GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

ĐỀ TÀI TÁI CẤU TRÚC
Đề tài 7: GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD: THS. Nguyễn Thị Hai Hằng
Lớp : K09404A
Nhóm 24
1.Võ Thị Hồng Dân – K094040526
2.Nguyễn Thị Mỹ Duyên – K094040530
3.Vũ Thị Thu Trang – K094040620
MỤC LỤC
PHẦN 1: LÝ LUẬN KHÁI QUÁT VỀ VIỆC TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG
1
1.1 Định nghĩa, lý do và mục tiêu của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

1
1.1.1 Định nghĩa về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

1
1.1.2 Lý do của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng1
1.1.3Mục tiêu của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

1
1.2 Nội dung và các yếu tố cần thiết để thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng


7
2.3 Lộ trình tiến hành

8
2.4 Tiến độ và tình hình thực hiện đến thời điểm hiện tại

9
2.4.1 Định hình rõ 3 nhóm NH và giải quyết tốt những vấn đề thanh khoản của những
NH yếu kém
9
2.4.2 Tái cấu trúc lại các NH thuộc nhóm 3: Theo lộ trình sẽ thực hiện đến hết năm
2013
10
PHẦN 3: GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
HIỆN NAY
11
3.1 Một số giải pháp

11
3.1.1 Tập trung giải quyết vấn đề nợ xấu

11
3.1.2 Phân nhóm ngân hàng

12
3.1.3 Ổn định và hỗ trợ thanh khoản

13
3.1.3.1 Kiểm soát đặc biệt



27
3.2.2 Việc sáp nhập, hợp nhất các NH với nhau liệu có hiệu quả?

27
3.2.3 Tái cấu trúc nền kinh tế - Tái cấu trúc hệ thống NH phải đi đôi với việc tái cơ
cấu hệ thống doanh nghiệp và đầu tư công
28
3.2.4 Xử lý nợ xấu bất động sản

29
3.2.5 Giải pháp phá sản?

30
PHẦN 4: NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ TRONG QUÁ
TRÌNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THÔNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
31
4.1 Kết quả đạt được

31
4.2 Những hạn chế, tồn tại

34
4.3 Triển vọng thúc đẩy tái cấu trúc hệ thống ngân hàng năm 2013

37
KẾT LUẬN
40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
41

Trang 2
thống NH trong nước, và có các NH có quy mô vừa và nhỏ hoạt động trong những phân
khúc thị trường khác nhau.
1.2. Nội dung và các yếu tố cần thiết để thực hiện tái cấu trúc hệ thống NH
1.2.1 Nội dung tái cấu trúc hệ thống NH
Nội dung chính của tái cấu trúc NH bao gồm 3 vấn đề lớn:
- Giải quyết các vấn đề về thanh khoản NH.
- Tái cấu trúc về vốn tự có.
- Xử lý nợ xấu và tái cấu trúc về quản trị NH.
1.2.2 Các yếu tố cần thiết để thực hiện tái cấu trúc hệ thống NH
- Môi trường pháp lý: đầu tiên phải rà soát lại các văn bản pháp lý liên quan đến
hoạt động NH. Cần xây dựng các tiêu chí về một NH hoạt động hiệu quả và phát triển
bền vững hướng tới thông lệ tốt nhất.
- Phân loại và chọn lọc NH: Theo các tiêu chí nêu trên, cần phải tiến hành rà soát
tất cả các NH để phân loại theo 2 nhóm:
+ Nhóm Ngân hàng thương mại (NHTM) năng lực tài chính hạn chế, luôn thiếu
thanh khoản: Nhóm NH này phải thu hẹp phạm vi kinh doanh, bán các tài sản không
phải hoạt động chính, thậm chí phải sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc bị loại bỏ nếu thu
hẹp phạm vi kinh doanh vẫn không hoạt động hiệu quả.
+ Nhóm NHTM không bị xếp vào nhóm yếu kém về năng lực tài chính và thanh
khoản: nhóm này vẫn phải tái cấu trúc theo tiêu chí pháp lý đưa ra, tái cấu trúc quản trị
nội bộ, quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế một cách minh bạch nhất.
- Thực hiện tái cấu trúc sở hữu vốn, công nghệ, nguồn nhân lực của
từng NH.
Trên đây là những bước tái cấu trúc NH, tuy nhiên để các bước trên thực hiện hiệu
quả thì sự giám sát cũng phải hiệu quả và chặt chẽ. Bên cạnh đó, cơ chế hợp nhất, sáp
nhập, mua lại NH cũng phải được xây dựng và hoàn thiện.
Trang 3
PHẦN 2: VẤN ĐỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM

