ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO THANH KHOẢN THEO CHUẨN MỰC BASEL III TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM - Pdf 26

1
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ
ĐẢM BẢO THANH KHOẢN THEO CHUẨN MỰC BASEL III
TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
NHÓM 10 – K09404A
Nguyễn Thị Hiếu K094040545
Nguyễn Hoàng Phú K094040588
Nguyễn Thị Minh Thư K094040612
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 5 NĂM 2013
2
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
3
4
MỞ ĐẦU
Kể từ năm 2007 hệ thống ngân hàng Việt Nam đã gặp phải hai vấn đề lớn gồm: rủi
ro về mặt thanh khoản và rủi ro từ các hoạt động liên quan đến chứng khoán và bất động
sản.
Rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng gia tăng do cung tiền được mở rộng
với tốc độ cao, cộng với sự phát triển nhanh của một số ngân hàng, nhất là các ngân hàng
nhỏ mà phần đông là mới thành lập hay được nâng cấp lên từ các ngân hàng nông thôn.
Điều này đã tạo ra sự mất cân đối trong việc huy động vốn và cho vay của các ngân hàng.
Những ngân hàng lớn có lợi thế về mặt huy động vốn do mạng lưới và quan hệ có sẵn,
khi cung tiền được mở rộng họ đã huy động được rất nhiều tiền, nhưng khả năng cho vay
chỉ ở một mức nào đó nên các ngân hàng này đã dư ra một lượng vốn khá lớn. Ngược lại
các ngân hàng mới nâng cấp hay mới thành lập cần phải mở rộng hoạt động nên cần vốn.
Cung cầu gặp nhau và hoạt động vay mượn trên thị trường liên ngân hàng là khá dễ dàng

Chương 1: CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO ĐẢM THANH KHOẢN THEO CHUẨN
MỰC BASEL III
1.1 Mục tiêu
• Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy khả năng phục hồi thanh khoản ngắn hạn trong
danh mục rủi ro thanh khoản của một ngân hàng bằng cách đảm bảo ngân
hàng nắm giữ các tài sản thanh khoản có chất lượng đủ cao để có thể sống sót
qua một cuộc kiểm tra tăng cường kéo dài một tháng. Mục tiêu này được đo
lường bằng tỉ lệ đảm bảo thanh khoản (Liquidity Coverage Ratio-LCR).
• Mục tiêu thứ hai là thúc đẩy khả năng phục hồi trong một thời gian dài hơn
bằng cách tạo ra nguồn lực bổ sung để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng
với nguồn tài chính ổn định hơn và liên tục. Mục tiêu này được định lượng
bằng tỉ lệ tài trợ ổn định thuần (the Net Stable Funding Ratio-NSFR).
1.2 Thỏa thuận chuyển đổi
• Basel đề nghị các ngân hàng tuân thủ các yêu cầu về LCR tối thiểu từ ngày
1/1/2015 và về NSFR từ ngày 1/1/2018.
• Nên được các cơ quan quản lý ngân hàng triển khai thống nhất trên toàn thế
giới.
• Cán bộ thanh tra có thể yêu cầu từng ngân hàng cụ thể áp dụng các chuẩn mực
nghiêm ngặt hơn và cần có sự đồng thuận về việc sẽ áp dụng các chuẩn mực
này trong một quốc gia cho có hệ thống.
1.3 Tỉ lệ đảm bảo thanh khoản (LCR)
Mục tiêu là để đảm bảo một ngân hàng duy trì ở mức độ thích hợp các tài
sản có thanh khoản chất lượng cao và không bị trở ngại có thể chuyển đổi
thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng trong thời gian
30 ngày của đợt kiểm tra tình huống về việc mất thanh khoản nghiêm trọng do
cán bộ thanh tra xây dựng. Tối thiểu, dự trữ tài sản có thanh khoản phải cho
phép một ngân hàng duy trì hoạt động trong 30 ngày, đây là khoảng thời gian
để Ban lãnh đạo ngân hàng, cơ quan quản lý thực hiện các hành động cứu chữa
thích hợp, ngân hàng có thể được xử lý theo quy trình.
