SKKN một số BIỆN PHÁP để GIÚP học SINH lớp 3 GIẢM bớt lỗi CHÍNH tả - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢM BỚT
LỖI CHÍNH TẢ”


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
1. Cơ sở lí luận :
Hồ Chủ tịch – người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã nói:
“Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức”.
Điều này chứng tỏ tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả bí mật
trong vũ trụ bao la này.
Muốn có tri thức thì phải học và học thật tốt. Việc học phải trải qua muôn vàn gian
khổ, quá trình thử thách, nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi, kể cả phải vượt qua thác ghềnh,
chông gai mới có được.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hình thành,
phát triển trí tuệ cho học sinh,và môn Tiếng việt chiếm một vị trí hết sức quan trọng, mà
ở đây được nhắc đến đó là phân môn chính tả ở lớp 3 vì nó cũng không kém phần quan
trọng giúp cho con người chúng ta trong khi nói hay viết cũng như trong đời sống sinh
hoạt và lao động thường ngày của con người. Nó còn là phương tiện, là công cụ cần thiết
để học các môn học khác. Đồng thời nó góp phần to lớn vào việc phát triển tư duy cho
học sinh, bồi dưỡng và phát triển các thao tác trí tuệ. Mặt khác, môn Tiếng việt còn góp
phần quan trọng vào việc phát triển tư duy và việc hình thành các phẩm chất của con
người lao động mới.
2. Cơ sở thực tiển :
Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh là mối
quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong
các môn học ở tiểu học thì môn Tiếng việt là một trong những môn quan trọng nhất giúp
học sinh nắm được kiến thức Tiếng việt cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, ngoài ra

môn chính tả hơn, đồng thời tạo cho các em có lòng say mê học tập và làm việc có kế
hoạch một cách cụ thể, có ý chí vượt khó vươn lên và tự tin trong học tập.
2. Các phương pháp:
Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
1. Phương pháp luyện tập thực hành :
Đây là phương pháp chủ đạo trong quá trình dạy và học môn chính tả. Chỉ có thông
qua con đường luyện tập thực hành thì mới hình thành được năng lực viết đúng chính tả
một cách có hiệu quả.
2. Phương pháp giao tiếp :
Phương pháp này giúp học sinh khắc sâu những quy tắc chính tả một cách có ý
thức. Muốn sử dụng phương pháp này cần có hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối
tượng học sinh.
3. Phương pháp phân tích ngôn ngữ :


Phương pháp này giúp học sinh so sánh những từ ngữ dễ lẫn lộn khi viết. Để sử
dụng tốt phương pháp này, giáo viên phải chọn những từ ngữ dễ lẫn, tùy theo tửng địa
phương, tùy theo tình hình lớp. Cách phân tích phải dễ hiểu, không sử dụng thuật ngữ
khó hiểu đối với học sinh.
4. Phương pháp luyện tập theo mẫu:
Phương pháp này sử dụng trong mọi tiết học chủ yếu là trong giờ chính tả nghe
đọc. Ở tiết chính tả nghe đọc, giáo viên lưu ý học sinh các tiếng dễ lẫn như : phụ âm, dấu
thanh, vần. Học sinh phải tái hiện mẫu thông qua hai thao tác : Thao tác tiếp nhận mẫu
bằng âm thanh và thao tác chuyển từ âm thanh qua mẫu chữ viết.
5. Phương pháp quan sát :
Đây là phương pháp mà đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị một số đồ dùng học
tập và một số câu hỏi nhằm giúp học sinh tiếp thu bài một cách hiệu quả.
6. Phương pháp điều tra, thống kê kết quả :
Phương pháp này nhằm kiểm tra chất lượng học tập của học sinh qua từng giai
đoạn.