 Tình trạng nợ xấu cao
Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành NH đến tháng 12 năm 2011 là 3,39%, tương
đương 85.300 tỷ đồng. Nếu so tỷ lệ nợ xấu công bố trên với thông lệ quốc tế, thì nợ được
coi là vẫn an toàn khi nằm trong ngưỡng không quá 5%, Tuy nhiên, theo chuẩn quốc tế,
hãng xếp hạng độc lập Fitch Rating đã đánh giá tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam lên tới 13%.
Nếu xét ở nhóm nợ có khả năng mất vốn và NH phải trích lập dự phòng rủi ro 100% thì
8 NH (VietinBank, Vietcombank, ACB, Sacombank, Eximbank, SHB, Habubank,
Navibank) có tỉ lệ nợ có khả năng mất vốn đến 8.293 tỉ đồng (Theo báo Thông tin
thương mại - Bộ Công thương, số ra ngày 26/12/2011).
.
Biều đồ2.1. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng 2008 – 2012
(Nguồn: tapchicongsan.org.vn)
Tỷ lệ nợ xấu tăng dần qua các năm, đặt biệt tăng nhanh trong 6 tháng đầu năm 2012,
cụ thể toàn hệ thống Ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu khoảng 4,5% vượt qua ngưỡng an toàn
quy định của NNNH là 3%
 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu giảm
Mặc dù nhiều NH của Việt Nam đã đạt mức tỷ lệ đảm bảo vốn tự có tối thiểu
(Capital Adequacy Ratio “CAR”) trên 8% nhưng trên bình diện chung, tỷ lệ CAR này có
phần đươc tính theo những tiêu chí riêng của từng Ngân hàng, tạo nên sự khác nhau giữa
các NH. Quan trọng hơn, tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếu như hạch toán đúng dự
Trang 5
phòng cho các khoản nợ xấu (NPL). Lý do là chất lượng tài sản suy giảm làm cho chi
phí dự phòng gia tăng, làm ăn mòn lợi nhuận lũy kế và từ đó giảm vốn tự có.
 Tình hình cơ cấu tài sản “Có” của các tổ chức tín dụng thiếu bền vững
Hoạt động tín dụng vẫn là lĩnh vực mang lại doanh thu chủ yếu cho NH, doanh thu
từ các hoạt động dịch vụ khác chiếm tỷ trọng thấp. Tài sản tín dụng chiếm tỷ trọng tới
56,1%; đầu tư trên thị trường liên NH chiếm 18,6%; đầu tư vào tín phiếu và các chứng
khoán của Chính phủ chỉ 5,2% và chủ yếu tập trung tại các NHTM nhà nước và một số ít
NHTM cổ phần lớn;Ngoài ra, năm 2010 và năm 2011 vừa qua cũng có sự chuyển dịch
lớn từ khoản mục cho vay sang hình thức đầu tư chứng khoán và tài sản có khác bởi các

