Mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí và hoàn lưu khí quyển - Pdf 26

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mối quan hệ nhân quả là một trong những đặc thù của khoa học Địa lí và là
một trong những kiến thức cơ bản của môn địa lí ở trường phổ thông.Mối liên
hệ này biểu thị tương quan phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, quá
trình Địa lí.Như vậy, tư duy Địa lí mang tính quan hệ nhân quả. Bởi vậy, trong
quá trình giảng dạy Địa lí, việc tổ chức, hướng dẫn học sinh khai thác và xác lập
các mối quan hệ nhân quả là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của giáo viên, giúp
các em nắm sâu, nắm chắc, hiểu rõ bản chất, giải thích được nguyên nhân của
các hiện tượng Địa lí.
Đối với nội dung Địa lí tự nhiên đại cương, các mối quan hệ nhân quả giữa
các hiện tượng Địa lí là mối liên hệ khá phổ biến. Một trong các mối quan hệ đó
là mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí và hoàn lưu khí quyển. Nhiệt độ không
khí và hoàn lưu khí quyển là hai yếu tố quan trọng của khí quyển, quyết đinh
đến đặc điểm thời tiết, khí hậu của các vùng lãnh thổ trên Trái Đất. Giữa nhiệt
độ và hoàn lưu khí quyển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng mối quan hệ
đó không phải được thể hiện sẵn trên lí thuyết mà cần có sự nghiên cứu, tìm tòi
học sinh mới có thể nắm bắt được. Mặt khác nắm được mối quan hệ giữa nhiệt
độ và hoàn lưu khí quyển sẽ góp phần quan trọng trong việc phân tích, đặc biệt
là giả thích các hiện tượng, đặc điểm thời tiết, khí hậu trên Trái Đất.
Từ những vấn đề lí luận và thực tiễn trên, tác giả lựa chọn chuyên đề: “Mối
quan hệ giữa nhiệt độ không khí và hoàn lưu khí quyển”
2. Mục đích của chuyên đề
Thông qua chuyên đề, giáo viên giúp học sinh hiểu rõ bản chất, thấy được
mối quan hệ của nhiệt độ không khí và hoàn lưu khí quyển.Tạo nên những đặc
trưng về mặt khí hậu và thời tiết trên Trái Đất.
Sau khi phân tích mối quan hệ, giáo viên đưa ra một số bài tập dạng giải
thích nguyên nhân ngắn để học sinh vận dụng kiến thức vào những bài tập thực
tế.Đây cũng là dạng câu hỏi thường xuyên được sử dụng trong các đề học sinh
giỏi quốc gia.
1

2
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới nhiệt độ không khí
Nhân tố
Ảnh hưởng
Vĩ độ địa lí
Càng lên cao góc chiếu sáng của Mặt Trời (góc nhập xạ) càng nhỏ,
chênh lệch thời gian chiếu sáng (ngày và đêm) trong năm càng lớn,
nên nhiệt độ trung bình năm ngày càng giảm, biên độ nhiệt năm
ngày càng lớn.
Lục địa và
đại dương
Do tính chất vật lí của đất và nước khác nhau nên nhiệt độ trung
bình năm cao nhất và thấp nhất đều năm ở lục địa; đại dương có
biên độ nhiệt nhỏ, lục địa có biên độ nhiệt lớn. Càng xa đại dương
biên độ nhiệt năm càng tăng, do tính chất lục địa tăng dần. Nhiệt độ
không khí còn thay đổi tùy theo bờ Đông và bờ Tây lục địa, do ảnh
hưởng của dòng biển nóng, lạnh và sự thay đổi hướng của chúng.
Địa hình
Càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Sườn núi cùng chiều với ánh sáng
Mặt Trời thường có góc chiếu nhỏ hơn, nên nhận được lượng nhiệt
thấp hơn.
Hoàn lưu
khí quyển
Hoạt động của gió điều hòa nhiệt độ không khí trên Trái Đất, tạo ra
sự phân hóa nhiệt độ theo mùa của một số khu vực
Mưa
Có tác dụng hạ thấp nhiệt độ
Dòng biển
Dòng biển nóng làm tăng nhiệt độ, dòng biển lạnh làm giảm nhiệt
độ khu vực nó đi qua.

