SKKN: Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS - Pdf 35

Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

I.MỞ ĐẦU:
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đối với môn hóa học, đây là môn học “vỡ lòng”, hoàn toàn mới lạ đối với các
em, sự tiếp xúc môn học này ít nhiều làm cho các em bỡ ngỡ, một số ít các em
có năng khiếu còn tìm tòi thích thú đối với môn học mới này, còn đa số các em
đều cảm thấy xa lạ và ngán ngại, nếu không có biện pháp thích hợp các em rất
dễ chán nản, bỏ học. Các em xem môn học này là một trong những môn học khó
khăn nhất giống như các môn học tiếng nước ngoài. Vì thực tế đối với các em,
khi học môn học này phải học thuộc lòng các kí hiệu hóa học, tên gọi, hóa trị,…
các em còn lúng túng , mù mờ việc dự đoán các sản phẩm tạo thành trong một
phương trình phản ứng hóa học, việc củng cố rèn luyện các em đối với môn học
này ở bậc THCS giúp cho học sinh có kiến thức cơ bản để làm nền tảng cho bậc
học tiếp theo.
Quán triệt quan điểm “dạy thật , học thật”, chống lại “bệnh thành tích” trong
giáo dục, đang là căn bệnh nhức nhối mà riêng tôi cảm thấy bức xúc! Trong
khuôn khổ chia sẻ “ kinh nghiệm rèn luyện học sinh yếu, kém môn hóa học”,
bản thân công tác trong nghành luôn trăn trở và luôn tìm giải pháp nâng cao chất
lượng học sinh nói chung trong đó quan tâm nhiều đến học sinh yếu kém nói
riêng
2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
- Qua nội dung của đề tài giáo viên có phương pháp truyền thụ kiến thức cơ bản
cho học sinh, học sinh nhận biết, thông hiểu, vận dụng kiến thức làm các bài tập
ở nhà, bài tập ở lớp, bài kiểm tra.
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
- Là động lực thúc đẩy các học sinh yếu kém có ý thức hơn trong học tập
- Là cơ sở kiến thức cho học sinh tiếp thu chương trình cấp trung học sơ sở
- Nêu ra các bước ngắn gọn với các ví dụ minh họa và có những ví dụ thông qua
một vài nội dung học ở môn hóa học 8, 9 để từng bước tạo hứng thú cho các em
trong các bài học

Cùng với quan điểm của Đảng luôn xem giáo dục đào tạo là quốc sách hang đầu
có tác dụng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung và phát
triển năm 2011), khẳng định “ giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí,
phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển
đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và
đào taọ cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hang đầu. đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã
hội… đẩy mạnh xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được
học tập suốt đời”1
Hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Giáo dục và đào tạo: “Mỗi thầy cô giáo có ít
nhất một sáng kiến kinh nghiệm” và phong trào “ trường học thân thiện, học
Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
2
Trang


Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

sinh tích cực” nhằm phát huy tích cực và tiềm năng sáng tạo của giáo viên trong
nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện!
“Lâu nay chúng ta chỉ khen thưởng cho học sinh khá, giỏi, xuất sắc mà quên đi
những học sinh yếu kém có tiến bộ. Bên cạnh đó phải nghiên cứu phương pháp
phụ đạo, bồi dưỡng cho học sinh yếu kém”2. Thật vậy, việc khen thưởng kịp thời
những học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập, động viên, khích lệ học sinh
yếu kém có tiến bộ kịp thời mới khuyến khích được phong trào dạy và học trong
nhà trường. sự đổi mới trong giảng dạy là một yêu cầu thực tế của xã hội.
2. THỰC TRẠNG:
2.1 Thuận lợi – khó khăn:

