DẤU ẤN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI TRONG TRIẾT HỌC ARISTOTE - Pdf 26

CHƯƠNG I
DẤU ẤN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
TRONG TRIẾT HỌC ARISTOTE
1.1. Những vấn đề cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại
1.1.1. Vài nét về Triết học Hy Lạp cổ đại
Hy Lạp cổ đại là một lãnh thổ rộng lớn bao gồm khu vực miền Nam bán đảo
Ban-căng (thuộc Châu Âu), nhiều hòn đảo nằm trên biển Êgiê và cả một vùng
rộng lớn ở ven biển bán đảo Tiểu á. Yếu tố địa lý tự nhiên này đã tạo điều kiện cơ
bản để nền nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Hy Lạp cổ đại phát triển
từ rất sớm. Quá trình lịch sử lâu dài với không ít những thăng trầm của vùng đất
Hy Lạp cổ đại gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội và tư tưởng triết học của
nó trong đó sự phân chia xã hội thành giai cấp, sự phân công lao động xã hội
thành lao động trí óc và lao động chân tay đã dẫn tới sự hình thành một đội ngũ
các nhà trí thức chuyên nghiệp chuyên nghiên cứu về khoa học, triết học. Sự xuất
hiện của những trí thức khoa học và triết học trong thời kỳ này đã tạo nên một
bước ngoặt lớn về nhận thức của con người, phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn
giáo nguyên thuỷ. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất, những tri thức
về khoa học tự nhiên phát triển mạnh, được trình bày trong hệ thống triết học - tự
nhiên của các nhà triết học cổ đại, bên cạnh đó, khoa học thời bấy giờ chưa phân
ngành nên các nhà triết học đồng thời cũng là các nhà Toán học, nhà Vật lý học
Từ các yếu tố đó có thể khẳng định rằng, triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra
đời đã có sự gắn bó với nhu cầu thực tiễn và gắn với khoa học.
Triết học Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào lúc xã hội này đã phát triển lên chế độ
chiếm hữu nô lệ với hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ nên nó là hệ tư tưởng,
là thế giới quan của giai cấp chủ nô thống trị, đồng thời nó còn là công cụ bảo vệ,
duy trì địa vị, quyền lợi của giai cấp chủ nô, là công cụ nô dịch, đàn áp các giai
cấp khác về mặt tư tưởng. Bên cạnh tính giai cấp rõ rệt đó, triết học Hy Lạp cổ đại
coi trọng, đề cao vai trò của con người, coi con người là tinh hoa của tạo hoá. Do
là một trong những nền triết học mở đường trong lịch sử triết học nhân loại hơn
nữa các quan niệm triết học được rút ra trên cơ sở suy luận, suy đoán từ sự quan
sát trực tiếp các sự kiện xảy ra trong tự nhiên, trong xã hội nên triết học Hy Lạp cổ

trụ là từ một dạng vật chất đơn nhất, vô định hình, vô hạn và tồn tại vĩnh viễn mà
người ta không thể trực quan thấy được. Nếu so với Thales thì Anaximăngđrơ có
bước tiến xa hơn trong sự khái quát trừu tượng về phạm trù vặt chất.
Còn theo Anaximen, do có năng lực tụ và tán mà không khí có thể biến thành
nước, đất, đá,…hay lửa. Lửa do nhẹ mà bay lên tạo thành bầu trời. Đất đá do nặng
mà rơi xuống tạo thành tâm vũ trụ. Và từ chúng vạn vật ra đời, tồn tại.
Tư tưởng Hêraclít về thế giới thì được thể hiện trong các quan điểm: Thứ nhất,
không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt đối mà trái lại tất cả
đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và ngược lại.
Thứ hai, quan niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật,
hiện tượng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò của
những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về sự trao đổi của
những mặt đối lập, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập.
Thứ ba, theo Hêraclít, sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới do quy
luật khách quan (logos) quy định. Logos khách quan là trật tự khách quan của mọi
cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy
nghĩ của con người. Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan.