1.3.1 Khái niệm về chuẩn mực LCR

 Dự trữ tại NHTW ở mức độ mà họ có thể rút tiền ra vào thời gian căng thẳng.
 Các chứng khoán có thể bán được tiêu biểu như các khoản cho vay đến hạn
đối với hoặc được bảo lãnh bởi chính phủ, NHTW, các doanh nghiệp công
không trực thuộc chính phủ trung ương, BIS, IMF, EC hoặc các ngân hàng
phát triển đa biên đáp ứng các điều kiện sau: Được đánh giá là 0% rủi ro theo
cách tiếp cận chuẩn hóa Basel II; được giao dịch tại các thị trường repo hoặc
8
tiền mặt phát triển sâu, rộng và năng động có đặc điểm là mức độ tập trung
thấp; đã được kiểm chứng là nguồn thanh khoản đáng tin cậy trên thị trường
(repo hoặc bán) thậm chí cả trong điều kiện thị trường căng thẳng và không
phải là một nghĩa vụ của một định chế tài chính hoặc bất kỳ tổ chức liên quan
nào của định chế tài chính.
 Giấy tờ có giá không phi rủi ro như chứng khoán nợ của chính phủ hoặc
NHTW phát hành bằng đồng bản tệ nên rủi ro thanh khoản đã được tính đến
hoặc xảy ra tại nước nguyên xứ của ngân hàng.
 Giấy tờ có giá không phải là 0% rủi ro, chứng khoán nợ của chính phủ, địa
phương hoặc NHTW phát hành bằng đồng ngoại tệ được nắm giữ phù hợp với
nhu cầu về đồng tiền đó của ngân hàng tại quốc gia đó.
- Cấp độ 2: chỉ được chiếm tối đa 40% nguồn dự trữ thanh khoản. Có thể chiếm
tối đa 40% tổng dự trữ sau khi đã tính chiết khấu (haircuts). Áp dụng mức
chiết khấu tối thiểu 15% giá thị trường đối với mỗi tài sản có cấp 2 được xếp
trong nguồn dự trữ thanh khoản. Tài sản cấp 2 thuộc các loại sau:
 Các chứng khoán có tính thanh khoản tiêu biểu như các khoản cho vay đối với
hoặc có bảo lãnh của Chính phủ, NHTW, các doanh nghiệp khu vực công
không trực thuộc chính quyền trung ương hoặc các ngân hàng phát triển đa
biên đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
• Trọng số rủi ro 20% theo cách tiếp cận tiêu chuẩn của Basel II về rủi
ro tín dụng.
• Được giao dịch tại các thị trường repo hoặc tiền mặt phát triển sâu,
rộng và năng động có đặc trưng là mức độ tập trung thấp.

không quá phụ thuộc vào xếp hạng tín dụng từ bên ngoài. Đây là cách thức sẽ
được quy định trong tương lai.
• Giá trị của dự trữ tài sản thanh khoản có chất lượng cao trong điều kiện có
kiểm tra sức chịu đựng:
- Để được xem xét thuộc loại này, các tài sản có phải là không bị cản trở trong
thời gian 30 ngày theo các kịch bản bắt buộc.
- Chúng cũng phải đảm bảo thanh khoản trên thị trường trong thời gian kiểm tra
sức chịu đựng, lý tưởng là đủ điều kiện để có thể mua bán được với ngân hàng
trung ương.
• Các đặc điểm cơ bản:
- Rủi ro tín dụng và thị trường thấp.
- Dễ dàng định giá
10
- Hệ số tương quan với các tài sản rủi ro là thấp.
- Được niêm yết trên thị trường giao dịch phát triển và đã được
công nhận rộng rãi.
• Các đặc điểm liên quan đến thị trường:
- Thị trường có quy mô và năng động.
- Có mặt các nhà tạo lập thị trường có quyết tâm
- Mức độ tập trung thị trường thấp.
- Hướng đến chất lượng.
• Tổng kiểm tra:
- Khả năng tạo thanh khoản của tài sản có nên được giả định vẫn còn nguyên
vẹn thậm chí cả trong giai đoạn cực kỳ khó khăn và chịu áp lực của thị trường.
