BÀI TẬP CÁ NHÂN MÔN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC PHÂN TÍCH NGÀNH KINH DOANH SIÊU THỊ TẠI VIỆT NAM - Pdf 26



Bài tập cá nhân

PHÂN TÍCH NGÀNH KINH DOANH
SIÊU THỊ TẠI VIỆT NAM

GV: TS. Nguyễn Thanh Liêm
HV: Trương Thị Vân Anh
ID: 11752332 – Lớp: SDMBA1

Đà Nẵng, tháng 12 năm 20122
NGÀNH KINH DOANH SIÊU THỊ TẠI VIỆT NAM
1. Các đặc tính nổi trội của môi trường ngành
1.1 Một số nét về ngành kinh doanh siêu thị trên thế giới
1.1.1 Khái niệm siêu thị
“Siêu thị” là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài – “supermarket”,
trong đó “super” nghĩa là “siêu” và “market” là “chợ”. Theo Philips Kotler,
siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất
lợi nhuận không cao và khối luợng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn
đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa
và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa".
Hiện nay, khái niệm siêu thị được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau
tùy theo từng quốc gia. Mỹ coi siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn
có mức chi phí thấp, tỉ suất lợi nhuận không cao và khối luợng hàng hóa bán

Nói đến siêu thị là nói đến cách tiếp cận từ góc độ phân loại mang tính tổ
chức đối với những cửa hàng bán lẻ theo phương thức hiện đại. Hệ thống
các cửa hàng này ở các nước phương Tây bao gồm cửa hàng tiện dụng, siêu
thị nhỏ, siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng bách hoá lớn, cửa hàng bách hoá
thông thường, cửa hàng đại hạ giá, trung tâm thương mại Những loại hình
cửa hàng này với quy mô ngày càng lớn, trang hoàng đẹp và mua bán nhanh
chóng, thuận tiện đã tạo nên diện mạo của ngành thương nghiệp bán lẻ hiện
đại tại các nước công nghiệp phát triển. Trong hệ thống các cửa hàng bán lẻ
hiện đại, siêu thị được xếp ở vị trí cao hơn các cửa hàng tự phục vụ nhỏ, cửa
hàng tiện dụng và thấp hơn so với đại siêu thị, cửa hàng đại hạ giá, cửa hàng
bách hoá, trung tâm thương mại xét về mặt quy mô, diện tích và phương
thức kinh doanh. Những cửa hàng bán lẻ này đã trải qua một quá trình phát
triển lâu dài, có suy thoái và có diệt vong tùy theo từng thời kỳ.
Ở Bắc Mĩ, chuỗi siêu thị thường được cung cấp bởi những trung tâm phân
phối của một tổ chức kinh doanh lớn, chẳng hạn như những công ty Loblaw
ở Canada, sở hữu hàng ngàn siêu thị xuyên quốc gia. Họ có một trung tâm
phân phối ở mỗi tỉnh - thường trong thành phố lớn của tỉnh lớn.
Siêu thị thường cung cấp những sản phẩm với mức giá thấp bằng cách
giảm lợi nhuận biên. Những sản phẩm chắc chắn (điển hình các mặt hàng
chủ yếu như bánh mì, sữa, đường) thường được bán lỗ, nghĩa là không có lợi
nhuận biên. Để duy trì lợi nhuận, siêu thị cố gắng đạt mức lợi nhuận biên
thấp với tổng doanh số bán cao, và vì vậy lợi nhuận trọn gói cao hơn. Khách
hàng thường mua sắm bằng cách đặt sản phẩm của họ vào trong những cái
xe đẩy tay hoặc những cái giỏ (tự phục vụ) và trả tiền tại quầy thanh toán. 4
Hiện nay, nhiều chuỗi siêu thị đang cố gắng giảm giá lao động hơn nữa bằng
việc sử dụng những cái máy thanh toán tự phục vụ, nơi mà một nhóm 4 hoặc
5 máy được giám sát chỉ bởi một người phụ tá.