Đêmôcrít là một trong những người đã phát triển thuyết nguyên tử lên một trình
độ mới. Một mặt, ông tán thành lý thuyết tồn tại duy nhất và bất biến của Pácmênít
khi coi các nguyên tử là bất biến, mặt khác, ông kế thừa quan điểm của Hêraclít
cho rằng mọi sự vật biến đổi không ngừng. Đêmôcrít đã nêu ra lý thuyết về vũ trụ
học. Lý thuyết này được xây dựng trên cơ sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của vật
chất, thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát và có một ý nghĩa đặc biệt trong
lịch sử triết học. Đêmôcrít khẳng định: vũ trụ là vô tận và vĩnh viễn, có vô số thế
giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và bị tiêu diệt. Quan điểm của Đêmôcrít về vận
động gắn liền với vật chất là một phỏng đoán có giá trị đặc biệt. Theo ông, vận
động của nguyên tử là vĩnh viễn, và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận
động của nguyên tử ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân, tự nó. Tuy nhiên
ông đã không lý giải được nguồn gốc của vận động. Dựa trên học thuyết nguyên
tử, Đêmôcrít đã đi tới quan điểm quyết định luận. Đó là thừa nhận sự ràng buộc

Linh hồn của con người là biểu hiện của lửa. Lửa đưa con người đến điều thiện,
làm cho con người trở nên hoàn hảo, lửa là thôi thúc ở trong tim để ngăn ngừa
những cám dỗ vì chống lại khoái cảm còn khó hơn chống lại sự giận dữ. Theo
ông, hạnh phúc không phải là sự hưởng lạc về mặt thể xác thoả mãn dục vọng mà
ở chỗ phải biết vượt lên trên mình biết nói, biết suy nghĩ, hành động theo logos.
Đêmocrit có nhiều công lao trong việc xây dựng lý luận về nhận thức. Ông đặt
ra và giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm
giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc
nhận thức tự nhiên.
Nét đặc sắc trong triết học duy vật của Đêmôcrit là chủ nghĩa vô thần. Ông cho
rằng sở dĩ con người tin vào thần thánh là vì con người bất lực trước những hiện
tượng khủng khiếp của tự nhiên. Theo ông, thần thánh chỉ là sự nhân cách hoá
những hiện tượng tự nhiên hay là những thuộc tính của con người. Thí dụ, mặt trời
mà tôn giáo Hi Lạp đã thần thánh hoá thì ông cho đó chỉ là một khối lửa.
Công lao có ý nghĩa lịch sử của Đêmôcrit là ông đã bền bỉ đấu tranh cho quan
niệm duy vật về tự nhiên. Nó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển tiếp theo
của triết học duy vật.
Đối lập với chủ nghĩa duy vật Hi Lạp cổ đại là chủ nghĩa duy tâm trong triết
học mà đại biểu lớn nhất là Platôn.
Theo Platôn, giới tự nhiên-thế giới của những vật cảm tính-bắt nguồn từ những
thực thể tinh thần tức là từ những ý niệm; vật thể cảm tính chỉ là cái bóng của ý
niệm. Ông cho rằng, để nhận thức được chân lý người ta phải từ bỏ mọi cái hữu
hình cảm tính; phải “hồi tưởng” lại những gì mà linh hồn bất tử quan sát được
trong thế giới ý niệm. Thuyết hồi tưởng thần bí này được xây dựng trên cơ sở học
thuyết về linh hồn bất tử, tính độc lập của linh hồn với thể xác. Đạo đức học của
ông được xây dựng trên học thuyết về linh hồn bất tử là một hình thức của lý luận
tôn giáo, là bộ phạn quan trọng nhất của ý thức tư tưởng của tầng lớp chủ nô quý
tộc. Triết học Platon được nhiều nhà triết học thời trung cổ và sau đó, nhiều nhà
duy tâm thời cận đại lặp lại dưới những hình thức cải biên…nhằm phục hồi và đẩy
cao tính duy tâm mà Platôn mắc phải làm cho nó trở nên thần bí hơn với khẩu hiệu

thách và phản biện. Người Hy Lạp đã khám phá, phát minh ra nền dân chủ, tư
tưởng về dân chủ. Rồi người Athen chuộng tự do, mở rộng cửa cho dân tự do, tức
công dân nhập cư. Tất cả sự thân mật, cầu khẩn cho sự phát triển ấy đã giúp cho
nền dân chủ này đạt những kết quả lớn lao. Nhưng những thăng trầm mà nó không
thể né tránh là rất nhiều.
Sự thăng trầm của nền dân chủ xuất phát từ những nguyên nhân bên trong,
trước hết từ những mâu thuẫn của bản thân nền dân chủ đó. Bên cạnh những hợp
đề lại có những phản đề. Sự phản đề làm cho tư tưởng dân chủ được “chắt lọc, gạn
đục khơi trong”, lèo lái chủ thể chính trị (sở hữu chính trị, phát triển chính trị và
sáng tạo chính trị) đi theo hướng hợp quy luật và có lợi cho chủ thể chính trị.