Đối với công cụ lãi suất, NHNN đã nhiều lần điều chỉnh các loại lãi suất chủ chốt.
Theo đó, lãi suất tái cấp vốn đã được điều chỉnh lên 15%, và lãi suất tái chiết khấu hiện ở
mức 13%. Để các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc trần lãi suất huy động vốn 14%
theo Thông tư 02/2011/TT-NHNN ngày 03/03/2011, NHNN đã ban hành Chỉ thị
02/2011/CT-NHNN ngày 7/9/2011, với nội dung sẽ xử lý nghiêm các tổ chức tín dụng
không thực hiện đúng trần lãi suất huy động vốn.
NHNN tiếp tục ban hành Thông tư 30/2011/TT-NHNN (28/09/2011) quy định trần
lãi suất 6% đối với tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kỳ hạn dưới 1 tháng. Mục đích khi
ban hành Thông tư này nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản cho các Tổ chức tín dụng
(TCTD) khi các TCTD cạnh tranh huy động vốn kỳ hạn ngắn.
Ngoài ra, gần đây (11/11/2011), NHNN đã ban hành Thông tư 35/TT-NHNN quy
định việc công bố và cung cấp Thông tin của NHNN. Theo đó, nhiều Thông tin quan
trọng về hoạt động NH sẽ được NHNN chính thức công bố, trong đó có 5/12 chỉ số cốt
lõi của IMF bao gồm: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, dư nợ của
từng lĩnh vực trong tổng dư nợ, chỉ số ROA (lợi nhuận trên tài sản) và ROE (lợi nhuận
trên vốn đầu tư) của hệ thống NH Việt Nam.
Đặc biệt từ 1-1-2011, Luật NHNN (sửa đổi) có hiệu lực đã trao cho NHNN thẩm
quyền, tính tự chủ phù hợp với các qui định chung của một NHTW. Đối với các NHTM,
Luật các TCTD sửa đổi đã tiếp cận với các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, tăng cường
tính an toàn trong hoạt động của các TCTD nói chung và các NHTM nói riêng.
2.2 Thực tiễn phương thức tái cấu trúc hệ thống NHTM tại VN
Từ thực tế đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhanh chóng cơ cấu lại sự hoạt động của hệ
thống NHTM Việt Nam nhằm lành mạnh hóa hoạt động kinh doanh, tránh nguy cơ
khủng hoảng tài chính quốc gia. Trong tháng 11 và tháng 12 năm 2011, NHNN đã xây
Trang 7
dựng và trình thủ tướng Chính phủ, báo cáo Bộ Chính trị Đề án tổng thể tái cấu trúc hệ
thống NH giai đoạn 2011 – 2015 với quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp và
lộ trình cụ thể như sau:
2.2.1 Về quan điểm
Thực hiện Cương lĩnh Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng lần

- Nhóm thứ nhất, gồm các NH có tình hình tài chính lành mạnh, có năng lực, có
quy mô đủ lớn để tiếp tục phát triển thành những NH làm trụ cột trong hệ thống NHTM
trong thời gian tới cũng như vươn lên đủ sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Nhóm
NH này dự kiến sau 5 năm từ nay đến năm 2015 Việt Nam có khoảng 15 tổ chức tín
dụng như vậy. 15 tổ chức tín dụng này sẽ phải chiếm tới khoảng 80% thị phần hoạt động
của hệ thống NH. Trong 15 tổ chức tín dụng đó chúng ta cố gắng đạt được từ 1-2 tổ chức
có tầm cỡ của khu vực và quốc tế.
- Nhóm thứ hai, là nhóm các NH có tình hình tài chính lành mạnh nhưng có quy
mô còn nhỏ, không có nhu cầu hoặc không có điều kiện để phát triển quy mô cao hơn
nữa. Đối với các NH loại này, NHNN sẽ có những quy định để đảm bảo quy mô hoạt
động trong tầm kiểm soát phù hợp với năng lực của tổ chức tín dụng và cũng có những
quy định để đảm bảo sự phân khúc của thị trường cho các tổ chức tín dụng này có thể
phát huy được nhưng trên nền tảng hoạt động an toàn và hiệu quả.
- Nhóm thứ ba, là nhóm NH đang có tình hình tài chính khó khăn cần phải được
tái cấu trúc lại. Đối với nhóm các tổ chức tín dụng này, NHNN sẽ thông qua các biện
pháp như thay đổi lại cổ đông, nâng cao năng lực của cổ đông hoặc cho các tổ chức tín
dụng trong nước khác tham gia cổ đông, mua lại hoặc sáp nhập vào các tổ chức tín dụng
khác. Theo phương châm không để tổ chức tín dụng nào đổ vỡ, đảm bảo tối đa quyền lợi
của người gửi tiền và khách hàng của NH.
 Từ quý II/2012 đến hết năm 2013, sẽ hoàn thành việc tái cấu trúc lại các NH
thuộc nhóm III.
 Từ năm 2013 đến năm 2015 tập trung vào việc nâng cao các hiệu quả an toàn,
việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế và củng cố xây dựng. Đến năm 2015, hệ thống NH
Việt Nam sẽ tiếp tục được tái cấu trúc và khi đó số lượng các NH có khả năng tham gia
cạnh tranh trong khu vực có thể nâng lên đến 4 NH.
Trang 9
2.4 Tiến độ và tình hình thực hiện đến thời điểm hiện tại
2.4.1 Định hình rõ 3 nhóm NH và giải quyết tốt những vấn đề thanh khoản
của những NH yếu kém: Theo Lộ trình đến quý I/2012 sẽ hoàn thành.
 Về việc giải quyết các vấn đề thanh khoản của các NH yếu kém