chết vào năm 1936, có 17 cửa hàng đang hoạt động.
Siêu thị đầu tiên trở nên phổ biến vào những năm 50, khi nhiều cửa hàng
tạp hoá trở thành “tự phục vụ”. Sau đó thì dùng phương pháp mua bán thẳng
(over-the-counter), nơi khách hàng có thể nói với người chủ họ muốn gì và
họ có thể lấy nó khỏi quầy hàng.
Những siêu thị ngày nay có kế hoạch sắp xếp mở, có thể theo dõi khách
hàng dọc suốt những kệ hàng khi họ chọn sản phẩm cho mình. Ngày nay, hầu
hết siêu thị được vận hành bởi các chuỗi xuyên hay đa quốc gia bán lẻ như
Tesco, Sainsbury’s, và Waitrose. Họ có lợi thế cạnh tranh lớn về thương hiệu
cũng như nhãn hiệu hàng hoá. Có những siêu thị khác vận hành bởi những
chuỗi tự nguyện như Alliance và Spar. Những siêu thị này cũng bắt đầu hoạt
động cuối những năm 50 khi vài cửa hàng tạp hoá độc lập nhận ra rằng họ
không thể cạnh tranh với những chuỗi siêu thị lớn. Họ tự tổ chức vào trong
các nhóm và tập hợp nguồn lực để mua lượng lớn ở mức chiết khấu từ những
nhà bán lẻ. Vì thế họ có thể để lại chiết khấu cho khách hàng của mình. Mặc
dù những cửa hàng này dùng tên của nhóm chuỗi (như Spar) và bán hàng
mang nhãn riêng, họ không bị sở hữu bởi chuỗi. Họ là những nhà kinh doanh
riêng có thể chọn và tham gia vào một chuỗi chung. Họ làm điều này bởi nếu
họ không cố gắng tự tồn tại, giá có thể quá cao để cạnh tranh với những siêu
thị lớn hơn và họ sẽ bị phá sản.
Ngày nay, ở các nước phát triển, người ta đã lồng ghép nhiều phương thức
bán hàng trong cùng một cửa hàng quy mô lớn và ngay trong một Siêu thị
nhiều khi vẫn có những quầy bán hàng theo phương thức truyền thống, nhất
là đối với một số mặt hàng nhỏ lẻ, giá trị cao, những mặt hàng đòi hỏi phải
được hướng dẫn sử dụng một cách chi tiết, mặt hàng phải bao gói như hải sản
tươi sống, hoa tươi Mặt khác, tự phục vụ là nguyên tắc kinh doanh trọng
yếu trong siêu thị nhưng không phải bất cứ hình thức kinh doanh tự phục vụ
nào đều là siêu thị.
Michael Cullen mở siêu thị đầu tiên ở Queens, New York có tên
là King Kullen. 7
1958
Nhôm được sử dụng làm đồ chứa thức ăn
1988
Wal-Mart mở trung tâm siêu thị đầu tiên ở Washington
1992
Toàn bộ siêu thị thực phẩm trở thành siêu thị thương mại quốc
gia
2004
36.4% siêu thị được các công ti lên kế hoạch xây dựng sẽ là
Latino-oriented.
Hầu hết siêu thị được thiết kế và trưng bày theo khuynh hướng marketing.
Sản phẩm hướng về gần lối vào của cửa hàng. Sữa, bánh mì, và những thứ
cần thiết được đặt phía sau hay ngoài đường đi. Điều này được thực hiện một
cách cố ý để đảm bảo thời gian lâu nhất trong cửa hàng, tản bộ qua những
gian khác và thúc đẩy việc mua hàng. Nhiều nhà bán lẻ đã cung cấp phương
thức tự thanh toán trong cửa hàng với nỗ lực nhằm giảm chi phí lao động.
Những siêu thị lớn hơn ở Bắc Mĩ và châu Âu điển hình bán nhiều loại
hàng khác nhau như:
Sản phẩm có cồn (nơi mà tỉnh/bang hoặc luật địa phương cho
phép, những bang và tỉnh riêng điều hành như bia, rượu… )
Thức ăn và sản phẩm trẻ em
Bánh
Sách, báo, tạp chí, kèm theo tin vắn của siêu thị khổ nhỏ
Sản phẩm chăm sóc xe hơi
CDs, DVDs và video (kèm cho thuê video)