- Nên là các tài sản có có thể mua bán với ngân hàng trung ương cho các nhu
cầu thanh khoản trong ngày và thanh khoản qua đêm, tuy nhiên đây không
phải là một điều kiện.
• Các yêu cầu tác nghiệp: Tất cả các tài sản có để dự trữ phải được quản lý như
là một phần của nguồn dự trữ đó và phải tuân theo các yêu cầu tác nghiệp
gồm:

báo cáo cho Ban lãnh đạo của ngân hàng và NBM theo từng giai đoạn.
- Ngân hàng phải tính đến các điều kiện trong tình huống kiểm tra sức chịu
đựng thì khả năng hoán đổi các đồng tiền và tiếp cận các thị trường hối đoái
có thể trở nên khó khăn hơn.
Nếu một tài sản biến đổi thành tài sản không đủ tiêu chuẩn mặc dù vẫn
được coi là tài sản thanh khoản chất lượng, thì vẫn nên duy trì nó trong nhóm
này trong vòng 30 ngày để ngân hàng có thời gian thay thế hoặc điều chỉnh dự
trữ tài sản đó.
1.3.3.2 Tổng luồng tiền ra thuần
• Luồng tiền ra:
- Tiền gửi bán lẻ
 Tiền gửi có kỳ hạn >30 ngày với lãi phạt (0%)
 Ổn định (không kỳ hạn và có kỳ hạn) <30 ngày (5%)
 Kém ổn định (không kỳ hạn và có kỳ hạn) <30 ngày (10%)
- Tài trợ bán buôn không có tài sản đảm bảo
 Một phần tiền gửi doanh nghiệp có quan hệ kinh doanh được đảm bảo bởi Bảo
hiểm tiền gửi (0%)
 Khách hàng kinh doanh nhỏ ổn định (5%)
 Khách hàng kinh doanh nhỏ kém ổn định hơn (10%)
 Tiền gửi vì mục đích tác nghiệp của các thực thể pháp lý (25%)
 Các doanh nghiệp phi tài chính, chính phủ, NHTW và PSEs (75%)
 Các khách hàng là các thực thể pháp lý khác (100%)
12
- Tài trợ có đảm bảo
 Các giao dịch được đảm bảo bằng tài sản có cấp 1 với bất kỳ đối tác nào (0%)
 Các giao dịch được đảm bảo bằng tài sản có cấp 2 với một đối tác (15%)
 Các giao dịch được đảm bảo bằng tài sản có không đủ tiêu chuẩn là tài sản có
thanh khoản cao của các chính phủ sở tại, NHTW sở tại hoặc các pháp nhân
thuộc khu vực công tại nước sở tại (25%)
 Tất cả các giao dịch được đảm bảo khác (100%)

sản có cấp 2.
 50%: Các khoản phải thu từ các đối tác bán lẻ; các khoản phải thu từ các đối
tác bán buôn phi tài chính (các giao dịch không được thống kê riêng).
 100%: Hợp đồng repo đảo ngược và cho vay chứng khoán vay có thế chấp
bằng các tài sản có khác; các khoản phải thu từ các định chế tài chính có các
giao dịch không được thống kê riêng; các khoản phải thu phái sinh ròng.
• Tổng luồng tiền ra thuần:
- Mẫu số khi tính tỉ lệ LCR.
- Tổng luồng tiền ra thuần - được xác định bằng tổng luồng tiền ra dự kiến trừ đi
tổng luồng tiền vào dự kiến trong kịch bản kiểm tra sức chịu đựng cụ thể trong
chu kỳ 30 ngày.
- Tổng luồng tiền ra dự kiến được tính bằng cách nhân số dư các hạng mục hoặc
loại tài sản nợ và cam kết ngoại bảng với tỉ lệ rút tiền hoặc giải ngân dự kiến.
- Tổng luồng tiền vào dự kiến được tính bằng cách nhân số dư của các hạng
mục hoặc các loại tiền phải thu theo hợp đồng với tỉ lệ dự kiến theo kịch bản
trong đó tổng luồng tiền ra dự kiến đạt tối đa 75%
Tổng luồng tiền ra thuần = Tổng luồng tiền ra dự kiến- Tổng luồng tiền
vào dự kiến (dưới 75% tổng luồng tiền ra dự kiến)
1.4 Tỉ lệ tài trợ ổn định thuần (NSFR)
1.4.1 Khái niệm
• NSFR =
- Sẽ không được áp dụng trước 1/1/2018.