- Trong tháng 12/2011, đã có ba NH đầu tiên tự nguyện hợp nhất đó là NH cổ phần
Đệ Nhất (Ficombank), NH TMCP Sài Gòn (SCB) và NH TMCP Việt Nam Tín Nghĩa:
 Trước khi hợp nhất, 3 NH này đã có những thiếu hụt thanh khoản tạm thời do cho
vay chủ yếu là trung và dài hạn, trong khi nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn.
NHNN và một số NH khác đã hỗ trợ vốn nên tạm thời qua giai đoạn khó khăn. NHNN
đã chỉ định NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tham gia hỗ trợ toàn diện 3 NH
này ngay từ đầu trong quá trình hợp nhất và góp phần nâng cao khả năng tài chính, quản
trị kinh doanh sau hợp nhất.
 Sau hợp nhất, để đảm bảo yêu cầu thanh khoản, NH SCB "mới" có thể đề nghị
NHNN và BIDV cho vay khoản vay đặc biệt theo quy định của pháp luật. Về hoạt động,
sau khi hợp nhất, theo đề án, NH mới sẽ áp dụng hệ thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm
toán nội bộ của SCB cho SCB “mới”; hợp nhất hệ thống thông tin quản lý và hệ thống
truyền dữ liệu SmartBank tiến tới sang hệ thống Corebanking T24 hoặc Flexcube tùy
tình hình thực tế. Ngay sau thời điểm việc hợp nhất có hiệu lực, toàn bộ các lao động có
ký hợp đồng lao động với ba NH trước đó sẽ trở thành lao động của SCB “mới”.
- Thực tế hoạt động NH khá phức tạp, có nhiều quyền lợi đan xen trong nội bộ,
chưa kể cách điều hành, văn hóa của mỗi NH khác nhau. Do vậy, để việc hợp nhất thành
công đòi hỏi phải có lộ trình, thời gian thực hiện để tạo tiếng nói chung.
Trang 11
PHẦN 3: GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
HIỆN NAY
3.1 Một số giải pháp
Đã hơn một năm trôi qua kể từ thời điểm Việt Nam quyết tâm tái cơ cấu mạnh mẽ
hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, quá trình này mới chỉ đạt được một số thành công nhất
định… Căn cứ vào đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-
2015, ban hành cùng Quyết định 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 1/3/2012.
Và qua việc đánh giá tình hình hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay, bài viết của
nhóm em nêu ra một số giải pháp trọng tâm để tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng Việt Nam đạt hiệu quả.
3.1.1 Tập trung giải quyết vấn đề nợ xấu