Socrate, Aristote đều tỏ thái độ ác cảm đối với nền dân chủ. Nhưng Democrite lại
ủng hộ nền dân chủ. Còn ở Platon nền dân chủ luôn được đặt trong tình thế phê
phán gay gắt, đặc biệt là nền dân chủ Athen. Nền dân chủ Athen, theo Platon là sự
pha tạp, vàng thau lẫn lộn. Nó luôn phải đối mặt, hay nói cách khác những nan
giải luôn trực chờ. Ơ những cách lý giải của Platon tư tưởng giàu- nghèo, quyền
lực, định chế luật pháp, bình đẳng, công bằng, , hình thức cai trị dân chủ,… tất cả
đều được quan tâm nhận thức.
Tuy nhiên, ở Platon dân chủ lại có ý nghĩa là hòa tan cá nhân vào cộng đồng,
dân chủ là cá nhân phải phục tùng tuyệt đối xã hội, dân chủ là “người sản xuất
phải thích ứng với công việc, chứ không phải công việc phải thích ứng cho người
sản xuất”…
Tư tưởng dân chủ đã được hình thành và đã được phát triển, đã trải qua những
thăng trầm của lịch sử, có hợp đề thì phải có phản đề mới tạo ra động lực phát
triển. Ơ triết học Hy Lạp cổ đại các vòng khâu đầu tiên đã được tạo ra, tiền đề cơ
sở đã được hình thành. Cái vòng khâu đầu tiên ấy sẽ tạo ra những vòng khâu liên
tục tiếp theo nữa; bằng vòng khâu có tính mở, tư tưởng dân chủ của triết học Hy
Lạp cổ đại sẽ được tiếp cận và mở rộng bằng những vòng khâu, sự lan tỏa tiếp
theo trong các thời kỳ sau đó.
Nhà nước là một thiết chế cần thiết, nhà nước là một hình ảnh phóng đại của
con người.

Hai là, đảm bảo nhu cầu vật chất và phúc lợi xã hội.
Ba là, định hướng và khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học.
Nguyên lý cơ bản của nhà nước lý tưởng là công bằng, mục tiêu của nó- cái
thiện tối cao, phương tiện của nó- giáo dục.
Platon như nhà nhân văn và nhà khai sáng nhưng Platon như nhà cộng sản
không tưởng, chủ trương xây dựng cộng đồng thiếu bản sắc, thủ tiêu con người cá
nhân.
Với Xixêron, nhà nước là “một cộng đồng pháp lý”. Nhà nước là của chung
nhân dân và là trật tự chung.
Những tư tưởng trên nhằm phản ánh cuộc đấu tranh tư tưởng để tìm ra hình
thức nhà nước đáp ứng được nhu cầu phát triển xã hội, thoát khỏi vòng tròn mở
đầu của nền chính trị Hy Lạp- La Mã cổ đại. Đây cũng là bước đầu tiên thể hiện
cho những vòng khâu lan toả tiếp theo.
Sự tan rã chế độ thị tộc và sự thiết lập chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội có
giai cấp đầu tiên trong lịch sử loài người…. Trong nội bộ công xã đã bắt đầu diễn
ra những xung đột từ việc hôn nhân đến việc phân chia tìa sản của các thế hệ, cuối
cùng là việc phân định quyền lực song song với việc phân hoá xã hội.
Lúc này, những biểu hiện chủ yếu của hệ thông các giá trị tinh thần mới là sự
duy lý hoá tư duy, ý thức về nhân cách, ca ngợi tính tích cực, lòng quả cảm của
con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên, tinh thần ái quốc, quan niệm về tự do
như phạm trù đạo đức- chính trị cao quý nhất… tư tưởng triết học, tất cả đều được
quan tâm, lý giải… sự thông thái được “thế tục hoá” khát vọng hiểu biết, khám
phá, khát vọng hướng tới chân lý, đằng sau số phận của các vị thần và các thủ lĩnh
siêu phàm, tài ba là những thông điệp của cuộc sống, những bài ca về lòng yêu
nước, tình đồng đội, tình cảm vợ chồng, cha mẹ, anh em… ghen tuông, hiềm
khích, đố kỵ, lừa dối cái ác. Đã góp phần tạo nên vòng khâu tư tưởng của nhân
loại.
