SKKN Biện pháp rèn luyện học sinh lớp 3 yếu môn Toán - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN HỌC SINH LỚP 3 YẾU MÔN TOÁN”
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đất nước ta đang tiến hành
cuộc cách mạng toàn diện trên mọi lĩnh vực với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Trong sự nghiệp đổi mới đó, đổi mới giáo dục là một trong những trọng tâm
của sự đổi mới.
Với quan niệm giáo dục là quốc sách hàng đầu, như báo cáo chính trị của đại hội
Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định:“Phát triển giáo và đào tạo là một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
đổi mới nội dung, phương pháp dạy học…”
Sự đổi mới của giáo dục nhằm tạo ra những con người toàn diện có phẩm chất
đạo đức, có sức khoẻ, có tri thức và năng động sáng tạo.
Vậy để giáo dục học sinh phát triển toàn diện về mọi mặt đó là trách nhiệm của
những người làm công tác giáo dục nói chung, của giáo viên nói riêng.
Như chúng ta biết môn toán chiếm một vị trí vô cùng quan trọng vì học tốt
môn toán giúp cho học sinh phát triển toàn diện về mọi mặt. Ngoài ra học tốt môn toán
học sinh mới có điều kiện để học tốt những môn học khác.
Kiến thức của môn toán là có tính chất kế thừa và xâu chuỗi. Kế thừa từ bài
học này đến bài học khác, từ lớp học dưới đến lớp học trên. Nếu các em bị mất căn bản
về kiến thức môn toán thì các em sẽ chán học, không thích học dẫn đến ngày càng học
yếu so với trình độ chung của cả lớp.
Một lớp học thì tất yếu phải có các đối tượng: giỏi, khá, trung bình, yếu. Điều
này mỗi giáo viên đều nhận thức được một cách rõ ràng hơn ai hết và đồng thời mỗi giáo
viên đều có phương pháp dạy, có những kinh nghiệm để áp dụng vào việc giảng dạy và
giáo dục học sinh để đạt kết quả. Ai trong mỗi giáo viên chúng ta đều hiểu rằng việc
giảng dạy và giáo dục luôn luôn đi đôi với nhau. Để giúp đỡ học sinh yếu nói chung và

kém để học sinh có kết quả học tập cao hơn, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém trong học tập
môn toán .
- Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hạn chế học sinh lưu ban.
Thực hiện tốt “Nói không với HS ngồi nhầm lớp”
2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn.
- Phương pháp hội thảo chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu biện pháp rèn luyện học sinh yếu môn toán lớp 3 trường tiểu
học Huỳnh Minh Thạnh.
2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp rèn luyện đối với đối tượng học
sinh yếu môn toán ở lớp 3, những yếu tố ảnh hưởng tới đối tượng này.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Thực trạng:
1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà trường.
- Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ cho việc dạy và học.
- Sĩ số học sinh trong lớp lý tưởng (24 em).
- Trường học hai buổi nên cũng có điều kiện để rèn học sinh.
2. Khó khăn:
* Tình hình học sinh:
- Còn một số em chưa tự giác trong học tập, ham chơi, không thích học.
- Chưa mạnh dạn trong học tập, thiếu tự tin.
- Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, vốn kiến thức cơ bản
lớp dưới còn hạn chế.
- Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền.

cụ thể với từng đối tượng học sinh.
Với kinh nghiệm giảng dạy 5 năm ở khối 3 tôi đã áp dụng nhiều biện pháp khác
nhau để rèn học sinh yếu môn toán và thu được nhiều kết quả tốt.
Việc đầu tiên:
2.1 Phân loại học sinh :
Để nắm được tình hình học sinh trong lớp của mình phụ trách:
+Thông qua nghiên cứu lí lịch học sinh giáo viên sẽ nắm được hoàn cảnh gia đình,
nghề nghiệp của phụ huynh, gia đình đông con hay ít con, phụ huynh có quan tâm giáo
dục con cái hay không, địa bàn cư trú của các em,…
+Thông qua nghiên cứu hồ sơ của học sinh như: Học bạ, sổ liên lạc, khảo sát chất
lượng học sinh đầu năm, qua 1 tuần thực dạy tôi sẽ phân loại học sinh lớp mình ra các
đối tượng HS như sau :
1.Học sinh học toán giỏi .
2. Học sinh hoc toán khá.
3.Học sinh học toán trung bình .
4.Học sinh học toán yếu.
+ Sau khi phân loại được trình độ HS trong lớp và nắm bắt được các em học yếu
môn toán GV lại tìm hiểu xem HS yếu phần nào trong môn toán giáo viên lại tiếp tục
phân loại các em yếu toán thành những đối tượng sau :
-Yếu trong thực hiện tính nhân, chia, cộng ,trừ .
-Yếu về yếu tố hình học.
- Yếu về yếu tố thống kê.
- Yếu về đại lượng và đo đại lượng
- Yếu trong giải toán .
- Yếu tất cả các kiến thức nêu trên.
2.2 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu môn toán :
Có các nguyên nhân sau:
- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn không ai quản lý, đôn đốc các em trong học
tập.
- Do các em chưa có ý thức học tập ham chơi, chưa nhận thức được vai trò

và tên HS
Con
ông(bà), nơi ở
Kiến thức
toán yếu
Mức độ
tiến bộ
1 Tháng
9…
Tháng
10…