Nợ xấu tại thời điểm 30/6 và 1/1/2012. Vietcombank, Vietinbank là "quán quân"
nợ xấu trong số các ngân hàng niêm yết, chiếm 70% nợ xấu trong khối ngân hàng niêm
yết
Không thể phủ nhận vai trò của Công ty mua bán nợ (DATC) thuộc Bộ Tài chính,
nhưng một số ý kiến chuyên gia cũng khẳng định, thực tế DATC trong 10 năm qua chỉ
giải quyết được 5.000 tỷ đồng nợ xấu, một con số rất nhỏ. Trong khi đó, việc xử lý nợ
xấu hiện nay cần nhanh, mạnh, dứt khoát để ngân hàng có thể mở lại tín dụng.
Theo Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng (thuộc NHNN), để đảm bảo xử lý
nhanh nợ xấu, khơi thông vốn cho nền kinh tế cần thành lập công ty quản lý tài sản thuộc
Trang 13
NHNN (VAMC) để hỗ trợ quá trình xử lý nợ xấu. VAMC là một doanh nghiệp đặc biệt
do Thủ tướng Chính phủ thành lập, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi,
không vì mục tiêu lợi nhuận và chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp của NHNN. VAMC
thực hiện mua, tiếp nhận các khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm bằng tài sản, chủ yếu là
bất động sản. TCTD bán nợ được thanh toán bằng trái phiếu VAMC hoặc bằng công cụ
nợ đặc biệt tuỳ theo phương thức mua bán nợ được thoả thuận giữa VAMC và TCTD
bán nợ. VAMC chủ yếu thanh toán các khoản nợ mua từ các TCTD bằng trái phiếu và
công cụ nợ do VAMC phát hành, do đó lượng tiền thực đầu tư cho VAMC không lớn.
Hiện nay, Chính phủ vẫn chưa thông qua quyết định thành lập VAMC, Theo Bộ
trưởng, Chính phủ băn khoăn công ty này được thành lập thì nợ xấu của doanh nghiệp
liệu có được giải quyết không, bởi đề án mới chủ yếu dừng ở việc xử lý nợ xấu các ngân
hàng. Tuy nhiên, người phát ngôn của Chính phủ cho biết không phải khi VAMC ra đời
thì nợ xấu mới được xử lý, mà hiện tại đã và đang xử lý các khoản nợ này.
3.1.2 Phân nhóm NH
Trong thời gian tới, NHNN phải nhanh chóng hoàn thiện về hệ thống xếp hạng phân
nhóm NH (nhóm I, II, III theo như lộ trình đã định ra) để đưa vào áp dụng thực tế. Điều
này thực sự rất quan trọng bởi đây cũng chính là cơ sở nhằm đánh giá và nhận diện NH
nào đang gặp phải vấn đề để nhanh chóng có những biện pháp cụ thể đối với từng NH và
từng nhóm NH, tránh trường hợp có NH quá yếu kém nhưng vẫn để tồn tại dẫn đến hàng

soát các hoạt động của NH, kiểm soát các nguồn giải ngân mới để hạn chế tổn thất và nợ
xấu phát sinh thêm, kiểm soát các khoản chi (chi trả lãi, cổ tức, lương thưởng…) để ưu
tiên trả nợ cho khách hàng, hạn chế việc tẩu tán tài sản của các cá nhân trục lợi, hạn chế
mở chi nhánh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực trong một thời gian.
3.1.3.2 Hỗ trợ thanh khoản thông qua hệ thống NHTM nhà nước và các NH
cổ phần lớn trong thị trường
Để tránh “hiện tượng domino” trong thị trường tài chính, NHNN có thể thực hiện hỗ
trợ thanh khoản cho các NH yếu thông qua hệ thống NHTM quốc doanh và NHTM cổ
phần lớn.
Việc hỗ trợ thanh khoản không chỉ thông qua hệ thống NH quốc doanh mà còn có
thể nhờ vào khối NHTM cổ phần lớn ngoài quốc doanh (ACB, Sacombank,
Eximbank…). Không chỉ tiết giảm chi phí, việc huy động khối tư nhân tham gia quá trình
Trang 15
tái cơ cấu còn giúp giảm rủi ro. Việc một NHTM cổ phần quốc doanh đứng ra hỗ trợ
thanh khoản cho quá nhiều NH yếu là không nên, có thể kéo theo rủi ro cho cả hệ thống
và không giải quyết được tận gốc vấn đề. NHNN cũng phải xem xét đưa ra các chính
sách ưu đãi đối với các NH TMCP ngoài quốc doanh này để khuyến khích họ tự nguyện
hỗ trợ cho các NH yếu.
3.1.4 Thúc đẩy hoạt động M&A, nâng cao khả năng tự chủ tài chính của ngân
hàng
Đây là lối thoát cho ngân hàng yếu kém. Giai đoạn 2010-2012, tuy hoạt động mua
bán sáp nhập ngân hàng ở Việt Nam không có sự gia tăng đáng kể về mặt lượng, nhưng
đã tiến một bước dài với giá trị mỗi thương vụ. Thương vụ Mizuho mua 15% cổ phần
VietcomBank trị giá 567,3 triệu USD là thương vụ có giá trị lớn nhất năm 2011. Năm
2012 khép lại với thương vụ đạt giá trị kỷ lục 743 triệu USD cho 20% cổ phần
VietinBank do Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ mua lại. Năm 2012 cũng chứng kiến vụ
sáp nhập giữa ngân hàng SHB (NHTM cổ phần Sài Gòn - Hà Nội) và Habubank
(NHTM cổ phần Nhà Hà Nội), bên cạnh việc TienPhongBank bán cổ phần cho Tập
đoàn DOJI. Trước đó, năm 2011, ba ngân hàng: Ficombank, TinNghiaBank, SCB đã
hợp nhất thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB).

