TIỂU LUẬN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
HVTH : TRẦN HOÀNG TUẤN
STT : 128
NHÓM : NHÓM 8
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 - K20
GV : TS. BÙI VĂN MƯA
TPHCM, Tháng 5/2011
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nhắc đến khởi nguyên tiềm tàng của nền triết học nhân loại chúng ta
không thể không nói đến hai nền triết học lớn của thế giới, đó là triết học Hy Lạp
cổ đại và Ấn Độ cổ đại. Có thể nói Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại là những cái
nôi của triết học thế giới, là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp
xướng của triết học, làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống triết học thế giới sau này.
Nét nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các vấn đề cơ bản của
triết học mà sau này các học thuyết triết học khác từng bước giải quyết theo nội
dung của thời đại mình. Trong khi đó, triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và giải
quyết những vấn đề của tư duy triết học. Việc tìm hiểu sự tương đồng và khác
biệt của triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại giúp chúng ta có khái niệm gần
như hoàn chỉnh về triết học phương Tây và triết học phương Đông, những ảnh
hưởng của nó đến thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ đó chúng ta biết
cách vận dụng những tinh hoa của hai nền triết học này, nâng cao khả năng tư
duy, nhận thức thế giới, con người và xã hội.

người cuộc sống hạnh phúc 10
5.Tương đồng trong việc bảo vệ giai cấp thống trị 10
6.Tương đồng trong việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của triết học 11
7.Tương đồng trong việc xem triết học là con đường dẫn dắt đến chân lí 11
II.SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ VÀ HY LẠP CỔ ĐẠI 11
1.Khác biệt ở các nhân tố cụ thể tác động đến triết học 11
2.Khác biệt ở sự phân chia giữa các trường phái 12
3.Khác biệt ở trình tự xem xét giữa nhân sinh quan và thế giới quan 14
ii
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
4.Khác biệt ở phương thức xem xét mối quan hệ con người và vũ trụ 16
5.Khác biệt ở phương thức nhận thức 17
6.Khác biệt ở khuynh hướng phát triển 18
III.NHẬN XÉT 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
iii
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP VÀ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
I. KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện ra đời
1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông thôn, toàn bộ
ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, sự phân chia đẳng cấp hết sức khắc
nghiệt. Xã hội có 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bà la môn), đẳng cấp quý tộc, đẳng
cấp bình dân tự do, đẳng cấp nô lệ. Xã hội Ấn Độ có nhiều tôn giáo: đạo Ấn (thờ
bò) (HinDu), đạo Hồi (không ăn thịt heo), đạo Thiên chúa, đạo Cơ Đốc.
1.2. Điều kiện về khoa học và văn hóa
Về tri thức khoa học, người Ấn Độ đã có những tri thức rất sớm và phong
phú về nhiều lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toàn học, y học, nông nghiệp,

4.2. Trường phái triết học chính thống: Trường phái Vêđanta. Samkhya,
Yoga, Mimansa, Nyaya, Vaisêsika
Nguyên nhân dẫn đến sự luân hồi của mỗi cá nhân là vì linh hồn cá biệt
nơi mỗi người thường bị những ham muốn dục vọng che lấp, nên linh hồn rơi
vào vòng ám muội của thế giới vật chất, thường biến, hữu hình, hữu hạn, không
giữ được bản lai thanh tịnh của mình.
Theo trường phái này, không thể giải thoát bằng cách lễ bái, tích lũy khổ
hạnh hay tin tưởng vào sự cứu rõi của đấng tối cao. Đối với họ, phương pháp đưa
đến sự giải thoát là phải chế dục theo pháp Yoga, diệt trừ nghiệp lực và phải thấu
triệt sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ. Nếu thực hiện được như thế thì linh hồn cá
biệt mới đạt đến sự giải thoát hoàn toàn
2
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
4.3. Hệ thống triết học không chính thống
a. Triết phái Jaina (Kỳ na giáo): Trường phái này mang đượm màu sắc tôn
giáo, ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên.
b. Triết phái Lokayata (hay còn gọi là Carvaka): Triết học Lokayata mang
tính duy vật chủ nghĩa và vô thần tương đối triệt để, nhưng chỉ tồn tại trong một
thời gian tương đối ngắn. Nó được trình bày trong chính kinh Veda, trong các sử
thi và cả trong kinh sách của Phật giáo. Thuyết ấy tuyên bố rằng chỉ có thể biết là
hiện hữu những gì ta tri giác được. Không có thế giới bên kia, chết là hết. Niềm
tin vào những điều như thế được xem là tưởng tượng kỳ quái. Không có bằng
chứng hợp lý luận cho tính khả thi của cái không thể thấy; không thể dùng sự suy
ra như một nguồn có giá trị của tri thức mới vì không thể chứng minh nó một
cách vô điều kiện.
c. Triết phái Budđhsam (Phật giáo): Là một trường phái triết học tôn giáo
lớn của Ấn Độ cố đại. Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn độ cổ
đại được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba pham trù: vô ngã, vô thường,
duyên khởi ) và nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu (4 chân lý tuyệt diệu): khổ
đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế.