1.2 Ngành kinh doanh siêu thị tại Việt Nam
1.2.1 Môi trường ngành kinh doanh siêu thị ở Việt Nam
Môi trường vĩ mô
a. Môi trường kinh tế
Tại Việt Nam, ngành kinh doanh siêu thị chịu tác động nhiều từ môi
trường kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế: dẫn đến một sự bùng nổ về chi tiêu của khách
hàng, vì thế có thể đem lại khuynh hướng thoải mái hơn về sức ép
cạnh tranh trong một ngành. Điều này có thể cống hiến cho các
công ty cơ hội để bành trướng hoạt động và thu được lợi nhuận cao 9
hơn. Nước ta có mức tăng trưởng GDP cao và khá ổn định, theo đó
nhu cầu tiêu dùng cũng ngày một tăng lên. Hiện nay, quá trình đô
thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam và kết quả sẽ là xuất
hiện các đô thị lớn để thích ứng với xu thế chung của thế giới. Xu
hướng này có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển và phân
bố lại mạng lưới thương nghiệp xã hội trong đó có siêu thị.
Mức lãi suất: Yếu tố này rất quan trọng, mỗi sự thay đổi nhỏ của
lãi suất cũng làm nền kinh tế biến động. Hiện Việt Nam theo cơ chế
thị trường nên khi lãi suất thay đổi làm cho tình hình đầu tư biến
động. Khi lãi suất giảm đồng nghĩa với chi phí sử dụng vốn thấp
kéo theo việc đầu tư vào các dự án càng được đẩy mạnh vì các dự
án đầu tư ở Việt Nam phần lớn đều có sự tham gia của vốn vay khá
cao, khả năng tiêu thụ cũng tăng lên vì lãi suất tiền gửi ngân hàng
giảm khiến người dân không muốn gửi tiết kiệm. Lãi suất ngân
hàng cũng là công cụ để Nhà nước điều tiết kinh tế. Ngân hàng nhà
nước thông qua quyết định đã giảm lãi suất cho vay bằng đồng Việt
Nam của các ngân hàng thương mại, giảm mức lãi suất tiền gửi

được đáp ứng dễ dàng, thuận tiện thông qua mạng lưới chợ. Nhưng bên cạnh
đó, các chợ ở Việt Nam cũng chứa ẩn không ít những nhược điểm khiến
nhiều người có xu hướng chuyển sang mua hàng tại các siêu thị. Đó là sự mất
vệ sinh, ô nhiễm môi trường, mỗi khi mua hàng đều phải mặc cả mà rất dễ
mua nhầm hàng chất lượng kém, hàng nhái, hàng giả, giá cao
Đời sống của người dân ngày càng ổn định, mức sống tăng. Tỉ lệ thất
nghiệp cũng giảm đi đáng kể. Nhu cầu của người dân cũng ngày một tăng cả
về lượng lẫn về chất và đa dạng hơn. Văn hoá cũng tác động lớn đến hành vi
tiêu dùng của người dân. Các yêu cầu về mẫu mã, độ an toàn vệ sinh thực
phẩm, ý thức về bảo vệ môi trường cũng được người tiêu dùng quan tâm rất
nhiều. Cũng theo phân tích của giới kinh doanh và phân phối hàng tiêu dùng,
thị trường bán lẻ và dịch vụ ở Việt Nam mỗi năm đạt doanh số khoảng 20 tỉ
USD và có đến 85% người dân thành thị ở các thành phố lớn có xu hướng
thích mua sắm ở siêu thị. Do mức sống của người dân ngày càng cao, quỹ
thời gian ngày càng bó hẹp, nên hình thức mua sắm tại siêu thị được nhiều
người quan tâm hơn. 11
Siêu thị đã thuyết phục được người tiêu dùng vì các đặc tính ưu việt về
sản phẩm phong phú, đa dạng chủng loại từ đồ chơi lưu niệm, bao bì, dụng
cụ đồ dùng gia đình, vật liệu, linh kiện máy móc…, nhiều sản phẩm có bảo
hành, có thời gian sử dụng và chất lượng được bảo đảm đã tạo cơ hội lựa
chọn hàng tự do cho người tiêu dùng phù hợp với khả năng của người mua,
không những thế, đó còn là nơi tham quan của khách hàng có nhu cầu giải trí.
Bên cạnh đó, theo các nhà phân tích, những trung tâm phân phối và siêu
thị lớn mới chỉ đáp ứng 20% nhu cầu tiêu dùng của khách hàng có mức sống
trên trung bình và 80% nhu cầu còn lại, phải vào các chợ và cửa hàng nhỏ lẻ
mua sắm. Đây là cơ hội thuận lợi trong việc khai thác tiềm năng của ngành,
và phát triển qui mô kinh doanh các loại mặt hàng ngày càng đa dạng và