- Chưa thực sự quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong cả lớp mà chỉ
chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động
viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ.
- Chưa cân đối giữa việc truyền thụ kiến thức với rèn luyện kỹ năng thực hành
Hóa Học.
- Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề quá cao hoặc quá thấp đối với học sinh.
- Chưa tạo được không khí học tập thân thiện. Giáo viên bộ môn chưa phối kết
hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh.
- Phương pháp dạy học chậm đổi mới: Nhiều giáo viên chưa chú ý đến phương
pháp dạy học đặc trưng của bộ môn: không có thí nghiệm trên lớp, bỏ giờ
thực hành thí nghiệm, phương tiện dạy học nghèo nàn, lạc hậu.
- Việc kiểm tra, đánh giá chưa nghiêm túc, chưa có tác dụng khích lệ học sinh
trong học tập, thậm chí còn tạo điều kiện cho học sinh chây lười.
- Chưa tổ chức được các buổi ngoại khóa, những hoạt động ngoài giờ lên lớp
cho học sinh tham gia.
* Từ phụ huynh học sinh và xã hội:
- Học sinh là con em nhân dân lao động, nghèo ít có điều kiện đầu tư việc học
cho con cái.
- Một số phụ huynh không quan tâm đến việc học của con em, khoán trắng việc
học tập của con em họ cho nhà trường.
- Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch
vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em.
2.2 Thành công – Hạn chế:

Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

4



2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

5


Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

- Từ các vấn đề mà thực trạng học sinh yếu kém môn Hóa Học đã nêu ở đây có
2 nguyên nhân chủ yếu:
+ Là yếu tố ngoại cảnh, do môi trường sống, bạn bè và gia đình tác động đến sự
tự học của học sinh nói chung. Với nguyên nhân này giải pháp khắc phục là cần
tăng cường sự phối hợp tốt hơn nữa giữa nhà trường và gia đình học sinh, đặc
biệt là những em mà gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, sự động viên khích
lệ của giáo viên dành cho bản thân các em là cần thiết.
-+ Là do đặc điểm môn học và phương pháp giảng dạy của giáo viên. Tâm lý
chung của học sinh là dễ chán nản nếu như các em không hiểu bài. Chẳng hạn
trong chương trình lớp 8 nếu các em không học thuộc bảng 1 – Một số nguyên
tố hóa học SGK/ 42 và bảng 2 – Hóa trị của một số nhóm nguyên tử SGK/ 43,
những công thức chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích và lượng chất thì các em
khó có thể có những kiến thức kỹ năng cơ bản để giải bài tập. Đây là những
công thức căn bản có thể áp dụng vào cho cả chương trình hóa học mà nếu các
em ngay từ đầu không nắm vững thì sẽ rất khó vận dụng vào làm bài tập ở
những bài học tiếp theo dẫn đến chán nản dẫn đến kết quả học tập giảm sút.
Từ những khó khăn nêu trên mà học sinh khi học môn hóa học 8, 9 mắc phải,
với những kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm môn hóa học lớp 8 và 9 tôi mạnh
dạn đề xuất một vài giải pháp nhằm giúp các em khắc phục những khó khăn trên
đồng thời thông qua việc các em nắm được các kiến thức áp dụng vào làm bài
tập để từng bước các em biết cách học để nâng cao kiến thức của mình.

- Thiết nghĩ làm giáo dục và đào tạo không chỉ dạy các em kiến thức cơ bản
trong từng môn học mà còn phải kết hợp giáo dục đạo đức, hiểu rõ tâm lý đối
tượng nghiên cứu để có biên pháp thích hợp và kịp thời. tùy theo từng học sinh
và từng nguyên nhân cụ thể dẫn đến học yếu, kém. Hóa học là môn tự nhiên liên
quan mật thiết với môn Toán, Lý nếu các em hỏng kiến thức, thiếu kỹ năng làm
toán thì các em dễ chán nản môn Hóa học.
- Điều này bắt nguồn từ bệnh thành tích của nhiều năm trước, có những em đã
học lớp 9 mà tìm ẩn x hay áp dụng quy tắc tam suất để tìm số mol trên phương
trình còn chưa nắm vững. Giúp các em lấy lại tự tin, đòi hỏi giáo viên phải ôn lại
những kiến thức căn bản về toán học.
Ví dụ: Tìm hóa trị của một nguyên tố chưa biết, ta cần đặt ẩn x( là hóa trị của
nguyên tố cần tìm), sau đó áp dụng quy tắc hóa trị để tìm x. chẳng hạn ta được 2x
= 6 => x = 6/2 =3.Hay, cứ 1 mol sắt tác dụng với 2 mol HCl. Vậy 0,05 mol sắt

Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

7


Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

tác dụng thì cần bao nhiêu mol HCl phản ứng, mà các em còn lung túng chưa giải
quyết được.
- Thường xuyên kiểm tra bài, làm những bài tập đơn giản để động viên, khích lệ
tinh thần,khen tặng những tiến bộ qua từng bài tập nhỏ. Chẳng hạn: “ Hôn nay
em rất tiến bộ, cố gắng thêm”. Ngoài những khen tặng động viên khi các em tự
hoàn thành một bài tập hay đã nắm vững một vấn đề nào đó còn phải tìm những
điểm tôt khác của các em để khen ngợi. Chẳng hạn, tính cẩn thận, cách trình bày
rõ ràng. Khen tặng, khích lệ tinh thần là một nghệ thuật dẫn dụ con người mà từ

+ Trường hợp II : a # b  x= b, y = a ( x, y tối giản)
Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

8


Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

III II
Ví dụ :

 CTHH : Al2O3

Alx Oy
IV II

 CTHH : SO2

Sx Oy
II

III

Cax ( PO4)y  CTHH: Ca3 ( PO4)2
II

II

Cax ( HPO4)y  CTHH: Ca HPO4

* Công thức tỉ khối của khí A đối với khí B:
d A/B = MA : MB
* Công thức tìm khối lượng dung dịch liên quan đến khối lượng riêng:
m = V. D  V = m : D
m: là khối lượng dung dịch ( g)
D là khối lượng riêng
V là thể tích dung dịch.
* Công thức tính nồng độ mol và nồng độ % của dung dịch:
Công thức tính nồng độ mol : CM =

n
V

CM : Nồng độ mol
n: số mol
V: thể tích ( l)
Công thức tính nồng độ phần trăm:
mct
C% =

. 100%
mdd

- mct là khối lượng chất tan, biểu thị bằng gam
- mdd là khối lượng dung dịch, biểu thị bằng gam
mdd = mct + mdm
Từ những công thức trên, học sinh đã vận dụng vào bài tập tính theo PTHH
Dạng cơ bản : Dựa vào lượng 1 chất tính lượng các chất khác theo phản ứng.
Phương pháp giải :
Bước 1 : Đổi khối lượng hoặc thể tích chất khí ra số mol :

Zn + 2HCl

’ ZnCl2 +

H2 ›

0.05------->0.1------------------>0.05 (mol)
Theo phương trình hóa học ta có: n HCl =

0,05.2
= 0,1(mol )
1

m HCl = n.M = 0,1.36.5 = 3.65 g

VH2= n * 22.4 = 0,05 * 22.4 =1.12 (lit)
Ví dụ 2: Bài tập này có thể được vận dụng thì học kì II sau khi học tiết 62,33
Nồng độ dung dịch
Đề: Hòa tan 8,4 gam Fe bằng dd HCl 10,95% ( vừa đủ)
a.

Viết PTHH.

b. Tính thể tích khi thu được ( đktc)
c.