- Nói ngắn gọn, nó đảm bảo rằng các tài sản có dài hạn sẽ được tài trợ ít nhất là
với một số tài sản nợ ổn định về kỳ hạn hoặc về danh mục rủi ro thanh khoản.
- Khuyến khích các ngân hàng tăng thêm nguồn hỗ trợ dài hạn hơn.
- Xem xét trong thời hạn một năm.
• Vốn tài trợ ổn định – tỉ lệ các loại và giá trị của vốn và tài sản nợ được kỳ
vọng là nguồn tài trợ đáng tin cậy và ổn định trong thời gian 1 năm trong điều
kiện căng thẳng.
14

- 90%: Tiền gửi không kỳ hạn ổn định hoặc tiền gửi có kỳ hạn còn hiệu lực từ 1
năm trở lên (khách hàng bán lẻ và SMEs).
15
- 80%: Tiền gửi không kỳ hạn “kém ổn định hơn” hoặc tiền gửi có kỳ hạn còn
hiệu lực dưới 1 năm (khách hàng bán lẻ và SMEs).
- 50%: Quỹ tài trợ bán buôn không đảm bảo, tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền
gửi có kỳ hạn còn hiệu lực dưới 1 năm không được đảm bảo (doanh nghiệp
phi tài chính, chính phủ, …).
- 0%: Các tài sản nợ khác.
1.4.3 Vốn tài trợ ổn định theo yêu cầu
Các hợp phần của vốn tài trợ ổn định theo yêu cầu (RSF) và các hệ số RSF
tương ứng:
- Tiền mặt và các tài sản có không bị cản trở có kỳ hạn dưới 1 năm: 0%
- Các khoản đến hạn đối với Chính phủ, NHTW có rủi ro theo Basel II: 5%
- Trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu có bảo đảm có xếp hạng AA- hoặc cao
hơn; các khoản đến hạn đối với Chính phủ, NHTW, MDBs có 20% rủi ro theo
chuẩn mực của Basel II: 20%
- Vàng, cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu có đảm bảo (A+ to A-)
có kỳ hạn trên 1 năm; các khoản cho vay đối với doanh nghiệp phi tài chính,
Chính phủ, NHTW, PSEs với kỳ hạn dưới 1 năm: 50%
- Các khoản thế chấp bằng nhà ở: 65%
- Các khỏan cho vay bán lẻ và SME có kỳ hạn dưới 1 năm: 85%
- Tất cả các tài sản có khác: 100%
- Tín dụng hủy ngang có điều kiện và không được hủy ngang, các công cụ thanh
khoản đối với bất kỳ khách hàng nào: 5% của phần hiện chưa giải ngân.
- Tài sản nợ dự phòng khác bao gồm các nghĩa vụ nợ có thể hủy ngang, L/Cs,
các khoản bảo lãnh, các công cụ tài trợ thương mại khác và các nghĩa vụ khác
ngoài hợp đồng: Giám sát quốc gia đối với các hệ số RSF cụ thể dựa trên hoàn
cảnh của quốc gia.
1.4.4 Các công cụ giám sát

THANH KHOẢN THEO CHUẨN MỰC BASEL III TRONG HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG VIỆT NAM
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam
Trong những năm qua, nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói
riêng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thử thách. Đó là do ảnh hưởng tiêu cực
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008; khủng hoảng nợ lan rộng ở
khu vực châu Âu, cùng với những bất ổn của tình hình chính trị ở Ả Rập, thảm họa
ở Nhật và lòng tin của các nhà đầu tư bị tổn thương khi các nền kinh tế mới nổi
tăng trưởng không như mong đợi. Tình hình kinh tế trong nước biến động không
tích cực như: Lạm phát tăng cao, sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bị
đình trệ, thị trường tài chính – tiền tệ bất ổn…
Về phía ngành ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng chính sách tiền tệ
thắt chặt trong năm 2011 và 2012 để ổn định giá trị đồng tiền thông qua điều chỉnh
tỷ lệ lạm phát. Đây là sự đổi mới, hoàn thiện đúng hướng của chính sách tiền tệ ở
Việt Nam, theo hướng chính sách tiền tệ đơn mục tiêu, phù hợp với các chuẩn mực
quốc tế.
