín dụng : Là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của TCTD. Bên
cạnh việc phải phù hợp với đường lối phát triển của Nhà nước thì chính sách tín
dụng còn phải đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của người gửi tiền, người đi vay
và quyền lợi của chính bản thân TCTD. Chính sách tín dụng phải tạo ra sự công
bằng, không những phải đảm bảo an toàn cho hoạt động của TCTD mà còn phải
đảm bảo đủ sức hấp dẫn đối với khách hàng. Một chính sách tín dụng đồng bộ,
thống nhất và đầy đủ, đúng đắn sẽ xác định phương hướng đúng đắn cho cán bộ tín
dụng. Ngược lại, một chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất sẽ
tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không
đúng đối tượng tạo kẽ hở cho người sử dụng vốn không đem lại hiệu quả kinh tế,
dẫn đến rủi ro tín dụng.
Công tác tổ chức bộ máy hoạt động của tổ chức tín dụng: Công tác tổ chức
không chỉ tác động tới chất lượng tín dụng mà còn tác động tới mọi hoạt động của
TCTD. Nếu công tác tổ chức không khoa học sẽ làm ảnh hưởng tới thời gian ra
quyết định đối với món vay, không đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng,
không theo dõi sát sao được công việc.
Chất lượng nhân sự: Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong
quản lý vốn tín dụng nói riêng cũng như trong hoạt động của TCTD nói chung. Việc
tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết
với nghề, giỏi chuyên môn, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc
biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên
quan đến hoạt động tín dụng, có năng lực phân tích và xử lý dự án xin vay, đánh giá
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
12
13
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
13
14
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Hệ thống thông tin tín dụng: Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt hiện
nay thông tin trở thành một yếu tố vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp.
Trong cạnh tranh ai nắm được thông tin trước là người có khả năng dành chiến
thắng lớn hơn. Đối với hoạt động tín dụng thì thông tin là một yếu tố hết sức cần
thiết để xem xét, quyết định cho vay hay không cho vay. Đồng thời để theo dõi,
quản lý khoản cho vay với mục đích đảm bảo an toàn và hiệu quả đối với khoản vốn
cho vay. Thông tin càng chính xác, kịp thời, đầy đủ và toàn diện thì công tác tín
dụng của TCTD càng được thực hiện tốt và các rủi ro sẽ được hạn chế ở mức thấp
nhất có thể, chất lượng tín dụng được nâng cao hơn.
Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng: Kiểm soát hoạt động tín dụng
là công việc cần thiết đối với mỗi TCTD, công tác kiểm tra càng thường xuyên,
càng chặt chẽ, càng giúp cho hoạt động tín dụng đạt được hiệu quả cao. Thông qua
việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng sẽ được kịp thời phát hiện ra
những sai sót, để có thể kịp thời khắc phục và sữa chữa.
Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng: Tăng cường đổi mới trang thiết
bị, nâng cấp máy móc tin học công nghệ là đòn bẩy của sự phát triển, là điều kiện
để mỗi TCTD hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế. Hiện đại hoá công nghệ
nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu quản lý và tăng cường cạnh
tranh để có thị phần khách hàng lớn trong hệ thống TCTD quốc gia.
1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.2.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá định tính
Có thể nói thước đo chất lượng tín dụng của một TCTD chính là sự hài lòng
của khách hàng, đồng thời TCTD cũng phải đảm bảo hài hoà với an toàn và đạt hiệu
quả tín dụng cao nhất.
Trước hết, chất lượng tín dụng của TCTD phụ thuộc vào uy tín của TCTD đó. Nếu
một TCTD có uy tín thì sẽ có khả năng thu hút được nhiều khách hàng hơn. Chất
Quy mô kết cấu nguồn vốn huy động là số lượng vốn mà TCTD huy động
được tại thời điểm xem xét đánh giá. Kết cấu nguồn vốn huy động là tỷ trọng vốn
huy động chia theo thời gian, lãi suất, đơn vị tiền tệ…trong tổng nguồn vốn huy
động. Việc tập trung nguồn vốn lớn, kết cấu hợp lý về thời hạn, lãi suất, đơn vị tiền
tệ sẽ đảm bảo cho mỗi TCTD có khả năng tự chủ về vốn, lãi suất, có khả năng mở
rộng đầu tư tín dụng để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Chính vì vậy, đây
là chỉ tiêu gián tiếp đánh giá chất lượng tín dụng.
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
15
16
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Doanh số cho vay
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà TCTD đã
phát ra cho vay trong một khoảng thời gian nào đó, không kể món cho vay đó đã
thu hồi hay chưa. Doanh số cho vay thường được xác định theo tháng, quý, năm,
chủ yếu là năm.