Tính khối lượng dung dịch axit cần dùng ?

d. Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được sau phản ứng.
Giải:

trong hai chất cho biết, chất nào phản ứng hết.
Phương pháp giải: Tìm chất dư, chất hết → Tính theo chất hết.
- Bước 1: Tính số mol mỗi chất.
- Bước 2: Viết phương trình phản ứng:
A + B → C + D
- Bước 3: Lập tỉ lệ So sánh:
nA ( Bàicho)
nB ( Bàicho)
so
với
nA ( Ph.trình)
nB ( Ph.trình)

Tỉ số nào lớn hơn chất đó dư, chất kia hết → Tính theo chất hết.
Ví dụ: Cho 32,5 gam kẽm tác dụng với 47,45 gam axit clohiđric.
a. Tính thể tích khí hiđro sinh ra (đktc) ?
b. Tính khối lượng muối kẽm clorua tạo thành ?
Hướng dẫn:
- Số mol các chất tham gia phản ứng:

Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

12


Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

nZn =


→ VH = n H .22,4 = 0,5.22,4 = 11,2(lít )
2

2

b. Theo phương trình phản ứng ta có:
nZnCl = nZn = 0,5(mol )
2

→ mZnCl = nZnCl .M ZnCl = 0,5.136 = 68( gam)
2

2

2

Gây hứng thú từ những ứng dụng hóa học vào thực tế
Ngoài ra làm một số thí nghiệm vui để gợi tính tò mò, thích thú. Tìm tòi và sưu
tầm những đoạn phim video clip thực hành trong phòng thí nghiệm để các em
quan sát những hiện tượng và các thao tác khi làm thí nghiệm. Đồng thời giải
thích các hiện tượng bí ẩn trong tự nhiên gây hứng thú, khám phá đối với lứa tuổi
dễ bị lôi cuốn này, và cho các em hiểu rằng các sự việc, hiện tượng xảy ra xung
quanh ta như ăn, uống hay đồ kim loại bị hư,…đều có phản ứng hóa học xảy ra.
*Ví dụ : Giải thích hiện tượng ma chơi trong tự nhiên :
‘‘Ma trơi’’ thường xuất hiện ở những vùng đầm lầy, nghĩa địa là những đóm
sáng bay bay trong không khí mà người ta đã dệt nên nhiều câu chuyện rùng rợn
về ma quỷ. Tại các nghĩa địa, khi xác chết bị thối rữa do vi sinh vật hoạt động, ở
não người chứa lượng photpho được giải phóng dưới dạng photphin(PH 3) và đi
photphin(P2H4). Điphotphin là chất lỏng , dễ bay hơi và tự bốc cháy trong không
khí ở nhiệt độ thường làm cho PH3 cháy tạo ta P4H10 và H2O, khi cháy tỏa ra

- PTHH : Ca(HCO3)2 ----- >CaCO3↓ + CO2↑ + H2O
Kết hợp phương pháp ôn- giảng- luyện :
Đây là 3 bước chính của một tiết lên lớp được sử dụng liên tục trong quá trình
giảng dạy. Để sử dụng phương pháp ôn – giảng – luyện đạt hiệu quả, trước nhất
giáo viên bộ môn phải xem xét toàn bộ chương trình giảng dạy của bộ môn mình
phụ trách trong năm học có liên hệ với những kiến thức cơ bnar của những lớp
dưới mà các em đã học. Sau đó lập kế hoạch ôn tập hệ thống hóa kiến thức cơ bản
của những lớp học trước vào đầu năm học cho học sinh kết hợp với giảng và
luyện.
Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