cụ thể ngày càng tăng.
Giáo dục
Giáo dục và thu nhập là các yếu tố quan trọng trong hành vi mua hàng của
khách hàng. Những người có trình độ giáo dục cao hơn có xu hướng độc
lập hơn trong việc thu thập thông tin về hàng hoá trong khi những người ít
được giáo dục hơn thường bị ảnh hưởng bởi bạn bè. Đối với nhóm này,
người bán lẻ sẽ khá khôn ngoan khi nhấn mạnh đến chất lượng, sự hoàn
thiện và các động cơ mang tính lý trí khác trong các thông điệp gởi đến
khách hàng tiềm năng.
Giới tính
Nam giới và nữ giới có những đặc điểm mua sắm khác nhau. Nữ giới
thường mua thực phẩm và vật dụng gia đình hơn là nam. Ngoài ra, họ
thường thích mua sắm hơn nam giới. Những xu hướng gần đây cũng cho
thấy các cặp vợ chồng thường bàn bạc thảo luận với nhau và cùng đi mua
sắm, vì vậy phải có thời gian cho họ thống nhất ý kiến trước khi ra quyết
định. Ngoài ra, nhà bán lẻ còn phải chú ý làm cho khách hàng cảm thấy
thoải mái và vui sướng khi mua sắm, khách hàng cảm thấy thích việc mua
sắm thì họ sẽ đi mua sắm nhiều hơn. Những nhà kinh doanh siêu thị nước
ngoài đã làm được điều này.
Nghề nghiệp 13
Đối với người lao động, thường chia ra lao động tri thức và lao động chân
tay. Với những người lao động trí óc, họ thường hiểu tường tận hơn
những thông tin liên quan đến mua hàng trong khi người lao động chân
tay thường không có nhiều thông tin bằng. Họ thường nghe lời khuyên
của người khác.
Thu nhập
Engels, nhà kinh tế học người Đức về cách thức chi tiêu của các gia đình

trong nội trợ. Hàng hoá phù hợp với họ phải thời trang, tiện dụng. Trong
số họ có một bộ phận thường thích mua sắm ở cửa hàng bán lẻ trung tâm
để tiết kiệm thời gian hơn là ở những cửa hàng giá rẻ hay vào các siêu thị.
Họ không có nhiều thời gian chọn lựa, nên sẽ rất có lợi nếu nhà bán lẻ biết
cách bài trí hay cung cấp dịch vụ tiện nghi, không để họ đợi lâu với hàng
hoá chất lượng.
e. Môi trường chính trị luật pháp
Cùng với Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ, Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt-
Nhật và những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO là mở cửa hoàn
toàn trong lĩnh vực phân phối, theo đó, cho phép thành lập doanh nghiệp
100% vốn trực tiếp đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất thương mại và
phân phối. Tại hai thành phố lớn, các chính sách đều đã ưu tiên việc tập trung
hoá hệ thống phân phối thực phẩm, dưới hình thức các chợ bán buôn và bán
lẻ theo quy hoạch, hỗ trợ đầu tư của tư nhân trong lĩnh vực siêu thị, và lên kế
hoạch loại bỏ việc bán hàng rong và các chợ không chính thức. Mặc dù vậy,
các văn bản pháp quy cũng đề cập đến sự cần thiết phải cân đối giữa các loại
hình kinh doanh đa dạng, trong đó có chợ, cửa hàng và siêu thị.
Bộ Thương mại đã xây dựng một chiến lược phát triển ngành phân
phối Việt Nam đến năm 2020. Theo đề án, sẽ lựa chọn khoảng 20 nhà phân
phối bán lẻ tại Việt Nam để đầu tư và hỗ trợ cho họ trở thành những nhà
phân phối lớn, giữ vững hệ thống phân phối trong nước. Trong đó sẽ có đủ
ngành hàng từ hàng tiêu dùng, vật tư, thực phẩm, đủ các phương thức bán lẻ
như trung tâm thương mại, siêu thị, những cửa hàng bán lẻ 24 giờ, các chợ
bán buôn…
f. Môi trường toàn cầu 15
Lịch sử phát triển của hình thức kinh doanh siêu thị trên thế giới được nêu
rõ trong phần đầu. Các nước trong khu vực như Thái Lan, Hồng Kông,