Thời kỳ cổ đại sơ khai hình thành những khuynh hướng và những phương pháp
tư duy cơ bản nhất. Vấn đề nhận thức luận, nguồn gốc sự sống được đặt ra.
Thời kỳ Hy Lạp cổ đại cực thịnh, nền dân chủ, chủ nô được quan tâm, vấn đề

Còn với Platon (427- 347 TCN). Người cầm quyền phải gạt sang ý chí cá nhân
để tuân thủ và nhân danh ý chí của pháp luật. Pháp luật không được đề cao, đồng
thời nằm dưới quyền của một ai đó thành một nhà nước sụp đổ nhanh chóng. Ở
đâu pháp luật được định ra thì ở đó mới có chế độ nhà nước. Đức hạnh cao quý
nhất của mỗi cá nhân là công bằng, tiết độ (gan dạ, khôn ngoan, công bằng).
Còn khi chúng ta tiếp cận tư tưởng của Seneca thì ông cho rằng, sự tuân phục
hợp lý là tự do…
Tóm lại, vòng khâu tư tưởng thời kỳ Hy Lạp đã được hình thành. Sự mở đầu
này, sự phác thảo này không kém phần chi tiết là một sự báo hiệu diễn ra những
vòng khâu tư tưởng tiếp theo, lớn hơn cả về lượng lẫn về chất. Về lượng có nhiều
nhà tư tưởng với nhiều học thuyết được đưa ra; về chất các học thuyết đã khẳng
định mạnh mẽ hơn đến giá trị người, giá trị nhân văn trong đơì sống sinh hoạt của
con người.
1.2. Sự kế thừa, sáng tạo trong triết học Aristote về triết học Huy Lạp cổ đại
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp
Aristote (384-322 TCN) sinh trưởng tại thành phố Xtahi (Stagire), trong một
gia đình có cha là ngự y nổi tiếng cho vương triều Maxêđôin, là học trò của
Platon. Aristote sớm trở thành nhà triết học lớn nhất, có bộ óc bách khoa toàn thư
vĩ đại nhất của triết học Hy Lạp cổ đại . Ph. Ăngghen đã gọi ông là con người có
“khối óc toàn diện nhất”. Còn C. Mác đã đánh giá: “tư tưởng thâm thúy của
Aristote vạch ra những vấn đề trừu tượng nhất một cách thật đáng kinh ngạc ”, là
người đầu tiên không chỉ đặt nền móng vững chắc cho lâu đài triết học, logic học
và khoa học hiện đại, mà còn là người đầu tiên đặt nền móng cho lịch sử triết học.
Nói cách khác, theo ông, bắt đầu từ Aristote, lịch sử triết học mới ra đời và phát
triển.
Năm 367, ông tới Athens và gắn bó đời mình vào trường Academy của Platon
cho tới khi vị thầy ấy qua đời. Tại đó, ông viết nhiều đối thoại được tán dương là
rất hùng hồn. Nay chỉ tồn tại vài đoạn tản mác.
Năm 347, ông sang ở Tiểu Á và Mitilene, Leobos. Năm 342, ông được vua
Philip xứ Macedonia mời làm gia sư cho hoàng tử Alexander, người về sau trở

tại, được Aristote diễn đạt bằng từ “on”, “giữa” để phân biệt với tồn tại” (“to
einai”). Thực tại rộng hơn tự nhiên, tự nhiên chỉ là một phân thực tại. Siêu hình
học như triết học đệ nhất là khoa học nghiên cứu những bán chất (ousia) và
nguyên nhân (aitia) phi cảm tính, vĩnh cửu; ngược lại vật lý học, tức triết học đệ
nhị, nghiên cứu những nguyên nhân vật chất năng động của toàn bộ sự vật hữu
hình, còn toán học - những sự vật bất động. Triết học đệ nhất được nâng lên cấp
độ khoa học về thần, nhưng rộng hơn cả thần học, vì nó bao quát toàn bộ nguyên
nhân và bản chất của thực tại, với tính cách đó nó cũng lại là khoa học về tồn tại.
- Nhóm các khoa học thực tiễn, lấy hành động làm đối tượng. gồm đạo đức
học, chính trị học, kinh tế học…
- Nhóm các khoa học sáng tạo. lấy những gì hữu ích và gây ấn tượng do con
người sáng tạo ra làm đối tượng, gồm nghệ thuật, thi ca, các khoa học ngôn
ngữ, các hoạt động có tính chất kỹ thuật.