14


Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

Đối với học sinh yếu, kém thường ít chú ý đến tiết học, việc học-hiểu- hành tại
lớp là cần thiết. Ngoài ra cũng phải biết sắp xếp thời gian học tập một cách khoa
học giữa các môn học và làm bài tập ở nhà. Các em có nhiều lỗ hỏng kiến thức và
‘‘ khó nhớ, mau quên’’ nên phương pháp ôn- giảng-luyện phải được sử dụng
thường xuyên.
Trong bước kiểm tra bài cũ để ta ‘‘ ôn’’ kiến thức đã học cho học sinh, đồng thời
chuẩn bị cho việc tiếp thu kiến thức mới, ta vẫn phải giảng và luyện nếu cần thiết.
‘‘ giảng’’ nếu đã quên hay chưa hiểu. ‘‘luyện’’ nếu chưa đủ để khắc sâu…Nếu
phần câu hỏi kiểm tra liên quan đến bài học mới thì thì việc luyện ở trong bước
này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tiếp thu bài mới của học sinh
*Ví dụ : Về môn hóa học ở lớp 9 : khi dạy bài bazơ, ta có thể cho học sinh các
câu hỏi sau đã học ở lớp 8 và ở tiết trước :
1.Viết CTHH của các hợp chất sau đây : Natri hiđroxit, Canxi hiđroxit, Magie

giáo viên cần rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh. Bài tập hóa học có tác
dụng :
+ Phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
+ Giúp học sinh hiểu rõ và khắc sâu kiến thức
+ Hệ thống hóa các kiến thức đã học….
+ Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo( sử dụng ngôn ngữ hóa học, lập công thức,cân bằng
phương trình, tính theo công thức và phương trình, các tính toán đại số : quy tắc
tam suất, giải phương trình, hệ phương trình….)
+ Giúp giáo viên đánh giá được học sinh, học sinh cũng tự kiểm tra, biết được lỗ
hỏng kiến thức để kịp thời bổ sung.
+ Rèn luyện cho học sinh tính kiên trì, chịu khó, cẩn thận, chính xác, khoa học…
làm cho các em yêu thích bộ môn, say mê khoa học.
- Lựa chọn bài tập tiêu biểu, điển hình. Biên soạn hệ thống các bài tập để làm tài
liệu tiện sử dụng, như : các bài tập cơ bản, điển hình ; sắp xếp theo từng dạng bài
tập ; sắp xếp theo mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
- Cho các em nắm chắc phương pháp giải các bài tập cơ bản : sửa bài tập mẫu
thật kĩ(giảng chậm, có thể giảng kĩ để các em hiểu thật rõ và nắm chắc) ; cho
thêm các bài tập tương tự ở mức độ khó dần, ôn luyện thường xuyên. Nếu các em
quên ta cũng kiên trì nhắc lại một cách vui vẻ và tự nhủ với lòng mình ‘‘ thế đã
tốt lắm rồi, đã chịu học rồi !’’
- Thường xuyên kiểm tra bài để các em thuộc bài đã học( có thể hệ thống hóa
kiến thức ở từng bài). Sau đó rèn kỹ năng giải bài tập theo sự phân loại dựa vào
nội dung mà các em vừa mới học
Ví dụ về bài tập nhận biết các chất :
Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

16



thể trò chuyện, gần gũi, thăm hỏi. Sự khích lệ cuả người thầy làm học sinh tự hào
về mình, tự tin vào bản thân và có hứng thú học tập thực sự. Đây là lứa tuổi các
Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
17
Trang


Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

em không còn trẻ con nữa, nhưng chưa hẳn là người lớn. Ở lứa tuổi này các em
dễ bị tổn thương, cần được phát huy tính độc lập nhưng cũng rất cần đến sự chăm
sóc chu đáo và đối xử tế nhị. Đó là tình yêu đích thực của người thầy với tương
lai học trò.
3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp:
Để các giải pháp trên có thể áp dụng thành công trong việc rèn luyên học
sinh yếu kém môn Hóa Học THCS trước hết cần ở giáo viên giảng dạy tinh
thần trách nhiệm cao, chịu khó tìm hiểu các sách tham khảo, tài liệu trên internet
để có thêm kiến thức chuyên môn vừa sâu vừa rộng. Cần có sự phối hợp của gia
đình học sinh trong việc nhắc nhở các em trong thời gian học ở nhà, có thời gian
hợp lý giữa việc học và các công việc phụ giúp gia đình của các em.
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Các biện pháp nêu ra để làm tăng cường khả năng tự học của học sinh phù
hợp với các giải pháp mà đề tài đã nêu. Để các giải pháp được giải quyết trọn
vẹn và hiệu quả thì các biện pháp cần thiết thực, dễ thực hiện đối với giáo viên
kể cả những giáo viên mới ra trường
Các biện pháp cụ thể để giải quyết vấn đề đều gắn liền với giải pháp được nêu
ra trong đề tài, qua đó giúp các giải pháp nêu ra phát huy hiệu quả cao nhất đồng
thời giúp giải quyết được những mâu thuẫn trong đề tài.
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Qua thời gian giảng dạy và vận dụng phương pháp rèn luyện học sinh yếu kém