Cụ thể, kinh tế thế giới năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài
chính toàn cầu và có những chuyển biến tích cực, song nhìn chung chưa thực sự ổn
định và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Cơ cấu kinh
tế Việt Nam chuyển dịch chậm, hiệu quả đầu tư thấp, nhập siêu có xu hướng tăng,
dự trữ ngoại tệ thấp, lạm phát tăng cao. Một yếu tố không thuận lợi nữa trong năm
2010 là các tổ chức nước ngoài liên tiếp hạ bậc tín nhiệm tín dụng của Việt Nam do
những quan ngại liên quan đến cán cân thanh toán và lạm phát gia tăng.
Năm 2010 cũng là năm các ngân hàng trong hệ thống phải đối diện với nhiều
khó khăn như: sự biến động mạnh của tỷ giá, lãi suất; chịu áp lực đáp ứng yêu cầu
về các tỉ lệ an toàn theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN, 19/2010/TT-NHNN;… Kết
18
quả kinh doanh năm 2010 đã phản ánh mức độ phân hóa trong ngành ngân hàng,
một số ngân hàng vừa và lớn đạt hiệu quả kinh doanh tốt, song các ngân hàng nhỏ
chịu chi phí đầu vào và rủi ro cao, nên kết quả kinh doanh thấp. Tính đến

thông tin chính phủ ngày 17/12 công bố kết quả khảo sát thị trường, trong đó cho
thấy từ năm 2008 đến năm 2012, tỷ lệ đầu tư bất động sản đã giảm từ 80% xuống
còn 10% trong khi cùng thời gian trên, tỷ lệ khách hàng có nhu cầu thực lại tăng
mạnh từ 20% lên 90% thị trường. Tuy nhiên, nền kinh tế cũng đã có những sự tiến
bộ nhất định như xuất siêu, lạm phát giảm, lãi suất giảm. Bước sang năm 2013 với
hy vọng số lượng các doanh nghiệp phá sản sẽ giảm bớt, Việt Nam sẽ đón nhận
được thêm đầu tư nước ngoài và quá trình tái cơ cấu ngân hàng, các doanh nghiệp
Nhà nước sẽ được tiến hành tốt hơn.
Giai đoạn 2013 - 2015 là khoảng thời gian Việt Nam cùng một lúc phải giải
quyết hai yêu cầu vừa cấp bách, vừa cơ bản: Một mặt, tập trung khắc phục những
hệ lụy đang đe dọa nền kinh tế đất nước, từng bước đưa kinh tế trở lại quỹ đạo phát
triển lành mạnh; đồng thời tích cực hoàn tất những nền tảng thiết yếu, bảo đảm đến
năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Hai
yêu cầu này được tiến hành đồng thời, hỗ trợ, tương tác lẫn nhau, có ưu tiên trọng
tâm, trọng điểm theo từng thời gian thích hợp với mục tiêu tiếp tục ổn định, phát
triển nhanh, bền vững nền kinh tế đất nước.
Dự báo kinh tế trong nước và kinh tế thế giới những năm tới sẽ còn tiếp tục
khó khăn; nguy cơ tái lạm phát còn cao, Việt Nam vẫn đặt kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô làm nhiệm vụ hàng đầu.
Ba năm tới, Việt Nam sẽ đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế một cách toàn diện,
cả cơ cấu thành phần, cơ cấu ngành - nội ngành, cơ cấu vùng kinh tế, trong đó
trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư, thị trường tài chính, doanh nghiệp nhà nước, trọng
điểm là đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, tập
đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước.
Đổi mới tư duy chiến lược về đầu tư phát triển; đổi mới phương thức, phương
20
pháp, quy trình đầu tư các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, bảo đảm tính khoa
học, công khai, minh bạch, hiệu quả, khắc phục tình trạng chồng chéo, lãng phí,
thất thoát.