Trong trình tự nghiên cứu của triết học Aristote đầu tiên là lô-gíc học như nhập
môn vào các khoa học khác; tiếp theo là vật lý học (kể cả sinh vật học, tâm lý học)
tìm hiểu tự nhiên vô cơ, hữu cơ và đời sống con - người; thứ ba là siêu hình học
nghiên cứu bản chất tồn tại; cuối cùng là đạo đức học và các khoa học ngôn ngữ,
văn chương, …
Bên cạnh đó, những vấn đề chính trong triết học của Aristote còn phải kể đến
các học thuyết cơ bản và các quan niệm.
Xu hướng duy vật và tư tưởng biện chứng trong triết học tự nhiên của Arixtốt
thể hiện ở ông thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bản thể vật chất mãi
mãi vận động và biến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại bên ngoài sự vật,
hơn nữa sự vật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ với các sự vật khác. Ông
cho rằng, vận động gắn liền với các vật thể, với mọi sự vật hiện tượng của giới tự
nhiên. Ông cũng khẳng định, vận động là không thể bị tiêu diệt, đã có vận động và
mãi mãi sẽ có vận động. Trong lập luận này, ông đã tiến gần đến quan niệm vận
động là tự thân của vật chất. Song cuối cùng ông lại rơi vào duy tâm khi cho rằng
thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động. Tuy nhiên, nếu như trước đây Hêraclít
và Đêmôcrít chưa phân biệt được các hình thức của vận động thì đến Arixtốt là

làm biến đổi – nguyên nhân của cái được biến đổi, (4) mục đích, nghĩa là cái – vì –
nó, chẳng hạn mục đích của đi dạo là sức khỏe. Do đâu con người đi dạo? Vì
muốn được khỏe mạnh. Hẳn khi nói như thế chúng ta nghĩ rằng mình đã chỉ ra
nguyên nhân”
(1)
- Nguyên nhân mô thức: Mọi vật trong thế giới có thể vận động là nhờ mô
thức của chúng. Vì mô thức là tính quy định căn bản của tồn tại nên nó là nguyên
nhân quan trọng nhất.
Mô thức (tiếng Hy Lạp morphè) theo nghĩa thông thường là dáng vẻ, diện mạo,
hình dạng, bề ngoài. Tuy nhiên Aristote vượt qua ý nghĩa vừa nêu để hiểu morphè
như bản chất, chuẩn mực (logos), nguyên nhân đầu tiên về bản nguyên tối thượng
của mọi sự vật, mà Thần chính là biểu tượng (mô thức của những mô thức)
(2)
.
- Nguyên nhân vật chất: Theo cách hiểu của Aristote vật chất là nguồn suối
phát sinh sự vật. Nhưng khái niệm vật chất (hyle) mà Aristote sử dụng có tới năm
nghĩa: rừng, hay bụi cây, bó củi, gỗ để xây dựng; chất liệu thô; đề tài, đối tượng
nghiên cứu, mô tả; chất lắng đọng, cặn bã; vật chất theio nghĩa chung
(3)
.
Vật chất của Aristote không năng động như apeiron của Anaximandre. Ở
Aristote vật chất thụ động đến nỗi, chẳng hạn, nếu chỉ nói đến nó thôi thì mọi
người đều giống nhau. Trong mối quan hệ giữa vật chất, hay tiềm thể (dynamis),
va mô thức, hay hiện thể (energeia), vận động đóng vai trò cái làm cho sự thống
nhất các mặt đối lập thành hiện thực. “Bao nhiêu tiểu loại thực tại thì có bấy nhiêu
tiểu loại vận động và biến đổi, và do chỗ xét theo chủng loại ta phân biệt thực tại
trong khả năng và thực tại trong hiện thực, nên tôi ngầm hiểu vận động là sự thể
hiện thực tại trong khả năng”
(1)
- Nguyên nhân mục đích: Thuật ngữ entelecheia đầu tiên chỉ một hiện thực,

điểm: dưới biến đổi về chất những đặc tính ngẫu nhiên biến đổi theo, nhưng dưới
sự xuất hiện và diệt vong chỉ những đặc tính chủng loại và tiểu loại chuyến hóa
theo. Điều nay lại cũng có nghĩa là điều kiện của phát sinh và tiêu diệt là vận động
trong không gian.