ngàn km theo chiều ngang và vài km theo chiều thẳng đứng.
Frông: là mặt ngăn cách giữa hai khối khí khác nhau về nguồn gốc, tính chất
vật lí, là nơi các yếu tố khí tượng biến đổi mạnh.
2.2. Hoàn lưu khí quyển chung
- Khái niệm: Trền bề mặt Trái Đất, sự chuyển động của không khí giữa các
đai áp cao và thấp tạo thành các hệ thống gió thổi vòng tròn gọi là hoàn lưu khí
quyển.
- Đặc điểm:
+ Khí áp và sự phân bố khí áp.
Khí áp là sức nén của không khí xuống bề mặt đất, được đo bằng trọng
lượng của cột không khí có tiết diện 1 cm
2
nằm bên trên, kéo dài từ địa điểm đó
đến giới hạn trên của khí quyển.
Các đai khí áp phân bố xen kẽ và đối xứng nhau qua đai áp thấp xích đạo.
Tuy nhiên, các vòng đai khí áp trên Trái Đất không liên tục mà bị chia cắt thành
những trung tâm khí áp.
+ Hoàn lưu gió hành tinh.
Gió mậu dịch: Không khí di chuyển từ khu áp cao cận nhiệt đới đến áp thấp
xích đạo, hướng Đông Bắc ở Bắc bán cầu, Đông Nam ở Nam bán cầu, tạo thành
gió mậu dịch
4
Gió Tây ôn đới: Từ khu áp thấp cận chí tuyến, không khí di chuyển về khu
áp thấp ôn đới, do lực Côriôlit nên chuyển thành hướng tây và gọi là gió Tây ôn
đới.
Gió Đông cực: Trên miền cực, các cao áp tồn tại quanh năm, từ đây không
khí lạnh di chuyển về khu áp thấp ôn đới, do lực Côriôlit nên chuyển thành
hướng Đông Bắc ở bán cầu Bắc và Đông Nam ở bán cầu Nam.
+ Gió mùa: là gió thổi theo mùa, hướng 2 mùa ngược nhau. Gió mùa có
phạm vi hoạt động rất rộng trên bề mặt Trái Đất nhưng gió mùa châu Á là điển

+ Từ sự hình thành dải áp thấp xích đạo và hai dải áp cao ở hai cực đã tạo
điều kiện cho sự hình thành dải áp cao động lực chí tuyến và áp thấp động lực
ôn đới.
+ Sự di chuyển của không khí giữa các vành đai khí áp này lại tạo thành các
loại gió thường xuyên trên Trái Đất.
Vì vậy, có thể nói,các đai khí áp phân bố một cách có quy luật và phụ
thuộc chặt chẽ vào các vòng đai nhiệt. Sự phân bố nhiệt độ theo quy luật địa
đới là nhân tố quan trọng trong việc hình thành hoàn lưu chung của khí
quyển.
- Tuy nhiên các vành đai khí áp trên Trái Đất không ổn định mà luôn luôn
biến đổi do nhiều nguyên nhân, trong đó sự thay đổi của nhiệt độ theo không
gian và thời gian là một trong những nguyên nhân đặc biệt quan trọng.
1.2. Phân bố nhiệt theo lục địa – đại dương ảnh hưởng đến hoàn lưu khí
quyển.
Sự khác nhau về nhiệt độ giữa lục địa và đại dương đãchia cắt các đai khí
áp, đồng thời cùng với sự phân bố nhiệt độ theo vĩ độ là nguyên nhân hình
thành nên các khối khí với tính chất khác nhau.
- Các đai áp trên địa cầu không liên tục mà bị cắt ra thành các trung tâm
hoạt động rời nhau:
Sự phân bố khí áp có tính chất vành đai, nhưng các vành đai áp không liên
tục mà đứt ra thành những khu rời rạc. Phân bố khí áp theo vành đai là phân
phối đơn giản hóa trên một mặt địa cầu lí tưởng, thuần nhất. Trên thực tế, trên
6
bề mặt Trái Đất, cùng một vĩ tuyến, chế độ nhiệt thường thay đổi từ lục địa ra
đại dương, kết hợp với ma sát của địa hình; tạo nên tình trạng gián đoạn, chia
cắt của các đai áp.
Ví dụ: Trên bản đồ đẳng áp tháng 1, đai áp cao cận chí tuyến Nam bị áp
thấp trên các lục địa Nam Mỹ, Nam Phi và Oxtraylia cắt thành ba trung tâm khí
áp với các tên gọi khác nhau: áp cao Nam Thái Bình Dương, áp cao Nam Đại
Tây Dương và áp cao Nam Ấn Độ Dương.