16
(Mỹ), Carefour (Pháp) và Tesco (Anh). Các tập đoàn bán lẻ hàng đầu châu Á
như Dairy Farm (Hồng Kông), South Asia Investment Pte (Singapore)…
đang tìm hiểu thị trường nước ta. Ngoài ra, Trung tâm thương mại của tập
đoàn Lotte của Hàn Quốc (vốn 15 triệu USD), dự án của Tesco (tập đoàn bán
lẻ đứng thứ sáu thế giới có doanh số hàng năm 40 tỷ USD (Anh) hay của tập
đoàn Dairy Farm cũng đang xin được cấp phép hoạt động. Bên cạnh đó, một
loạt các dự án đầu tư lớn như tập đoàn Parkson (Malaysia) đã chính thức
tham gia thị trường bằng việc khai trương trung tâm mua sắm đầu tiên tại thị
trường Hồ Chí Minh trong hệ thống 10 trung tâm mà tập đoàn này dự định
đầu tư tại Việt Nam. Big C, Metro cũng tiếp tục mở thêm nhiều trung tâm
và siêu thị ở các thành phố lớn. Sự có mặt của họ sẽ đẩy hoạt động kinh
doanh bán lẻ cả nước đi vào bước ngoặt mới của cuộc cạnh tranh.
1.2.2 Phân tích ngành kinh doanh siêu thị tại Việt Nam
a. Đặc tính kinh tế nổi bật của ngành kinh doanh siêu thị
Ở đây thống nhất hiểu ngành kinh doanh siêu thị tại Việt Nam theo quy
chế của Bộ Công thương: “Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh
tồng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa
dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh,
trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức
phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của
khách hàng”.
Tại Việt Nam, siêu thị đã có mặt từ cuối những năm 60 dưới chế độ cũ và
phát triền cho đến năm 1975, chủ yếu là ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi đất
nước thống nhất, các siêu thị này chuyển hình thức kinh doanh tự phục vụ trở
về phương thức bán hàng truyền thống. Siêu thị đầu tiên xuất hiện ở nước ta
là Minimart của Công ty xuất nhập khẩu nông sản và tiểu thủ công nghiệp
Vũng Tàu khai trương vào tháng 10 năm 1993 với một quy mô nhỏ và đối
tượng phục vụ chủ yếu là khách nước ngoài. Tiếp theo đó thì một số siêu thị
khác ở thành phố Hồ Chí Minh lần lượt ra đời. Đến năm 1996 thì siêu thị bắt

hấp dẫn và thông tin về độ an toàn của sản phẩm luôn là những công cụ
khuếch trương chính. 18
Theo tài liệu của Reardon và Berdégué, siêu thị trước tiên được mở ở
những quận trung tâm, sau đó phát triển ra các huyện ngoại thành, xu hướng
này cũng đang diễn ra tại Việt Nam. Siêu thị dịch chuyển theo hai bước sau :

Bước 1
Bước 2
Giá tại siêu thị/ các
điểm bán hàng khác
Giá cao
Giá thấp
Đối tượng khách hàng
tại siêu thị
Khách hàng giàu có
Cả khách hàng giàu và
nghèo
Thị phần của siêu thị
Thị phần nhỏ
Thị phần lớn
Phân bố theo vị trí địa

Các thành phố lớn,
những khu vực giàu có
Các khu vực nghèo hơn
và kém đô thị hoá hơn.