Ngoài ra Aristote phủ nhận chân không vì nếu có chân không thì không có sức
cản nên tốc độ mọi vật đều lớn vô hạn và mọi vật đều rơi với vận tốc như nhau.
Điều đó là vô lý vì theo ông vật nặng phải luôn rơi nhanh hơn vật nhẹ.
Ông cho rằng toàn bộ vật chất trong vũ trụ được tạo thành từ 4 yếu tố ban đầu:
đất, nước, lửa, không khí, có thể chuyển hóa lẫn nhau. Các yếu tố này được tác
động bởi hai lực: lực hấp dẫn có xu hướng làm chìm xuống đối với đất và nước,
lực nâng có xu hướng làm nâng lên đối với không khí và lửa. Bốn tính chất này
luôn đấu tranh với nhau tạo ra sự chuyển hóa các yếu tố và mọi hiện tượng trong
thiên nhiên. Mỗi yếu tố đều có vị trí tự nhiên của nó trong thế giới. Vị trí tự nhiên
của đất là địa cầu, là trung tâm bất động của thế giới. Vị trí tự nhiên của nước là
phần khối cầu bọc ngoài địa cầu. trí tự nhiên của không khí và lửa là hai phần khối
cầu bọc ngoài nữa. Mặt cầu ngoài cùng là giới hạn vị trí của lửa, có gắn các sao
bất động, đó là giới hạn của thế giới. Mỗi yếu tố khi bị cưỡng đưa ra khỏi vị trí tự
nhiên của nó đều có xu hướng trở về vị trí ban đầu của nó. Đó là nguyên nhân gây
ra chuyển động tự nhiên.
1.2.3.2. Quan niệm về con người
Aristote dựa trên thuyết nguyên nhân cho rằng cũng như sự vật được hình
thành từ hình thức và vật chất, sinh thể và con người được cấu thành từ yếu tố thể
xác và linh hồn. Ông cho rằng, linh hồn tồn tại như một nguyên lý sống tất yếu của
cơ thể: linh hồn là thực tại nền tảng của một cơ cấu cơ thể tự nhiên. Không có linh
hồn bất tử, không có linh hồn trong cơ thể chết và cũng không có linh hồn nằm
bên ngoài thể xác vật chất.
Tùy theo các cấp độ khác nhau, Aristote chia linh hồn thành ba loại:
o Linh hồn thực vật: là khả tử thực hiện chức năng nuôi dưỡng và
sinh sản.
o Linh hồn động vật: là khả năng thực hiện chức năng cảm ứng với

người. Khi phủ nhận quan điểm của Platon coi hạnh phúc của con người gắn liền
với thế giới ý niệm, Aristote cho rằng: ngu dốt, sai lầm là nguồn gốc của cái ác, lý
trí và lẽ phải đời thường là nguồn gốc của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh
con người. Phẩm hạnh của con người nếu có được nhờ vào việc hiểu thấu và làm
theo chân lý (hành động dựa theo cái tất yếu – phổ biến, do thông qua giáo dục và
đào tạo) thì đó là phẩm hạnh lý tính; Còn phẩm hạnh của con người có được nhờ
thói quen làm theo lẽ phải đời thường (hành động dựa theo cái trung dung, tức là
không thái quá, thông qua tập quán lâu đời của cộng đồng) thì đó là phẩm hạnh
luân lý.
Quan niệm về bản chất con người của Aristote là một quan niệm rất lành
mạnh: tất cả những lý tưởng đều có một căn bản thiên nhiên và tất cả những cái gì
thiên nhiên đều có thể nẩy nở thành lý tưởng. Aristote chấp nhận một cách thẳng
thắn rằng mục đích trực tiếp của cuộc đời không phải là cái hay cái đẹp mà chính
là hạnh phúc.
Một trong những cơ sở của Aristote về đạo đức là thuyết trung dung. Điểm
trung dung có thể thay đổi tuỳ theo trường hợp và chỉ có thể tìm thấy bằng sự suy
luận trưởng thành. Người ta còn nhớ câu nói bất hủ của Aristote về vấn đề này:
"Một con én không làm nổi một mùa xuân". Tuy nhiên thuyết trung dung chưa
phải là bí quyết đem đến hạnh phúc. Aristote cho rằng những nhu cầu vật chất
cũng cần thiết.
Theo Aristote, đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong
thế giới ý niệm trên trời mà nằm trong thế giới hiên thực dưới đất, nơi trần gian.
Đồng thời, chúng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người
trong cộng đồng xã hội.