Cơ cấu lại các tổ chức tài chính, ngân hàng, tín dụng theo hướng giảm số

như của cả hệ thống.
Năm 2012, thanh khoản của hệ thống ngân hàng dù đang dần được cải thiện,
nhưng chỉ mang tính tạm thời và chưa thật sự ổn định, bền vững. Thông tin từ
NHNN cho biết: Năm 2011, tỷ lệ sử dụng vốn trong hệ thống ngân hàng lên tới
hơn 100%, dẫn đến thiếu thanh khoản, đến nay tình hình này đã được cải thiện, tỷ
lệ sử dụng vốn dao động từ 93 đến 96%. Tuy nhiên, Thống đốc NHNN Nguyễn
Văn Bình cho biết, trên thế giới, tỷ lệ sử dụng vốn chỉ khoảng 60 đến 70%, còn 30
đến 40% còn lại sẽ dùng để đầu tư vào công cụ có thanh khoản cao, trong khi các
ngân hàng Việt Nam hoàn toàn đầu tư vào tín dụng cho nên tính thanh khoản còn
chưa chắc chắn. Tỷ lệ cho vay trên huy động hơn 90% như vậy là nằm trong
ngưỡng tiềm ẩn mất an toàn thanh khoản. Ngoài ra, một vấn đề cũng được cho là
tiềm ẩn rủi ro thanh khoản của các ngân hàng hiện nay đó là xu hướng gửi tiền của
người dân tập trung vào các kỳ hạn ngắn. Việc nhiều ngân hàng huy động ngắn hạn
cho vay trung, dài hạn vượt quá quy định cũng là nguyên nhân có thể gây rủi ro
thanh khoản. Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân có thể khiến rủi ro thanh
khoản tăng vào dịp cuối năm là vấn đề nợ xấu. Thời gian vừa qua, các doanh
nghiệp khó khăn, nợ xấu đang trở thành vấn đề nghiêm trọng hơn những năm
trước. Nợ xấu tăng nhanh ở một số ngân hàng yếu kém khiến nhu cầu về thanh
khoản của họ tăng theo. Điều này có thể ảnh hưởng tới cả hệ thống nếu NHNN
không có sự kiểm soát chặt chẽ và can thiệp kịp thời.
Mặc dù xét chung, thanh khoản toàn hệ thống đến thời điểm này đã được cải
thiện đáng kể, nhưng nếu tách riêng từng tổ chức tín dụng thì có sự không đồng
đều. Theo đại diện Vụ Chính sách Tiền tệ (NHNN), bên cạnh các ngân hàng dư
thừa thanh khoản, vẫn có một số ngân hàng gặp khó khăn trong từng thời điểm. Do
vậy, các ngân hàng không thể chủ quan câu chuyện thanh khoản cuối năm. Việc
22
chủ động "phòng thủ" trong thời điểm này rất cần thiết, nhất là khi nhu cầu về vốn
của doanh nghiệp, người dân tăng lên. Các ngân hàng tiếp tục phải đẩy mạnh huy
động vốn để chủ động giảm rủi ro cơ cấu nguồn vốn cũng như bù đắp nguồn vốn bị
"ngâm" do nợ xấu tăng cao. Và mới đây nhất, NHNN đã ban hành Chỉ thị số

III của các nước trên thế giới
Hiệp định Basel III được 27 nước (không bao gồm Việt Nam) ký kết năm
2010, các nước G20 đã nhất trí bắt đầu áp dụng từ ngày ngày 1/1/2013 và triển
khai đầy đủ vào năm 2019. Đến lúc này, thời gian đã thực hiện các quy định theo
chuẩn Basel 3 chưa dài nên không thể có một cái nhìn tổng quát về tình hình mà
các nước đã áp dụng, tuy nhiên dựa vào những gì mà các nước áp dụng và những
định hướng triển khai trong tương lai thì chúng ta sẽ đánh giá được tình hình áp
dụng các quy định về bảo đảm an toàn thanh khoản theo chuẩn mực Basel 3 trong
hoạt động ngân hàng của các nước trên thế giới.