trong nó.
Thứ năm, triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề về con người. Dù còn
có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là
tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
4. Các tư tưởng, trường phái triết học
4.1. Chủ nghĩa duy vật:
a. Trường phái Milê: Đóng góp chính quan trọng nhất của trường phái
Milet này là đã được đặt nền móng cho sự hình thành các khái niệm đó như khái
niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ sung và làm phong phú thêm
những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh giữa các mặt
đối lập
4
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
b. Trường phái Hêraclit: Héraclite là nhà triết học đã nêu lên các phán
đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sau
này Marx đã đề cập và đi sâu. Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp
của triết học Héraclite vào tư tưởng của nhân loại.
c. Trường phái đa nguyên Empêđôc – Anaxago: Để giải thích tính đa
dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật, Empédocle và Anaxago cố
vượt qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh của các trường phái Milet, trường
phái Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất
đa dạng. Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, còn hạn chế.
d. Trường phái nguyên tử luận Lơxip – Đêmôcrit: là một hệ thống quan
điểm duy vật đầy đủ, nhất quán, trường phái nguyên tử làm cho chủ nghĩa duy
vật đạt được đỉnh cao. Nó xung đột mạnh với chủ nghĩa duy tâm của Xocrat
Platông sau này.
• Quan điểm về nhận thức- đạo đức:
+ Quy nạp là phương pháp nhận thức đúng đắn.
+ Hiểu biết là cơ sở của hành vi đạo đức. Sống có đạo đức là sống
đúng mực, ôn hoà, không hại mình, không hại người.

chất con người sinh ra là để nhận thức.
+ Nhận thức là hoạt động bản tính của linh hồn, nhưng khi con
người mới sinh ra, linh hồn như một tấm bảng trắng.
• Quan điểm về đạo đức, chính trị - xã hội:
+ Xã hội tốt nhất phải dựa trên chế độ cộng hoà quý tộc, do chủ nô
trung lưu lãnh đạo.
+ Công bằng trong trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng
XH và bình đẳng giữa các cá nhân.
+ Lý trí, lẽ phải là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh.
6
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
CHƯƠNG 2 - SO SÁNH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ CỔ
ĐẠI
I. SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ VÀ HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Tư tưởng triết học chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội
Triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại cùng ra đời dựa trên những
thành tựu rực rỡ của các lĩnh vực văn hóa và khoa học tự nhiên, gắn bó mật thiết
với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm
xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất. Tuy
Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại có điều kiện tự nhiên và lịch sử không giống nhau
nhưng tất cả điều ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sự phát triển của Triết học.
• Tại Ấn Độ, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một
nền triết học độc nhất; đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế
giới, triết học Ấn Ðộ cũng như Ấn giáo, là một kho tàng chứa đựng các ý tưởng
được bảo lưu một cách rộng rãi, trong đó một số ý tưởng này cổ đại hơn một số ý
tưởng khác tới cả ngàn năm.
• Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã biết gắn bó chặt chẽ triết học
với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau để
hướng tới việc xây dựng thế giới quan tổng thể, biến triết học thành "khoa học
của các khoa học".