điểm kinh doanh của mỗi ngân hàng. Trường hợp cần thiết có thể hạn chế NHTM cổ
phần chia cổ tức, lợi nhuận; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển nhượng cổ phần, vốn góp và
tài sản của NHTM cổ phần; giảm dư nợ tín dụng và hạn chế mở rộng quy mô hoạt động.
Để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, thì M&A là một trong những giải pháp đạt hiệu
quả cao nếu biết sử dụng đúng cách. Trên cơ sở nhìn nhận hiệu quả trong quá trình
M&A, đưa ra các giải pháp cụ thế như:
Thứ nhất, về phía Chính phủ: Có thể nói, tại thời điểm hiện nay, NHNN và cả các
ngân hàng đang rất lúng túng trong việc thực hiện giải pháp này do chưa có một hành
lang pháp lý rõ ràng. Chính vì thế, Chính phủ và các cơ quan có liên quan cần sớm ban
hành những văn bản luật phù hợp, không chồng chéo để đảm bảo an toàn cho các ngân
hàng khi tham gia hoạt động mua bán và sáp nhập.
Thứ hai, về phía các NHTM cổ phần: Lãnh đạo ngân hàng cần phải chủ động trong
việc sáp nhập. Đầu tiên, họ cần xác định rõ hướng đi của ngân hàng mình có nên tham
gia hoạt động M&A hay không? Sau đó, nếu đã xác định rõ, ngân hàng cần chủ động
đưa thông tin chính xác, tìm kiếm đối tác có cùng định hướng giống ngân hàng mình.
Trang 17
Thứ ba, về phía NHNN: Phải có bộ số liệu chính xác về các ngân hàng trong hệ
thống. Đặc biệt, với chức năng quản lý, NHNN cần cập nhập liên tục các thông số tài
chính của các ngân hàng, đồng thời cố gắng xây dựng mô hình định giá thương hiệu
ngân hàng. Nếu có thể, NHNN có thể tư vấn, “se duyên” các NHTM cổ phần có định
hướng sáp nhập có thể nhanh chóng tiếp cận với nhau.
3.1.5. Cân đối nguồn vốn huy động của NH
Hiện nay NHNN có áp dụng các quy định tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn
tối đa không vượt quá 30%, tỷ lệ cho vay trên huy động không vượt quá 80% (thông tư
33/2011-TT/NHNN đã bỏ khoản mục này tuy nhiên dự thảo thông tư mới có đưa vào tỷ
lệ này), tuy nhiên, các quy định này chỉ thực sự phát huy tính hiệu quả khi bản thân NH
biết cơ cấu và ổn định nguồn vốn của mình như:
- Cân đối các tỷ trọng và kỳ hạn nguồn vốn trong tổng nguồn vốn sao cho chù hợp,
hạn chế tình trạng dựa dẫm quá nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn và vốn huy động trên thị
trường II.