Ba hãng chính trong lĩnh vực siêu thị phân phối thực phẩm tươi sống là:
* Metro, chuỗi siêu thị của Đức, mở cửa từ năm 2002: theo lý thuyết là
một chuỗi phân phối bán buôn hướng tới đối tượng khách hàng là những
người kinh doanh bán lẻ và chủ các nhà hàng – nhưng hiện đang ngày càng
có nhiều khách hàng là cá nhân; có các cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà
Nội, Cần Thơ, Hải Phòng, Đà Nẵng và sẽ mở thêm ở nhiều địa phương khác.
* Big C, Liên doanh Pháp-Việt, có mặt tại Việt Nam từ năm 1999, với 3
trung tâm thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh và một tại Hà Nội.
* Coop-Mart, công ty Việt Nam, trực thuộc Saigon Coopmart, hiện vẫn
được chính phủ Việt Nam định hướng, có các cổ đông Nhà nước cũng như tư
nhân, chiếm một nửa doanh thu bán lẻ thực phẩm hiện đại năm 2001 và có 13
siêu thị vào năm 2004
* Các siêu thị Việt Nam khác gồm có Intimex, Fivimart, Maximart…
Parkson được đánh giá là một đối thủ nặng ký đối với doanh nghiệp VN,
bởi tập đoàn này có kinh nghiệm điều hành hệ thống 36 trung tâm thương
mại siêu thị và hơn 40 trung tâm bán lẻ tại Trung Quốc.
2. Phân tích cạnh tranh
2.1 Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành 20
Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành đang tồn tại là
có thể họ sử dụng các chiến thuật như cạnh tranh về giá, chiến lược quảng
cáo, khuyến mãi, tăng cường phục vụ khách hàng…
Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài có ưu thế về kinh nghiệm, nguồn tài chính
dồi dào, có mạng lưới toàn cầu và đặc biệt họ có thể điều phối được lợi
nhuận trong toàn bộ hệ thống (nơi có lãi bù lỗ cho nơi chưa có). Còn những
nhà bán lẻ trong nước như Saigon Co.op, hệ thống siêu thị lớn nhất Việt Nam
hiện nay cũng chỉ có 14 siêu thị trên tổng số 24 quận, huyện của thành phố
Hồ Chí Minh và việc mở rộng cũng đang là vấn đề nan giải.

Giang với tổng vốn đầu tư 47 tỉ đồng.
Tính đến hết năm 2010, cả nước Việt Nam có 571 siêu thị, trong đó 111
siêu thị hạng nhất, 149 siêu thị hạng hai và 311 siêu thị hạng ba. Nhìn chung,
đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành của kinh doanh siêu thị Việt Nam
ngoài các doanh nghiệp trong nước kể trên còn có:
Các tập đoàn kinh doanh siêu thị nước ngoài: gồm các doanh
nghiệp lớn có tên tuổi, bán hàng số lượng lớn, giá thấp, là đối
thủ cạnh tranh đáng ngại nhất của giới kinh doanh siêu thị trên
thế giới cũng như tại Việt Nam. Nếu xét về hình thức kinh
doanh các tên tuổi này thường kinh doanh bán buôn nhưng trong
hoạt động kinh doanh của họ thường có sự kết hợp giữa bán
buôn với bán lẻ nên có tác động lớn đến doanh số của các siêu
thị nội địa.
Siêu thị chuyên ngành: Là những siêu thị chỉ chuyên kinh doanh
về một ngành hàng nhất định (điện thoại di động, hàng may
mặc, thiết bị điện tử, xe máy, ô tô…) Những siêu thị này có
phạm vi chủng loại sản phẩm kinh doanh rất hẹp, nhưng trong
đó bao gồm rất nhiều nội dung sản phẩm.
Điển hình là tập đoàn Dệt may Việt Nam – Vinatex với 28 siêu thị dệt
may ở các thành phố lớn, sẽ mở rộng diện tích bán hàng tại các siêu thị tăng
thêm 28.000m2, trong đó có ít nhất 2 trung tâm thời trang trung – cao cấp.
Mặt khác, nghiên cứu tổ chức việc bán lẻ sản phẩm trực tiếp tại nước ngoài
với thương hiệu Việt Nam. Trong 5 năm tới, Vinatex sẽ đầu tư 835 tỉ đồng 22
mở rộng hệ thống bán lẻ, đồng thời thực hiện chiến lược quảng bá thương
hiệu trên các trang web, catalogue, phim ảnh, các phương tiện truyền thông
trên thị trường.
2.2 Đe dọa của những đối thủ nhập cuộc tiềm tàng