tâm – tôn giáo của phương đông, coi linh hồn tồn tại bất tử, độc lập với thể xác
và chịu luân hồi. Trường phái Xôcrát-Platông cho rằng hiện tượng tự nhiên do
thần thánh sáng tạo và an bài. Ý niệm của Platông là lý tính, tồn tại trên trời,
chân thực tuyệt đối. Thế giới sự vật là sự sao chép của ý niệm, sinh ra từ ý niệm,
8
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
do thần Tạo hóa mô phỏng từ ý niệm. Linh hồn vũ trụ là thần linh, tồn tại dưới
dạng các tinh tú, và chỉ được nhận thức bằng linh hồn vũ trụ của con người. Con
người bao gồm thể xác khả tử và linh hồn bất tử.
Hai nền triết học đều có những trường phái cho rằng thế giới tạo thành từ
vật chất, không tồn tại thần thánh.
• Ấn Độ:
- Trường phái Nyaya với thuyết nguyên tử luận, cho rằng thế
giới vật chất được cấu thành từ các nguyên tử kết hợp lại.
- Trường phái Vaisêsika cũng ủng hộ thuyết nguyên tử luận.
- Phái Lokayata xem sự vật kết thành bởi tứ đại bao gồm đất,
nước, gió, lửa
• Hy Lạp:
- Trường phái duy vật cho rằng khởi nguyên vũ trụ hình thành
bởi các yếu tố vật chất. Talet cho rằng nước là khởi nguyên của sự vật. Heraclit
cho rằng lửa tạo ra van vật. Êmpêđốc nhận định vạn vật tạo bởi đất nước, không
khí, kết hợp với lực tình yêu và hận thù.
- Thuyết nguyên tử luận của Lơxíp – Đêmôcrit nhận định vũ trụ
được cấu thành từ nguyên tử và chân không. Nguyên tử tụ lại hình thành sự vật,
tan rã thì sự vật mất. Không có thần thánh sáng tạo ra sự vật.
3. Tương đồng trong tồn tại nhận thức, thế giới quan duy vật và vô thần có
tính biện chứng sâu sắc
• Ấn Độ:
- Nhận thức luận của Nyaya thừa nhận đối tượng nhận thức tồn
tại khách quan cần phải tìm tòi thông qua bốn phương thức là cảm giác, kết luận,

Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
• Hy Lạp: Đêmôcrit, Platông, Arixtốt là những đại biểu của tầng lớp
chủ nô quý tộc, luôn xuất phát từ quan niệm bảo vệ quyền lợi của tầng lớp mình,
bảo vệ chế độ dân chủ chủ nô.
6. Tương đồng trong việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của triết học
Cả hai nền triết học đều nghiên cứu hai mặt của vấn đề cơ bản của
triết học, đi vào nghiên cứu bản thể luận, nhận thức luận, và hình thành nhiều
trường phái khác nhau.
7. Tương đồng trong việc xem triết học là con đường dẫn dắt đến chân lí
Người Ấn Độ xem triết học là con đường dẫn đến lẽ phải, đến những
chân lí siêu nhiên, còn người Hy Lạp coi triết học là sự ham hiểu biết, yêu thích
sự thông thái. Triết học được coi là một phương thức hoạt động của lý trí đào
sâu, mở rộng chính nó.
II. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ VÀ HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Khác biệt ở các nhân tố cụ thể tác động đến triết học
• Ấn Độ: triết học cổ đại chịu tác động của tôn giáo.
Do văn hóa Ấn Độ cổ đại mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng tôn
giáo nên triết học có sự đan xen của tôn giáo. Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các
lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua các bộ kinh Vêđa, Upanisát. Triết học bênh
vực và đề cao tầng lớp tăng lữ “Vì sự phồn vinh của thế giới mà từ mồm, tay, đùi
và bàn chân mình, Ngài (Bratman) đã tạo ra tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và
nô lệ”, “Do sinh ra từ bộ phận cao quý nhất của Bratman, do sinh ra sớm nhất, do
hiểu biết Vêđa mà tăng lữ có quyền làm chúa tể của các tạo vật ấy” (Luật Manu).
Tuy Jaina giáo và Phật giáo thuộc hệ thống không chính thống nhưng
tư tưởng cũng đều thể hiện quan điểm duy tâm, thần bí. Jaina cho rằng “linh hồn
là lực lượng toàn năng và tồn tại đa dạng nhưng năng lực của chúng bị hạn chế
11
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
bởi thân xác”, cần phải tu luyện máy móc theo giới luật của đạo Jaina để phát
huy sức mạnh đó. Phật giáo thì kế thừa tư tưởng truyền thống hình thành từ thời