0
Bảng kết quả dưới đây qua năm học : 2014 – 2015 – Lớp 9A6

Lớp Sĩ số Chất lượng kì I
9A6 32
Giỏi Khá TB
3
14
15

Kết quả chất lượng cả năm
Yếu Kém Giỏi Khá TB Yếu Kém
0
0
3
15
14
0
0

4. KẾT QUẢ:
Qua một thời gian áp dụng vào giảng dạy môn hóa học ở khối lớp 8,9 kết quả
thu được nổi bật nhất là các học sinh đã biết đặt được mục tiêu học tập phù hợp
với khả năng của mình từ đó có ý thức tích cực trong học tập để mang lại kết
quả cao hơn. Các em đã biết cách tự học, biết giành thời gian thích hợp cho việc
học ở nhà và chuẩn bị bài cho bài học mới. Từ đó mà các em cũng dần yêu thích
học môn Hóa Học hơn, chịu khó tìm hiểu những kiến thức liên quan đến môn
hóa học đặc biệt là việc vận dụng vào giải thích những hiện tượng hóa học mà
thường gặp trong đời sống.


Để đạt được kết quả trong học tập thì bản thân học sinh phải tự mình tìm kiếm
kiến thức và luôn ôn – luyện để không bị lãng quên kiến thức đã học
- Để đạt được kết quả trong học tập thì bản thân học sinh phải tự mình tìm kiếm
kiến thức và luôn ôn- luyện để không bị quên kiến thức đã học.
* Đối với giáo viên :
- Luôn tìm tòi học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, họp tổ, nhóm, họp hội đồng
bộ môn,…đầy đủ.
- Sưu tầm tài liệu, tìm những bí quyết để giúp các em dễ nhớ và nhớ lâu kiến
thức cơ bản, hướng dẫn kỹ năng, phương pháp học tập cho học sinh.
- Cần phải có tình yêu thương học sinh, tận tụy với nghề nghiệp, luôn động viên,
khen ngợi, khích lệ tinh thần kịp thời và đúng lúc, phải có phương châm ‘‘ kỷ
cương, tình thương, trách nhiệm’’.
Mặc dù bản thân người viết rất cố gắng cho bài viết được cô đọng, có chiều sâu
về nội dung cũng như cách trình bày logic nhưng vì thời gian có hạn, quá trình
công tác và kinh nghiệm còn ít nên không thể tránh được những thiếu sót. Rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp thiết thực từ quý thầy cô nhằm giúp đề
tài được hoàn thiện hơn và có thể triển khai áp dụng vào thực tiễn.
2. Kiến nghị :
Để đề tài có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy tôi xin đề xuất một vài ý kiến chủ
quan như sau:
à Đối với lãnh đạo nhà trường:
Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

20


Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém – môn Hóa học THCS

Chỉ đạo đổi mới cách sinh hoạt tổ bộ môn theo hướng tích cực, chú trọng hơn


TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT

Tên tài liệu

Tác giả

1

SGK, SBT hóa học 8, 9

Lê Xuân Trọng

2

Các trang web về hóa học

3

Những điều kì thú của hóa học

Nguyễn Xuân Trường

4

Người viết: Hoàng Thị Năm - Bộ môn Hóa -Trường THCS Nguyễn Trãi
Trang

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status