2
3
4

2.5 Đối với học sinh yếu môn toán do mất căn bản:
Học sinh yếu môn toán do mất căn bản các em khó có thể tiếp thu những kiến
thức mới. Chính vì lẽ đó mà dẫn đến các em sẽ ngại học hay nói khác hơn là lười học,
yếu lại càng yếu hơn.
Đối với học sinh mất căn bản không nắm được kiến thức ở lớp dưới thì tôi luôn
quan tâm đặc biệt hơn. Trong bài giảng tôi chú ý đến các em nhiều hơn vừa truyền thụ
kiến thức mới tôi vừa ôn kiến thức cũ cho học sinh.
Trong tiết dạy tránh tình trạng giáo viên để học sinh yếu mất căn bản ngoài lề
tiết học.
Ví dụ: Trong một tiết học phần bài tập giáo viên phân ra từng đối tượng học
sinh. Bài tập 1 cho nhóm yếu làm, bài 2 nhóm trung bình làm, bài 3 nhóm khá giỏi làm,
như vậy hy vọng mới khắc phục dần tình trạng học sinh học yếu. Nếu giáo viên cứ cho
học sinh hoạt động bình thường từ bài 1 đến bài 3 thì học sinh yếu không biết gì và thậm
chí bỏ học vì chán. Hoặc trong lớp học có học sinh yếu ( không nắm kiến thức lớp học

+ Chọn 2 đội, mỗi đội 4 em ( có học sinh yếu).
+ Giáo viên chia bảng làm 2, gắn mỗi bên bảng một bông hoa và 5 chú Ong,
ở bên dưới không theo trật tự, đồng thời giới thiệu trò chơi.
Cô có 2 bông hoa trên những cánh hoa là các kết quả của phép tính, còn
những chú Ong thì chở các phép tính đi tìm kết quả của mình. Nhưng các chú Ong không
biết phải tìm như thế nào, các chú muốn nhờ các em giúp, các em có giúp được không ?
- 2 đội xếp thành hàng. Khi nghe hiệu lệnh "bắt đầu" thì lần lượt từng bạn lên
nối các phép tính với các số thích hợp. Bạn thứ nhất nối xong phép tính đầu tiên, trao
42 : 7 49 : 7 63 : 7
35 : 7 56 : 7
5
7
9
6
8
phấn cho bạn thứ 2 lên nối, cứ như vậy cho đến khi nối hết các phép tính. Trong vòng 1
phút, đội nào nối đúng và nhanh hơn là đội chiến thắng.
* Lưu ý : Sau khi học sinh chơi xong, giáo viên cùng học sinh nhận xét,
tuyên dương và hỏi thêm một số câu hỏi sau để khắc sâu bài học:
+ Tại sao chú Ong không tìm được đường về nhà ?
+ Phép tính "42 : 7" có kết quả bằng bao nhiêu ?
+ Muốn chú Ong này tìm được đường về thì phải thay đổi số trên cánh hoa
như thế nào ?
Qua tổ chức trò chơi tôi nhận thấy các em rất thích học.
- Ngoài ra giáo viên cần phối hợp thật tốt với các tổ chức trong trường như:
Chuyên môn của trường, tổ khối, thầy TPTĐ, sao đỏ, cán bộ lớp để thường xuyên kiểm
tra nhắc nhở .
- Cho những bạn ngoan thường xuyên chơi với những đối tượng học sinh này
nhằm giảm thiểu tối đa việc ham chơi của HS .
- Giáo viên cần phải trao đổi trực tiếp đến từng đối tượng học sinh bằng lời