(nặng, ỳ), chịu sự chi phối mọi sự chuyển hóa trong thế giới vật chất. Tuy nhiên,
trường phái này đã chịu sự phê phán của các trường phái khác, không duy trì
được lập trường, chuyển dần sang lập trường nhị nguyên, thừa nhận sự tồn tại
song song của hai yếu tố đầu tiên là vật chất (Prakriti) và tinh thần (Purusa).
- Trường phái Mimansa với lập trường vô thần, xem cảm giác là nguồn
gốc duy nhất của nhận thức, thế giới không có thần linh. Lời kinh tự bản thân có
sức mạnh giúp các tu sĩ nên không cần đến thần linh. Phái này cũng chịu sư phê
phán nên chuyển dần từ vô thần sang hữu thần.
• Hy Lạp: triết học cổ đại phân chia rõ ràng giữa các trường phái
duy vật – duy tâm
- Triết học Hy Lạp cổ đại đã giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học
và chia thành các trường phái khác nhau: trường phái nhất nguyên (duy vật, duy
tâm) và trường phái nhị nguyên, thậm chí còn chia ra những nhà vô thần và hữu
thần, gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị tư tưởng, trong đó điển hình là cuộc
đấu tranh giữa trào lưu triết học duy vật của Đêmôcrit và trào lưu triết học duy
tâm của Platông.
- Chủ nghĩa duy vật với các trường phái Milê, Hêraclit đều cho rằng
bản nguyên vật chất của thế giới là những yếu tố như nước (Talet), không khí
(Anaximen), lửa (Hêraclit). Điều này có ý nghĩa chống lại thế giới quan thần
thoại, chứa đựng yếu tố biện chứng chất phác, vô thần. Đặc biệt, Đêmôcrit với
thuyết nguyên tử đã đưa chủ nghĩa duy vật Ấn Độ thời cổ đại lên đỉnh cao thời
bấy giờ.
13
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
- Chủ nghĩa duy tâm của Pytago xem con số là bản nguyên thế giới,
mỗi sự vật tương ứng với một con số. Trường phái của ông chịu ảnh hưởng của
duy tâm – tôn giáo, coi linh hồn là bất tử, chi phối bởi luân hồi và nhận thức là
chức năng của linh hồn. Quan điểm duy lý của Pacmenit xem tồn tại là bản chất
chung của vạn vật, và chỉ được nhận thức bởi tư duy lí tính. Và thuyết ý niệm của
Platong với việc đưa ý niệm trở thành nguồn gốc vạn vật, đã mang đến nhiều tư

bản chất của thực thể nằm trong tồn tại; Lơxip và Đêmôcrit phỏng đoán mọi sự
vật đều được tạo thành từ những nguyên tử, là những phần tử nhỏ nhất, không
thể phân chia được nữa và số lượng của chúng là vô hạn. Hêraclit đưa ra quan
niệm mọi sự vật của thế giới luôn thay đổi, sự kết hợp của các yếu tố vật chất là
vô hạn, vì vậy cái bất biến trong thế giới chỉ có thể được thừa nhận chính là sự
biến đổi, chuyển hoá vĩnh hằng đó. Platong cho rằng sự hình thành thế giới là từ
bốn yếu tố: tồn tại (ý niệm), không tồn tại (vật chất), con số (quan hệ tỷ lệ) và sự
vật cảm tính.
- Từ thế giới quan đã hình thành, các triết gia Hy Lạp cổ đại mới đi
đến vấn đề nhân sinh quan, đạo đức, xã hội.
+ Đêmôcrit chia nhận thức làm nhận thức mờ tối và nhận thức sáng
suốt. Nhận thức mờ tối có được do nhận thức cảm tính, còn nhận thức sáng suốt
là do nhận thức lý tính, và nhận thức cảm tính chính là tiền đề của nhận thức lý
tính. Ông đã xây dựng logic học dựa trên sự đề cao nhận thức lý tính. Về quan
niệm đạo đức, Đêmôcrit đề cao hành vi cao thượng của con người, phản đối sự
giàu có quá đáng, trục lợi bất lương. Trong chính trị - xã hội, Đêmôcrit bảo vệ
quyền lợi của giai cấp của mình – tầng lớp chủ nô dân chủ. Nô lệ phải theo mệnh
lệnh của chủ.
+ Platông cho rằng nhận thức chân lý diễn ra bên ngoài hoạt động
cảm tính. Trong vấn đề đạo đức, ông quan niệm con người phải hướng đến
những ý tưởng tuyệt đối khách quan thuộc thế giới ý niệm ở trên trời để đạt được
15
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
cuộc sống hạnh phúc. Con người chỉ đạt được hạnh phúc sau khi chết. Trong
chính trị - xã hội, ông chia làm ba loại người: triết gia, chiến binh, và nông dân,
thợ thủ công, thương gia. Platông xem nô lệ không là người, không có lí trí, nằm
ngoài vòng chính trị.
4. Khác biệt ở phương thức xem xét mối quan hệ con người và vũ trụ
• Ấn Độ: cho rằng muốn nhận thức tốt thì phải hòa hợp giữa chủ thể
và khách thể với nhau.