ngân hàng đạt tiêu chuẩn khu vực.
Về sử dụng vốn, không nên đặt mục tiêu tín dụng là hoạt động chủ yếu trong sử dụng
vốn của ngân hàng vì có nguy cơ rủi ro, làm cho thu nhập của ngân hàng giảm sút do bị
thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay vì canh tranh gay gắt. Do
vậy, nên mở rộng hình thức sử dụng vốn khác như thuê mua tài chính, liên doanh liên
kết, bao thanh toán, tài trợ xuất khẩu, bảo lãnh cho các công ty phát hành trái phiếu dài
hạn…
3.1.6. Nâng cao khả năng quản trị điều hành của NH và các yếu tố nội tại khác
Bên cạnh việc cơ cấu vốn, tài sản thì một vấn đề hết sức quan trọng và là nền tảng
định hướng NH hoạt động và phát triển đó là “Quản trị điều hành”. Theo như các đánh
giá của Fitch và Moody’s dành cho hệ thống NHTM VN, trong đó có sự yếu kém khá
lớn về mặt quản trị điều hành. Các yếu tố này chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu chấm
điểm và hầu hết là vấn đề tồn tại được nhấn mạnh ở các thị trường mới nổi trên thế giới,
trong đó có Việt Nam. Việc nâng cao khả năng quản trị điều hành trong NHTM hết sức
quan trọng bởi đó là đầu tàu định hướng và dẫn đường cho NH ngày càng phát triển và
hoạt động bền vững. Bên cạnh đó còn có những yếu tố khác cần phải được NHTM chú
trọng xây dựng và phát triển để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của chính NH.
Các nội dung cần được phải xem xét trong nhóm giải pháp này, đó là :
- Cơ cấu tổ chức từ cơ quan cao nhất đến thấp nhất rõ ràng minh bạch. Ủy quyền
phân cấp rõ ràng và đảm bảo khả năng kiếm soát chéo.
Trang 19
- Lựa chọn các thành viên có đủ khả năng và trình độ chuyên môn vào vị trí thuộc
HĐQT, BĐH, BKS.
- Đảm bảo đủ số lượng và chất lượng hoạt động của các thành viên độc lập thuộc HĐQT.
- Chú trọng đầu tư phát triển hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro.
- Đầu tư hoàn thiện hệ thống Kiểm soát nội bộ.
- Đầu tư nâng cao chuyên môn cho nhân viên.
- Đầu tư phát triển hệ thống CNTT
- Đầu tư phát triển sản phẩm dịch vụ, mạng lưới…
- Tận dụng ưu thế về nhân sự, kỹ thuật, quản lý rủi ro từ phía các cổ đông chiến

Do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng chịu tác động bởi nhiều nhân tố trong nước và quốc
tế và sẽ có tác động tới nhiều chủ thể khác nhau, nên vấn đề này cần phải hết sức thận
trọng và có một lộ trình thật phù hợp. Về mặt nguyên lý thì vấn đề tái cấu trúc sẽ diễn ra
trong toàn hệ thống, nhưng mục tiêu vẫn là hướng vào các NHTM nhỏ, hoạt động yếu
kém. Như chúng tôi đã đề cập ở trên, mặc dù là những NHTM nhỏ, nhưng do có mối
quan hệ khách hàng là khá lớn, chủ yếu là các khách hàng cá nhân nhỏ lẻ, nên những bất
cập sẽ bị khuếch đại rất nhanh và mạnh. Chính vì thế, một sự thận trọng là cần thiết.
Trước hết, cần phải làm trong sạch bảng cân đối kế toán của các NHTM cần cơ cấu lại,
bảo đảm rằng các khoản tín dụng có vấn đề nằm trong tầm kiểm soát được. Cũng cần
xem xét đến tầm ảnh hưởng của ngân hàng đến khu vực địa bàn hoạt động để đưa ra giải
pháp hợp lý (nếu cần thiết thì Nhà nước vẫn có thể mua cổ phần để nắm quyền kiểm
soát, tuyệt đối không để diễn ra tình trạng “sở hữu chéo”, nhất là tình trạng các NHTM
Nhà nước tiếp tục nắm cổ phần tại các ngân hàng đang cần cơ cấu, vì nó dễ bị che khuất
bản chất bên trong của các bất cập).
Hơn nữa, một lộ trình cơ cấu lại hợp lý là rất cần thiết bởi vì vấn đề cơ cấu lại các
NHTM nhỏ thực chất là chúng ta muốn cho các ngân hàng này có tình hình tài chính và
kinh doanh lành mạnh hơn, chủ yếu thông qua M&A. Nhưng quá trình này không thể
diễn ra một cách cơ học, mà cần có sự tự nguyện của các bên đối tác. Ðây là khó khăn
rất lớn, do văn hóa kinh doanh của mỗi ngân hàng là khác biệt nhau và nó còn đụng
chạm tới quyền và lợi ích cá nhân… (đây cũng chính là lý do khiến quá trình cơ cấu lại
trước đây không thành công).

Trích đoạn Những hạn chế, tồn tạ Triển vọng thúc đẩy tái cấu trúc hệ thống ngân hàng năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status