Doanh số cho vay cho thấy được khả năng hoạt động cho vay qua các năm, do
đó có thể thấy được khả năng mở rộng cho vay. Thêm vào đó nếu biết được doanh
số cho vay của nhiều thời kỳ cũng thấy được phần nào xu hướng hoạt động cho vay.
Doanh số cho vay thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng, còn tốc
độ tăng doanh số cho vay thể hiện khả năng mở rộng quy mô cho vay các thời kỳ,
doanh số cho vay lớn và tốc độ tăng nhanh cho thấy khả năng mở rộng tín dụng cho
vay của TCTD là rất tốt. Tuy nhiên như trên đã phân tích đó mới chỉ là điều kiện
cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để khẳng định hiệu quả hoạt động tín dụng mà
còn kết hợp xem xét tổng hợp các chỉ tiêu khác.
Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là toàn bộ các món nợ mà TCTD đã thu về từ khoản cho vay
của TCTD kể cả của kỳ hiện tại và kỳ trước đó. Qua chỉ tiêu này ta có thể thấy được
các khoản nợ mới phát sinh và các khoản nợ của thời kỳ trước. Từ đó cũng cho ta
thấy được khả năng thu nợ ở kỳ tiếp theo. Đồng thời cho biết TCTD làm ăn có hiệu
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay vốn tín
dụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều
chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng
quay vốn tín dụng nhanh nên TCTD đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp, mặt khác TCTD có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy,
hệ số này càng tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín
dụng càng cao. Ngược lại, vòng quay vốn tín dụng thấp thể hiện vốn tín dụng luân
chuyển chậm, hiệu quả vốn tín dụng thấp.
Hiệu suất sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng vốn có thể được tính tại một thời điểm nhất định hoặc tính
bình quân cho cả năm theo công thức.
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
17
18
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng vốn huy động
Hiệu suất sử dụng vốn là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với
khả năng đáp ứng của bản thân TCTD cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa.
Trên cơ sở đó, các TCTD có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của mình. Từ
đó, có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để
vừa đảm bảo an toàn vốn cho vay, vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất có thể.
Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi
người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho TCTD đúng hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng dư nợ quá hạn trong tổng dư nợ
của TCTD ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.
ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo
thời hạn đã cơ cấu lại.
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thời
hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại.
Trong năm nhóm nợ trên, NQH là các khoản nợ được phân vào loại từ nhóm 2
đến nhóm 5 và nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5. Đồng thời tỷ lệ nợ xấu
trong tổng dư nợ vào khoảng từ 2%-5% là một tỷ lệ chấp nhận được, NQH từ 6-12
tháng là nợ có vấn đề. Nợ trên 12 tháng được gọi là nợ khó đòi.
Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Nói đến chất lượng tín dụng không thể không nói đến chỉ tiêu thu nhập từ hoạt
động tín dụng. Vì như đã nói hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chủ
yếu để TCTD tồn tại và phát triển.
Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng được tính bằng lãi từ hoạt động cho
vay trên tổng thu nhập.
Lãi từ hoạt động tín dụng
Thu nhập từ hoạt động tín dụng =
Tổng thu nhập
Tỷ trọng thu nhập là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín
dụng, nó cho biết tỷ lệ phát sinh từ hoạt động cho vay trên một đơn vị thu nhập là
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
19
20
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
bao nhiêu. Với cùng một mức thu nhập, nếu TCTD nào càng giảm được chi phí đầu
vào thì tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ TCTD hoạt động tốt. Đồng thời, ta thấy rằng nếu
các TCTD chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà
không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng
không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó
góp phần nâng cao khả năng sinh lời của TCTD.
dụng nhân dân Trung ương, kết quả đến cuối năm 2001 đã hoàn thành việc sáp nhập
23 Quỹ tín dụng nhân dân khu vực vào Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương để trở
thành chi nhánh ở các tỉnh, thành phố như vậy Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
trước đây từ 3 cấp chuyển thành 2 cấp: Quỹ tín dụng nhân dân Trung Ương và Quỹ
tín dụng nhân dân Cơ sở.
Hệ thống Quỹ tín dụng nhân nhân hiện nay gồm 1 Hội sở chính và 26 chi
nhánh, 1,057 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở hoạt động tại 57 tỉnh, thành phố, thu hút
gần 1.7 triệu thành viên tham gia. Vốn điều lệ của Quỹ tín dụng Nhân dân Trung
ương đạt khoảng 1,720.96 tỷ trên tổng nguồn vốn là khoảng 13,616 tỷ đồng.