Mà người giáo viên đóng vai trò chủ đạo phải tạo cho học sinh ghi nhớ một cách
chủ động tránh áp đặt mà cần phải có thủ thuật ghi nhớ, có thể chia ra làm nhiều phần để
học sinh dễ hình dung ra khi cần thiết.
Việc học sinh ghi nhớ tốt là điều kiện cần thiết nhất để các em nhanh chóng nắm
được một số qui tắc, thủ thuật và các mẹo vặt khi viết chính tả một cách khoa học chứ
không phải máy móc.
Chúng ta không nên áp đặt học sinh tiếp thu kiến thức sâu hơn mà chỉ cần các em
tiếp thu được những nội dung cơ bản trong từng bài học, nội dung đó phù hợp với khả
năng của từng em.
* Tóm lại: Từ những đặc điểm trên của học sinh tiểu học về quá trình nhận thức, khi
dạy học tiểu học nói chung và dạy học môn tiếng việt nói riêng chúng ta nên:
Quan tâm đến việc sử dụng đồ dùng học tập của các em. Nên áp dụng đồ dùng trực
quan để hình thành kiến thức cho học sinh.
Nên chú ý đến từng đối tượng học sinh mà có biện pháp dạy học phù hợp, tránh áp
đặt mà phải để cho các em làm quen từ từ với kiến thức đó.
Nên chia học sinh theo từng đối tượng để truyền thụ.


Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả học tập thực hành khi viết chính tả
nhằm giúp các em nhận ra những lỗi phổ biến thường gặp để từ đó các em có hướng khắc
phục để dần dần đạt kết quả tốt hơn.
Tập cho học sinh có thói quen không thoả mãn với bài làm của mình và tự tìm ra
cách khắc phục với năng lực học tập của mình.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Đặc điểm, tình hình chung của lớp:
1/ Thuận lợi:
- Đa số các em đã được nắm được một số qui tắc viết chính tả ở lớp Hai.
- Sĩ số lớp vừa, không quá đông thuận lợi cho việc theo dõi quá trình rèn luyện của
các em.
- Nhà trường quan tâm sâu sẳc trong việc chỉ đạo cũng như tạo điều kiện về chuyên

KH

TL%

TB

30,76% 4

TL%

Y

15,38% 4

TL%
15,38%

III. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN:
1. Kết quả thống kê lỗi:
Qua kết quả thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc phải các loại lỗi sau:
a. Về thanh điệu:
Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì học sinh không phân
biệt 2 thanh hỏi, ngã. Tuy chỉ có 2 thanh nhưng số lượng tiếng mang 2 thanh này không
ít và rất phổ biến - kể cả những người có trình độ văn hoá cao.
Ví dụ:

Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành…

b. Về âm đầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:

+ ât/âc: nổi bậc, nhất lên…
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+êt/êch: trắng bệt…
+ iêt/iêc: mải miếc, tiêu diệc…
+ ut/uc: chim cúc, bão lục…
+ uôn/uông: khuôn nhạc, buồn tắm…
+ uôt/uôc: rét buốc, chải chuốc…
+ ươn/ương: lươn bổng, sung sướn
2. Nguyên nhân mắc lỗi:
a. Về thanh điệu:
Theo các nhà ngữ âm học, người Việt từ Nghệ An trở vào không phân biệt được 2 thanh
hỏi, ngã. Hay nói đúng hơn trong phương ngữ Trung và Nam không có thanh ngã. Mặt
khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn. Do đó lỗi về dấu câu rất phổ biến.


b. Về âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr, s/x. d/gi.
Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn v/d, r/g. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc
ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: âm “ cờ” ghi bằng c,k,qu…) , âm “ngờ” ghi
bằng ng/ngh, dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối với học sinh
tiểu học (nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn do không nhớ các qui định.
c. Về âm chính:
Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/ lại được ghi
bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi /ie, ươ, uô/ lại được ghi bằng các
dạng iê,yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (bia - khuya, biên - tuyến, lửa - lương, mua - muôn);
âm đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con chữ u và o (ví dụ: huệ, hoa).
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộ đối với các
âm chính trong hầu hết các vần trên.
d. Về âm cuối:

học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- Muống = M + uông + thanh sắc
- Muốn = M + uôn + thanh sắc.
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng “muốn” có âm
cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai.
3. Giải nghĩa từ:
- Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ. Việc giải nghĩa
từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn… nhưng nó
cũng là viêc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ
khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú giải,
đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa,
trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…
Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên
+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng hoặc
miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang
dội).


+ Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích
bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun
trực tiếp trên bếp lửa).
- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa
từ.
4. Ghi nhớ mẹo luật chính tả:
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ,
giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1,
các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k,gh,ngh chỉ kết
hợp với các nguyên âm i, e,ê,iê, ie. Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh
một số mẹo luật khác như:

Bổng



Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ…



Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ…



Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ…

Trầm:


Huyền + ngã: Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã



Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…



Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…

+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp
khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh,

Rau muốn

Rau muống

Chải chuốc

Chải chuốt

Giặc quần áo

Giặt quần áo

* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính
tả:
A

B

bênh

trái

bên

vực

bện

tật





Trời nhiều …….., gió heo ………lại về. (mây, may)

- Bài tập phát hiện:
* Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:


Xuân diệu là một nhà thơ trử tình nổi tiếng.




Cả phòng khéc lẹc mùi thuốc lá.



Lá vàng bay liệng trong gió chiều.



Bức tườn bị nức ngang nức dọc.

- Bài tập điền khuyết:
* Điền vào chỗ trống:


l/n: lành…. ặn, nao…úng,…anh lảnh


Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ đồng âm, từ
trái nghĩa….
* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:


Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:



Thi không đỗ:



Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:

* Tìm các từ chỉ hoạt động:


Chứa tiếng bắt đầu bằng r:



Chứa tiếng bắt đầu bằng d:



Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:






no - lo



chúc - chút



lụt - lục



ngả - ngã

- Bài tập giải câu đố
* Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:
Mặt….. òn, mặt lại đỏ gay
Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao
Suốt ngày lơ lửng… ên cao
Đêm về đi ngủ, ….ui vào nơi đâu?
(là gì?)
* Em chọn dấu hỏi hay dấu ngã để đặt trên những chữ in đậm rồi giải câu đố sau:
Cánh gì cánh chăng biết bay
Chim hay sà xuống nơi đây kiếm mồi
Đôi ngàn vạn giọt mồ hôi
Bát cơm trắng deo, đia xôi thơm bùi.
(là gì?)
6. Yêu cầu học sinh tự phát hiện ra lỗi chính tả và tự sửa lỗi chính tả:

- Vỏ : bóc vỏ, vỏ chai
- Võ : võ nghệ., võ vàng, vò võ
- Qua phân môn luyện từ và câu giúp cho các em hiểu về câu, từ đó biết chấm câu,
sau dấu chấm câu biết viết hoa chữ cái đầu câu, biết viết hoa các danh từ riêng.
8. Tổ chức cho học sinh học theo tổ - nhóm:
- Giáo viên cần tổ chức cho học sinh học theo tổ nhóm hoặc phân thành “đôi bạn
cùng tiến” học tập để các em hướng dẫn lẫn nhau (giáo viên luôn nhắc nhở và kiểm tra
các em đều phải có một quyển vở rèn chính tả).


Ví dụ : Mỗi tuần ngày thứ ba có tiết chính tả thì ngày thứ năm hoặc ngày thứ sáu
các nhóm học tập hoặc đôi bạn học tập sẽ đọc trước phần viết đúng rồi đọc toàn bài viết.
Qua đó học sinh đọc để hiểu được nội dung bài và nghĩa của từ cần ghi nhớ.
- Học sinh sau khi nắm được nội dung bài và các từ cần ghi nhớ, các em lấy
"Quyển vở rèn chính tả" ra viết vào, tiếp theo là đổi bài kiểm tra lẫn nhau.
- Vào ngày thứ hai trong lúc truy bài đầu giờ các em sẽ tiến hành viết và kiểm tra
chéo nhau lần nữa, củng cố lại những từ còn viết sai.
Vậy trong một tiết các em đã được mắt nhìn, tay viết các chữ khó rất nhiều lần, từ
đó hạn chế được các lỗi sai ở học sinh.
V. HIỆU QUẢ ÁP DỤNG :
Trong quá trình giảng dạy, với việc áp dụng các biện pháp trên tôi nhận thấy học sinh có
những tiến bộ rõ rệt trong việc nắm bắt các quy luật chính tả, đặc biệt là các tiếng có phụ
âm đầu l / n, gi / r / d, tr / ch, s / x và thanh hỏi, thanh ngã so với đầu năm tỉ lệ viết
đúng đạt trên 90%. Ngoài ra, các em còn thể hiện sự viết đúng, viết đẹp trong bài chính
tả nói riêng và các bài tập của môn học khác nói chung. trở nên hào hứng, sôi nổi, các em
học sinh không còn rụt rè e ngại mà đã có sự tự tin, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng
bài.
Trên đây là một số biện pháp mà trong quá trình giảng dạy phân môn chính tả tôi đã áp
dụng vào việc giảng dạy trên lớp. Với kết quả nghiên cứu của mình, tôi chỉ xin nêu một
vài kinh nghiệm ít ỏi của cá nhân tôi đã tích lũy được, một số bài học thực tiễn, mong