Một số nước như Nhật, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan… đang tiếp cận
một cách tích cực chuẩn Basel III. Họ đáp ứng được đa số tiêu chí về vốn và thanh
khoản. Trong khi đó, Việt Nam và một số nước khác như Lào, Campuchia… vẫn ở
vị trí khởi đầu.
Còn tại Trung Quốc, việc thực hiện Basel 3 đã giúp nền kinh tế nước này
lành mạnh hơn, giảm thiểu tình trạng bong bóng bất động sản, rủi ro tín dụng; các
ngân hàng bị quản lý chặt nhưng sẽ được hưởng lợi về lâu dài khi sử dụng vốn hiệu
quả, quản lý thanh khoản tốt hơn trong tương lai.
Về quá trình xử lý nợ xấu của Nhật Bản, nước này đã mất tới 15 năm, từ năm
1990 đến năm 2005 để có thể xử lý nợ xấu bởi ngay từ đầu đã chưa lường hết được
sự nguy hại của vấn đề này. Sau đó, Nhật Bản đã phải sử dụng tổng hợp các giải
pháp giám sát an toàn vĩ mô; kiểm tra toàn diện hệ thống tài chính, gồm cả khu vực
ngân hàng ngầm; xác định kích thước của lỗ hổng hệ thống; tập trung giám sát đối
với mô hình kinh doanh của ngân hàng; có chế tài xử lý đặc biệt đối với các tổ
chức tài chính dễ gây tổn hại
24
Tại Thái Lan, sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 – 1998, nó đã cải cách
mạnh khu vực tài chính và hiện đang triển khai tích cực Basel 3 theo hướng đó.
2.4 Khả năng áp dụng các quy định bảo đảm thanh khoản theo chuẩn mực Basel III
trong hoạt động ngân hàng Việt Nam
Hiệp ước Basel lần thứ 3 được Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thông qua

mà nói, có những tiêu chí của Basel III mà ngân hàng Việt Nam chưa thể đáp ứng.
Trên thực tế, so với một số nước ở khu vực Đông Á đã tiếp cận Basel 3 rất
tích cực, thì ở Việt Nam, với Basel 1 cũng có những tiêu chí chưa được đáp ứng
đầy đủ. Với hoàn cảnh hiện tại, Việt Nam cần có cách thức tiếp cận riêng với các
chuẩn mực quốc tế: ví dụ như tiêu chí nào có thể đáp ứng được những tiêu chuẩn
của Basel 2 và Basel 3 thì cần thực hiện ngay, chứ không phải thực hiện một cách
đầy đủ, tuần tự từ Basel 1 rồi mới sang Basel 2 và 3.
Khó khăn đối với ngành ngân hàng và nền kinh tế vốn đã tích tụ từ lâu nên để
giải quyết thì cần phải thời gian. Trước hết, Việt Nam cận nhận dạng được rủi ro,
thứ hai là cần phải bổ sung hoàn thiện quy chế để ngăn rủi ro tương tự… Khắc
phục hậu quả là một quá trình cần thời gian, cần nghiên cứu kỹ, nguồn lực và giải
pháp hữu hiệu. Quan trọng hơn, nó phải phù hợp với Việt Nam chứ không thể áp
dụng cứng nhắc kinh nghiệm của các các nước.
Để đạt được Basel III đòi hỏi phải đặt ra nhiều cơ chế mới như đầu tư về công
nghệ, cơ sở hạ tầng có chất lượng, cơ sở dữ liệu thực sự phát triển trước khi bắt đầu
suy nghĩ về mô hình tiên tiến để tối ưu hoá vốn của ngân hàng. Việt Nam dự định
thực thi Basel III vào năm 2015 là hơi gấp, nếu căn cứ vào kinh nghiệm của các
nước khác trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Basel III là giải pháp tối ưu, nhưng
nếu hệ thống ngân hàng Việt Nam không có yếu tố căn bản về cơ sở hạ tầng thì
không thể tiếp cận.
Trong những năm gần đây, thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng
(TCTD) được cải thiện, số dư tiền gửi của TCTD tại NHNN luôn cao hơn so với
yêu cầu dự trữ bắt buộc, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn bằng VND giảm xuống mức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status