1.2.3.3. Quan niệm về xã hội
Aristote coi chính trị học là sự khai triển đạo đức vào trong đời sống xã hội.
Aristote vận dụng thuyết trung dung xây dựng lí luận về nhà nước. Aristote cho
rằng con người, về bản chất, là một tạo vật có tính xã hội và chính trị, mục đích
trong đời của mỗi cá nhân là thực hiện toàn mãn bản chất của mình để trưởng
thành, thăng hoa và hưởng thụ hạnh phúc.

những danh từ trừu tượng hoặc toàn cầu chỉ là từ ngữ, chúng biểu thị cho những
trạng thái của trí não như ý tưởng, niềm tin hoặc dự định William of Ockham nổi
tiếng là người bảo vệ cho chủ nghĩa duy danh, còn được gọi là "khái niệm luận".
"Chủ nghĩa duy lý" nhấn mạnh vai trò của lý trí con người. Chủ nghĩa duy lý
cực đoan tìm mọi cách để gán tất cả kiến thức con người lên nền tảng độc nhất là
lý trí. Kiểu lý luận điển hình của chủ nghĩa duy lý bắt đầu bằng những tiên đề
không thể chối cãi rành rọt được, để từ đó, bằng các bước logic, diễn dịch ra mọi
đối tượng kiến thức có thể có.
Parmenides (sinh năm 510 TCN) được cho là nhà triết học duy lý đầu tiên,
người đã tranh luận rằng việc suy nghĩ thực sự có xảy ra là không thể hồ nghi, mà
việc suy nghĩ phải có đối tượng suy nghĩ, do đó, một sự vật phải thật sự tồn tại.
Parmenides diễn dịch rằng những gì thật sự tồn tại phải có những tính chất nhất
định– thí dụ như, nó không thể bắt đầu tồn tại hoặc chấm dứt tồn tại, nó là một
chỉnh thể trọn vẹn, nó giữ nguyên bản chất vĩnh viễn (đúng hơn là tồn tại hoàn
toàn bên ngoài thời gian). Zeno (sinh năm 489 TCN) là học trò của Parmenides, đã
tranh luận rằng sự vận động là bất khả thi, và chứa đựng sự mâu thuẫn.
Plato (427-347) cũng bị ảnh hưởng bởi Parmenides, nhưng ông đã kết hợp chủ
nghĩa duy lý với một dạng của chủ nghĩa hiện thực. Triết gia này đã cất công xem
xét sự tồn tại và bản chất của sự vật. Ông kết luận đặc tính của những bản chất sự
vật là chúng mang tính chung trên toàn cầu. Bản chất của một con người, của một
hình tam giác, của một cái cây có thể áp dụng cho tất cả con người, tất cả hình tam
giác và tất cả các loại cây. Plato tranh luận rằng những bản chất này là những hình
thái không phụ thuộc vào trí não, rằng con người có thể biết đến chúng bằng lý trí
và bằng cách làm ngơ trước những thứ làm phân tâm do giác quan gây ra.
Chủ nghĩa duy lý hiện đại bắt đầu với Réne Descartes(1596-1690). Nghiền
ngẫm về bản chất của trải nghiệm tri giác, cũng như những khám phá khoa học
trong sinh lý học và quang học, Descartes (và cả John Locke) đã đi đến quan điểm
rằng chúng ta trực tiếp ý thức được ý nghĩ, chứ không phải sự vật. Quan điểm này
làm nảy sinh ba vấn đề.
1. Có phải các ý nghĩ là bản sao thực thụ của những sự vật, sự việc mà

Jean-Jacques Rousseau và Edmund Burke, đã chọn con đường hơi khác. Việc
nhiều triết gia thời bấy giờ chỉ tập trung quan tâm những vấn đề được giới hạn đã
dự báo cho sự phân chia ra và chuyên môn hoá nhiều lĩnh vực triết học trong thế
kỷ 20.