-Trong quá trình dạy bài mới GV nên sử dụng các phương pháp phù hợp với đối
tượng HS trong lớp.
Ví dụ : Dạy bài : Nhân số có 3 chữ số với số có một chữ số - Toán 3
+ Hướng dẫn học sinh cách đặt tính và tính kết quả của phép nhân qua ví dụ
thứ nhất: 123 x 4 = ? Giáo viên thực hiện trên bảng lớp, gọi học sinh xung phong nêu
cách thực hiện, sau đó gọi học sinh yếu nhắc lại.
+ Sang ví dụ thứ 2 tôi cho cả lớp làm bảng con phép tính: 326 x 3 = ?
Đối với các em học yếu tôi xuống lớp hướng dẫn các em cách thực hiên phép
nhân này. Có thể tôi yêu cầu em đọc lại bảng nhân 3 nếu em chưa thuộc…
Thực hành :
+ Với bài tập 1 : GV cho HS làm phiếu học tập cá nhân, riêng những học
sinh học yếu làm 2 phép tình đầu theo nhóm 2.
+ Bài tập 2 : Cho HS cả lớp làm bảng con phần a, b để kiểm tra cách đặt tính
rồi tính ( GV giúp đỡ HS yếu).
Còn phần c yêu cầu học sinh làm vào vở, riêng các em học yếu hoàn thành
lại bài a, b vào vở không làm phần c.
+ Bài 3 : GV hướng dẫn HS tìm hiểu đề bài ,GV tóm tắt và cho các em làm
bài vào vở . Riêng học sinh yếu GV cho các em thảo luận nhóm 3 tìm cách giải bài tập 3.
+ Bài 4: Cho HS làm nối tiếp theo dãy ( GV giúp đỡ HS yếu).
Phần củng cố bài học:
Tổ chức trò chơi cho HS: Có thể tổ chức thi đọc các bảng nhân, chia theo
hình thức di chuyền giữa các nhóm( các nhóm đều có đối tượng HS yếu).
- Khi chúng ta thay đổi nhiều hình thức và phương pháp như thế thì các em sẽ
hứng thú trong học tập .
- Ở lớp 3 giáo viên nên cung cấp cấp kĩ các bảng nhân, chia cho các em và cho
các học thuộc các bảng nhân, chia và thường xuyên ôn tập các bảng cộng, trừ ở lớp 2 để
các em áp dụng vào làm bài tập. Với những em yếu thì không thể bắt buộc các em học
thuộc một cách nhanh chóng được mà giáo viên nên yêu cầu các em học thường xuyên ở
nhà, ở lớp( 15 phút đầu giờ, giờ ra chơi, tiết toán ôn, sinh hoạt ngoài giờ,…).
Ví dụ: Khi truy bài đầu giờ tôi thường hay gọi HS yếu lên bảng đọc thuộc các

sinh khá giỏi tự suy nghĩ cách giải, học sinh yếu giáo viên có thể cho thảo luận nhóm để
tìm cách giải (GV có thể gợi mở cho HS những câu hỏi để các em tìm được cách giải).
2.10 Kết hợp với gia đình để rèn ruyện học sinh :
Gia đình là môi trường giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ.Trước tiên là ảnh
hưởng của cha mẹ rất sâu sắc.Vì vậy, giáo dục gia đình là một “điểm mạnh”, là một bộ
phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục trẻ.Song mỗi gia đình có những điểm riêng của
nó nên giáo viên phải biết phối hợp như thế nào để đảm bảo được tính thống nhất, toàn
vẹn trong quá trình giáo dục.
Trước những nguyên nhân xuất phát từ gia đình giáo viên cần phải thường xuyên
liên lạc với phụ huynh nhằm thông báo kết quả, sự phấn đấu của con em họ. Hàng tháng
báo cáo kết quả học tập của các em về gia đình qua sổ tay, làm cho phụ huynh thấy rõ vai
trò của gia đình trong việc phối hợp nâng cao chất lượng giáo dục học sinh yếu.
III. Kết quả đạt được :
Sau khi đã áp dụng những biện pháp giảng dạy và giáo dục học sinh yếu môn
toán ở lớp tôi. Tôi nhận thấy rằng việc rèn luyện học sinh yếu toán với những phương
pháp ấy đạt kết quả khả quan, số học sinh đầu năm học kém, chưa ngoan, kết quả còn
thấp, nay thấy các em đã có ý thức được việc học tập của mình, số học sinh yếu từ chỗ
cộng, trừ, nhân, chia chưa thành thạo, chưa thuộc bảng cửu chương, giải toán yếu đến nay
đã tiến bộ rất nhiều. Các em có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, học sinh
yếu môn toán ở lớp tôi giảm đi.
Bảng thống kê học sinh yếu môn toán học kì I của học sinh lớp 3 mà tôi giảng
dạy năm học 2010 – 2011 :
Sĩ số KSCL
Đầu năm
Giữa học
kì I
Cuối học
kì I
24 HS 5 HS yếu 0 HS yếu 0 HS yếu
Từ những kết quả trên tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh yếu môn toán của lớp đã giảm

hoạch xây dựng những đôi bạn cùng tiến ngay từ đầu năm học để tạo điều kiện cho các
em giúp đỡ nhau .
III. Kiến nghị :
* Đối với BCH hội phụ huynh học sinh:
- BCH hội mời phụ huynh có con em học yếu môn toán họp bàn về cách
khăcphục. .
- BCH hội thường xuyên trao đổi với phụ huynh có con em học yếu, với giáo viên, với
nhà trường
- Đặt biệt thường xuyên động viên, đôn đốc phụ huynh đưa con đi học chuyên
cần.
* Đối với nhà trường:
- Lập danh sách báo cáo cho thôn về những phụ huynh không quan tâm
hoặc để con em ở nhà đi học không chuyên cần. Từ đó thôn có biện pháp nhắc nhở,
động viên những phụ huynh này.
- Nhà trường mời phụ huynh có học sinh yếu môn toán, BCH hội, các thôn
trưởng, giáo viên có học sinh yếu, tổ khối trưởng để chỉ đạo những biện pháp giáo dục
học sinh yếu.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi mạnh dạn đưa ra mong có sự bổ sung và
góp ý của quí thầy cô giáo.
Tôi xin chân thành cảm ơn .
Người viết
Xác nhận của hội đồng khoa học trường
………………………………………
……………………………………….
………………………………………
………………………………………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status