Nam. Trong số đó có Tesco của Anh, là tập đoàn bán lẻ đứng thứ 6 thế giới
có doanh thu hàng năm gần 40 tỷ USD, tập đoàn Giant South Asia
Investment Pte của Singapore cũng đang triển khai khảo sát và mong muốn
đầu tư kinh doanh siêu thị tại nước ta. Ngoài ra Wal Mart, nhà bán lẻ lớn nhất
thế giới và Carrefoul, nhà bán lẻ lớn thứ hai thế giới cũng đã đưa Việt Nam
vào kế hoạch mở rộng các siêu thị trọng điểm trong thời gian tới của họ.
Tập đoàn Berli Jucker Plc (BJC) và Mongkol Group cũng dự định sẽ đầu
tư khoảng 3 tỉ bạt để mở chuỗi siêu thị tại Việt Nam. BJC là tập đoàn sản
xuất và thương mại hàng đầu của Thái Lan với tuổi đời 130 năm, do tỷ phú
Thái Lan Charoen Sirivadhanabhakdi, người giàu thứ 3 tại Thái Lan quản lý,
trong khi Mongkol Group đã kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam từ năm 1993.
BJC sẽ dành 3 tỉ bạt (khoảng 2000 tỉ đồng) để thiết lập mạng lưới tại Việt
Nam. Tham gia vào thị trường bán lẻ, liên doanh Thai Corporation
International do hai công ty thành lập sẽ có những siêu thị của chính mình
sau khi đã phân phối hàng hoá tại Việt Nam từ hai năm nay. Ông Mongkol
Banthrarungroj, giám đốc và phó chủ tịch của Thai Corporation International
cho rằng một chuỗi siêu thị Thái Lan sẽ là kênh phân phối hàng hoá của các
doanh nghiệp nhỏ và vừa Thái Lan ra thị trường nước ngoài. Chuỗi siêu thị
dự tính sẽ mang lại cho Thai Corporation International ít nhất 5 tỉ bạt trong
vòng 5 năm. Riêng trong năm đầu tiên, nguồn thu ước tính đạt 2,3 tỉ bạt.
Mặc dù tên chính thức của chuỗi siêu thị chưa được tiết lộ nhưng dự kiến
siêu thị sẽ phân phối 30% sản phẩm Việt Nam và phần còn lại là hàng hoá
Thái Lan. Liên doanh này có mục tiêu tạo dựng thương hiệu cho hàng hoá
Thái Lan tại khu vực Đông Dương, mở rộng thị trường cho hàng hoá Thái
Lan sang Myanmar, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Chuỗi siêu thị sẽ hướng đến chất lượng tốt và giá cả hợp lý. Tại Hội chợ
Thương mại Thái Lan vừa qua ở TPHCM, đã có khoảng 10.000 người đến
thăm quan và mua sắm. Thai Corporation International hiện đang phân phối 25
Trung tâm Thương Mại: Các trung tâm thương mại là nơi mọi
người có thể đến mua sắm, giải trí. So với siêu thị thì trung tâm
thương mại có thể có qui mô lớn hơn. Tại đây, tập trung rất
nhiều loại hình kinh doanh cụ thể như: nhà hàng, khách sạn,
quán bar, cà phê, rạp cinema, Văn phòng cho thuê, các trung
tâm mua sắm, trung tâm giải trí… Các trung tâm thương mại
không chỉ tăng nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, mà
sẽ còn xuất hiện rất nhiều tại các tỉnh, thành khác. Nha Trang có
dự án khu liên hợp Hòn Ngọc Việt. Tại Đà Nẵng, các khu
thương mại cao cấp cũng được bao gồm trong dự án đa chức
năng Indochina Riverside Towers. Tại Vũng Tàu có Đông Hải
Building…
Cửa hàng: Những diện tích bán hàng nhỏ hơn 500 m², có tường
và mái che, tại thành phố Hồ Chí Minh có thể phân biệt giữa các
cửa hàng gia đình và cửa hàng tiện ích, thường là được tổ chức
theo chuỗi (như chuỗi các cửa hàng Co-op). Cửa hàng kinh
doanh tổng hợp cũng được bày bán nhiều chủng loại, các mặt
hàng đa dạng về mẫu mã, màu sắc nhưng tại các cửa hàng kinh
doanh tổng hợp (tiền thân là cửa hàng bách hoá), khách hàng chỉ
có thể tìm thấy các mặt hàng bình dân với chất lượng và giá cả
phải chăng.
Chợ chính thức: Nếu so về cách thức hoạt động cũng như quá
trình mua bán thì chợ thực sự khác nhiều so với các siêu thị. Tuy
nhiên, từ khi ra đời đến nay, chợ đã thành một địa điểm mua bán
truyền thống, gắn bó lâu đời của người dân Việt Nam. Các chợ
được Nhà nước quy hoạch (có mái che hoặc có mái che một
phần), có ban quản lý chợ. Tại các chợ này, người bán phải trả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status