Chủ nghĩa hoài nghi là một quan điểm triết học nghi vấn khả năng đạt được
"bất kì" một loại kiến thức nào. Nó được phổ biến bởi Pyrrho, người tin rằng tất cả
mọi thứ đều có thể bị nghi ngờ ngoại trừ "vẻ bề ngoài". Sextus Empirius (thế kỉ 1)
miêu tả chủ nghĩa hoài nghi như là một "khả năng đưa ra một phản đề, trong bất kì
cách thức nào, về vẻ ngoài và các đánh giá, và do đó để đến một trạng thái
không còn đánh giá thứ gì nữa và sau đó là sự bình an của tinh thần"
[1]
. Chủ nghĩa
hoài nghi hiểu theo cách như vậy không chỉ đơn thuần là việc sử dụng sự hoài
nghi, mà là việc sử dụng tính hoài nghi cho một mục đích đặc biệt: một sự bình an
của tâm hồn, hay là ataraxia. Chủ nghĩa hoài nghi là một thách thức cho chủ nghĩa
giáo điều, hay là cho những người nghĩ rằng họ đã tìm ra sự thật
[2]
.
Sextus chú ý rằng độ tin cậy của sự cảm nhận có thể bị nghi vấn, bởi vì đó là
một đặc tính riêng của người cảm nhận. Vẻ bề ngoài của những vật riêng rẽ có thể
thay đổi phụ thuộc vào việc nó có xuất hiện cùng với một nhóm hay không: ví dụ,
vỏ bào của sừng dê có vẻ như là màu trắng khi được cạo và tách ra riêng, thế
nhưng sừng khi còn nguyên vẹn là màu đen. Một thanh bút chì, khi nhìn theo
chiều dài, giống như là một que dài; nhưng khi được nhìn từ đầu mũi, nó chỉ giống
như một hình tròn.
Chủ nghĩa hoài nghi được hồi sinh trong giai đoạn hiện đại bởi Michel de
Montaigne và Blaise Pascal. Tuy nhiên người tiêu biểu nhất và ủng hộ mạnh mẽ
chủ nghĩa này nhất là David Hume. Hume lý luận rằng chỉ có hai loại lý luận, là có
khả năng xảy ra và có luận chứng (probable/demonstrative) (xem Cái nĩa của
Hume). Cả hai dạng lý luận này đều không thể đưa chúng ta đến niềm tin về sự tồn

Berkeley. Berkeley lý luận
[5]
rằng không có những khác biệt về bản chất giữa các
trạng thái tinh thần, như là cảm thấy đau đớn, và những gợi ý từ các giác quan.
Không có một thứ gì có thể phân biệt được, ví dụ, giữa độ nóng của một đống lửa,
và nỗi đau nó tạo ra cho chúng ta. "Trạng thái" chúng ta cảm nhận chứa trong đó
tính chất "được cảm nhận" của nó (esse của nó là percipi), và ý kiến "phổ biến một
cách lạ lùng trong loài người" rằng nhà cửa, sông núi và sông suối tồn tại độc lập
trước khi bất kì ai cảm đó cảm nhận chúng, là sai.
Các dạng của chủ nghĩa lý tưởng khá phổ biến trong triết học từ thế kỉ 18 đến
những năm đầu của thế kỉ 20. Chủ nghĩa lý tưởng siêu việt (Transcendental
Idealism), được ủng hộ bởi Immanuel Kant, cho rằng có những giới hạn về những
điều có thể hiểu được nếu như nó không được đem ra đánh giá trong những điều
kiện khách quan. Kant viết cuốn Critique of Pure Reason (Chỉ trích về lý luận
thuần túy) (1781/1787) trong một cố gắng hòa giải các cách tiếp cận trái ngược
nhau của rationalism và empiricism và thiết lập một nền tảng mới để nghiên cứu
siêu hình học. Mục đích của Kant với tác phẩm này là nhìn vào những gì chúng ta
biết và sau đó xem xét những điều gì phải đúng theo cách mà chúng ta biết. Một ý
tưởng chính là có những đặc tính cơ bản của hiện thực thoát khỏi những kiến thức
trực tiếp của chúng ta bởi vì những giới hạn tự nhiên của khả năng con người
[6]
.
Phương pháp của Kant là theo mô hình của Euclid, mặc dù cuối cùng thì ông thừa
nhận rằng lý luận thuần túy và không đủ để khám phá tất cả sự thật. Các tác phẩm
của Kant được tiếp nối trong các tác phẩm của Johann Gottlieb Fichte, Friedrich
Schelling và Arthur Schopenhauer.
Triết lý của Kant, được biết đến như là chủ nghĩa lý tưởng siêu việt, sau này
được làm cho trừu tượng và tổng quát hóa hơn, trong một phong trào được biết
đến như là lý tưởng Đức, một dạng của lý tưởng tuyệt đối. Chủ nghĩa lý tưởng
Đức đã trở nên phổ biến với sự xuất bản tác phẩm của G. W. F. Hegel vào năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status