những quan niệm riêng biệt về nhận thức, đạo đức, chính trị - xã hội của loài
người.
5. Khác biệt ở phương thức nhận thức
• Ấn Độ: thiên hướng về tư duy trực giác.
- Nhận thức trong triết học Ấn Độ bắt đầu từ luân lý đạo đức, nhận
thức gắn liền với đạo đức. Trong nhận thức, triết học Ấn Độ đề cao việc tự nhận
thức, tự hiểu. Điều này quy định tính chất trực nhận, trực giác trong triết học Ấn
Độ. Từ đó, một lôgíc kéo theo là công cụ, phương tiện nhận thức lại nghiêng về
ẩn dụ, hình ảnh.
- Trường phái Upanisat chia nhận thức làm hai hình thức: thượng trí
(chiêm nghiệm tâm linh) và hạ trí (gắn liền với trực quan cảm tính). Trường phái
Mimansa coi cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận thức.
• Hy Lạp: thiên về tư duy duy lý.
- Thế mạnh của Hy Lạp là khoa học, kỹ thuật và nhận thức luôn
hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. mãi đến chân lý qua hàng loạt
những trừu tượng, khái niệm, quy luật của Triết học Hy Lạp, đi gần toàn thể vũ
17
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn cũng do
vậy họ có xu hướng cô lập hoá, cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể .
- Các triết gia Hy Lạp đều đề cao tư duy lý tính. Xênôphan cho rằng
nhận thức cảm tính nếu không sai lầm thì cũng không đầy đủ. Bằng cảm tính
chúng ta không thể nhận thức được bản chất sự vật. Muốn nhận thức được bản
chất sự vật phải dựa vào tư duy, lý tính. Và quan điểm duy lý này đã được
Pácmênít phát triển thành chủ nghĩa duy lý. Pácmênít cho rằng bản chất của sự
tồn tại là bất biến, vĩnh hằng, đơn nhất và tồn tại – bản chất của vạn vật chỉ có thể
được nhận thức bởi tư duy lý tính.
6. Khác biệt ở khuynh hướng phát triển
• Ấn Độ: Triết học cổ đại thường tôn trọng và có khuynh hướng
phục cổ, không có những bước nhảy vọt về chất.

của Ấn Độ, sự đối đầu giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm ở Hy Lạp.
Mâu thuẫn của nó tạo tiền đề cho sự phát triển của chính nó vì mâu thuẫn sẽ biến
đổi cái cũ, sản sinh ra cái mới; mâu thuẩn trong bản thân sự vật sẽ giúp nó vận
động và phát triển không ngừng. Đặc biệt sự đối đầu duy tâm – duy vật của triết
học Hy Lạp đã đặt nền móng cho triết học thời kì sau này. Tôma Đacanh thời
trung đại đã xây dựng triết học dựa trên sự xuyên tạc học thuyết của Arixtốt.
Phơrăngxit Bêcơn thời cận đại chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng duy vật cổ đại (lý
luận về hạt giống của Anaxago, nguyên tử luận của Đemôcrit, lý luận về hình
dạng của Arixtốt). Việt Nam và đa phần các nước châu Á ngày nay vẫn chịu ảnh
hưởng của Phật giáo phát triển từ nền móng của Phật giáo Ấn Độ.
+ Thông qua sự tìm hiểu, so sánh giữa triết học Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại,
ta có thể thấy được sự phát triển đa dạng của triết học thời kì này, cũng như hiểu
thêm được phần nào vai trò, vị trí của triết học trong đời sống con người. Các tư
tưởng triết học trong việc xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan đã ảnh hưởng
sâu sắc đến tư duy nhân loại thời bấy giờ, và cũng là nhân tố tác động đến quá
19
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
trình đi sâu tìm hiểu trong thời đại ngày nay. Sự phát triển sơ khai của triết học từ
thời cổ đại, kết hợp với việc nghiên cứu lịch sử triết học, đã cho ta thấy được
những bước ngoặt trong lịch sử phát triển loài người.
+ Ngày nay, triết học đã chiếm giữ một vai trò to lớn trong quá trình tư
duy, lí luận, hướng dẫn con người trong công việc nghiên cứu khoa học, văn hóa,
xã hội, cũng như mọi mặt của đời sống. Những bài học kinh nghiệm rút ra trong
quá trình nghiên cứu lịch sử triết học sẽ giúp cho con người có được thế giới
quan, phương pháp luận, tư duy logich và nhận thức đúng đắn.

20
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Văn Mưa, Trần Nguyên Ký, Lê Thanh Sinh, Nguyễn Ngọc Thu, Bùi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status