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
21
22
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
2.1.2. Đôi nét về Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương – Chi nhánh Thái Bình
Quá trình thí điểm thành lập Quỹ tín dụng Nhân dân (QTDND) từ năm 1994
đến năm 2000, cả nước đã thành lập được gần 900 QTDND cơ sở ở cấp xã, 21
QTDND Khu vực ở 21 tỉnh, thành phố và 1 Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
(QTDTW). Sau trên 6 năm hoạt động, mô hình QTDND 3 cấp bộc lộ những khuyết
tật, yếu kém; một số QTDND cơ sở hoạt động kém hiệu quả, quan hệ trong hệ
thống giữa QTDTW và QTDND cơ sở phải qua một trung gian là QTDND Khu vực
dẫn đến chồng chéo, nhiều tầng nấc làm cho hiệu quả hoạt động không hiệu quả,
cần phải có những biện pháp củng cố chấn chỉnh để hoạt động của cả hệ thống
QTDND được tốt hơn.
Ngày 10/10/2000, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 57-CT/TW về củng cố,
hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND, theo đó hệ thống QTDND được chuyển
từ mô hình 3 cấp sang mô hình 2 cấp: QTDND Trung ương và QTDND cơ sở. Ngày
20/3/2001, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Quyết định số
207/QĐ-NHNN phê duyệt Đề án mở rộng mạng lưới hoạt động của QTDTW, theo
đó các QTDND Khu vực được giải thể và sáp nhập vào QTDTW trở thành Chi
nhánh của QTDTW.
Ý thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn, ngay từ khi mới
thành lập, QTDTW Chi nhánh Thái Bình đã rất quan tâm đến việc huy động vốn.
Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay có một số lượng lớn chưa từng có các TCTD
thuộc các loại hình khác nhau cùng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và cạnh tranh
quyết liệt, điều đó đòi hỏi Chi nhánh phải nỗ lực phấn đấu nhằm thu hút một khối
lượng vốn lớn để đảm bảo cho nhu cầu đầu tư mở rộng tín dụng trên địa bàn. Đồng
thời, tạo ra một nền tảng vững chắc cho QTD có thể ổn định và phát triển.
Hiện nay, Thái Bình là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng tương đối tốt các khu
công nghiệp đang được mở rộng và phát triển, việc sản xuất hàng hoá ở các làng
nghề đang trong quá trình khôi phục. Đồng thời, các hộ sản xuất, các công ty, doanh
nghiệp đã đầu tư lớn vào máy móc thiết bị dây truyền sản xuất hiện đại để tạo ra
những sản phẩm có chất lượng cao với giá thành, mẫu mã phù hợp với thị trường.
Từ đó, tạo ra một nhu cầu vốn rất lớn trong nền kinh tế.
Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại QTDTW – Chi nhánh Thái Bình
(đơn vị: tỷ đồng)
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
23
24
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Tổng nguồn vốn huy động 278.137 398.786 446.630
Tăng trưởng so với năm trước -10.92% 43.38% 11.99%
(nguồn: báo cáo công tác tín dụng của QTDTW chi nhánh Thái Bình 2010-2012)
Biểu 1: Nguồn vốn huy động qua các năm
(đơn vị: tỷ đồng)
Số liệu thống kê trên cho thấy tình hình huy động vốn của Quỹ tăng trưởng
khá tốt qua các năm, sự sụt giảm tỷ trọng trong năm 2010 có thể lý giải do những
khó khăn của nền kinh tế, áp lực lạm phát, cạnh tranh gay gắt với các TCTD khác
cùng với sự tăng giá đột ngột của Vàng. Ngoài ra việc ban hành cơ chế lãi suất thỏa
thuận trong thông tư 07 của NHNN đã khiến cho tình hình huy động vốn của chi
trọng
Tổng dư nợ cho vay 341.917 100% 378.199 100% 421.948 100%
I. Phân theo thời gian
1. Cho vay ngắn hạn 280.988 82.18% 300.772 79.52% 319.161 75.64%
2. Cho vay trung, dài
hạn
60.929 17.82% 77.427 20.47% 102.787 24.36%
II. Phân theo đối
tượng
1. Cho vay QTD
thành viên
247.941 72.51% 286.168 75.67% 333.001 78.92%
2. Cho vay các thành
phần kinh tế
93.976 27.49 92.031 24.33% 88.947 21.08%
(nguồn: bảng cân đối kế toán năm 2010-2012)
Biểu 2: Tình hình dư nợ qua các năm(đơn vị: tỷ đồng)
Qua bảng số liệu trên ta thấy 3 năm qua hoạt động tín dụng tăng trưởng tăng
đều. Năm 2011 tăng 36,341 tỷ đồng tương đương 10,61% và năm 2012 tăng 43.749
tỷ đồng tương đương 11.57% so với năm trước. Hoạt động tín dụng là 1 trong 2
hoạt động quan trọng nhất của TCTD, số dư cho vay của chi nhánh tuy chưa thật sự
Nguyễn Thành Công LTĐH8- NHB
25