4
5

TL%
15,38%
19,23%

TB
3
2

TL%
11,53%
7,69%

Y
0
0

TL%


C. KẾT LUẬN :
I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC :
Trong sự nghiệp giáo dục, dù ai đã và đang công tác cũng chung nhau một lòng
mong mõi là làm sao, làm thế nào cho học sinh của mình viết đẹp và viết đúng chính tả,
góp phần làm rạng danh tiếng Việt, sử dụng đúng chính tả có tầm quan trọng cho cả quốc
gia và là một yêu cầu tất yếu của xã hội hiện tại.
Qua đi sâu nghiên cứu đề tài: “ Một số biện pháp để giúp học sinh lớp 3 giảm bớt lỗi
chính tả” tôi đã tìm hiểu được các cơ sở lý luận, xác định được chất lượng chính tả của

quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ … tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến sai
sót.
Đặc biệt giáo viên phải chú ý đến các lỗi mà học sinh thường mắc phải, để đưa ra các
dạng bài tập rèn cho các em viết đúng chính tả và củng cố các quy tắc chính tả cho các
em qua các kiểu bài khác nhau.
Thực hiện tốt công tác chủ nhiệm bằng cách quan tâm đến tất cả các em học sinh, với
tất cả các môn học.Tục ngữ có câu: “Ở đâu có thầy giỏi. ở đó có trò giỏi” nêu bật vai trò
hướng dẫn của thầy, cô giáo trong việc học tập của học sinh. Vì vậy người giáo viên cần
phải không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ, tay nghề.
Có nắm chắc kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi và khắc phục lỗi
một cách có hiệu quả. Ngoài ra giáo viên phải luôn học hỏi kinh nghiệm các bạn đồng
nghiệp, bồi dưỡng chuyên môn để bổ sung cho vốn kinh nghiệm của bản thân.
Muốn học sinh viết đúng chính tả thì giáo viên phải phát âm chuẩn, viết đúng chính tả
trong giao tiếp cũng như trong giảng dạy, giáo viên phải là người có lòng tâm huyết với
nghề nghiệp, tận tụy với học sinh.
Giáo viên cần phải đầu tư thời gian, có kế hoạch hướng dẫn rèn chữ cho học sinh,
thường xuyên theo dõi và phát hiện kịp thời các hiện tượng mắc lỗi chính tả ở học sinh để
đưa ra biện pháp sửa chữa đúng lúc. Giáo viên cần lập cho học sinh mỗi em một quyển
vở rèn chính tả, kiểm tra , đánh giá học sinh qua từng thời gian cụ thể, động viên các em
học sinh có tiến bộ trong quá trình học tập.
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:
* Đối với giáo viên :
- Để thực hiện được công việc này thì giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên theo dõi,
uốn nắn các em, hướng dẫn các em thường xuyên nhất là đối với học sinh yếu.
- Thay đổi linh hoạt các phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức để các em cảm
thấy thoải mái, tự tin khi học


- Giáo viên phải tận tình trong việc dạy bảo và kiên trì chờ đợi kết quả bởi vì làm
công tác giáo dục là cả một quá trình lâu dài chứ không phải là một sớm một chiều.

2.

Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 3

3.

Chữa lỗi chính tả cho học sinh - Phan Ngọc - NXB Giáo Dục 1982.

4.

Từ điển chính tả tiểu học - NXB Giáo Dục 1997.

5.

Phương pháp giảng dạy Tiếng Việt ở tiểu học - NXB Giáo Dục 2002




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status