đúng Xích đạo. Các trung
tâm áp cao cận chí tuyến
Bắc như Axorat, Xibia bành
trướng,nối liền hành một
dảirộng lớn, thu hẹp các
trung tâm áp thấp Aixolen,
Bắc Thái Bình Dương.
+ Tháng 7 Mặt Trời
chiếu thẳng góc xuống
chí tuyến Bắc, bán cầu
Bắc được đốt nóng mạnh
nên nhiệt độ cao, áp cao
cận chí tuyến Nam di
chuyển lên phía Xích
đạo, áp cao cận chí tuyến
bắc bị thu hẹp đẩy cao,
các trung tâm áp thấp ở
bắc bán cầu mở rộng và bành chướng cả một khu vực rộng lớn.
- Tại các lục địa rộng lớn, nhiệt độ nóng, lạnh cực đoan theo mùa làm sinh
ra các trung tâm áp cao, áp thấp thay đổi theo mùa.
Trên bản đồ đẳng áp ta còn nhận thấy có những khu khí áp chỉ tồn tại từng
mùa và từ mùa nóng sang mùa lạnh tình hình khí áp trái ngược nhau. Đó là
trường hợp của những lục địa rộng lớn, mùa đông lạnh dữ dội sinh ra áp cao,
mùa hè nhiệt độ rất cao sinh ra áp thấp.
+ Trên lục địa Á – Âu, tháng 1 áp cao Xibia phát triển rộng, phía bắc phát
triển đến gần Bắc cực, phía nam bành trướng đến gần Xích đạo, làm mất hẳn
đai áp thấp ôn đới. Càng vào trung tâm, khí áp càng cao, trung tâm có khi lến
đến 1080 milibar. Theo sơ đồ phân bố khí áp bình thường, thì đáng lẽ vĩ độ của
8
Xibia phải có áp thấp, nhưng áp cao sinh ra ở đây là áp cao do nhiệt độ hóa lạnh

không khí gần sát mặt đất bị đốt nóng nhanh hơn, nở ra, tạo thành áp thấp, gió
thổi từ mặt nước vào. Về đêm không khí trên mặt đất nguội nhanh hơn, co lại,
hình thành áp cao, gió lại thổi từ đất ra biển. Gió biển bắt đầu thổi từ lúc nhiệt
độ lên cao nhất trong ngày, vào lúc 14 giờ, gió từ đất ra biển thổi sau nửa đêm
và thổi cũng nhẹ hơn gió từ biển vào do ban đêm chênh lệch nhiệt độ giữa nước
và đất ít hơn ban ngày.
Sự phân hóa nhiệt độ trên những phạm vi lãnh thổ nhỏ là nguyên nhân
chính tạo nên một số hoàn lưu địa phương.
1.5. Nhiệt độ bề mặt đệm ảnh hưởng đến hoàn lưu khí quyển.
- Nhiệt độ bề mặt đệm ảnh hưởng tới các khối khí khi đi qua nó: Những
khối khí khi đã hình thành rồi thì chuyển động từ nơi phát sinh đến những nơi
khác và qua địa phương nào lại chịu ảnh hưởng của bề mặt đệm mà thay đổi
tính chất nhiệt động lực. Ví dụ như đi qua các đại dương thì khối khí được tăng
nhiệt và ẩm, đi qua khu vực lục địa vào mùa đông thì khối khí bị lạnh và khô
hơn…. Như vậy, các địa phương mà khối khí chuyển động đến cũng đem lại
cho khối khí những đặc tính mới, làm cho các khối khí bị biến tính.
- Ngoài ra, nhiệt độ là nhân tố quan trọng trong việc hình thành bão: đến
nay vẫn chưa có nghiên cứu chính xác về nguyên nhân hình thành bão, người ta
chỉ nghiên cứu và thống kê một số điều kiện cơ bản để hình thành bão. Trong
đó, nhiệt độ là điều kiện được đưa lên hàng đầu.Bão thường được hình thành
trên khu vực đại dương với nhiệt độ cao trên 26
0
C để có thể đưa lớp không khí
tương đối ẩm và nóng hơn khí quyển xung quanh lên cao ít nhất khoảng 1km.
Nhiệt độ lớn cũng đảm bảo bốc hơi mạnh cung cấp năng lượng ngưng kết cho
hệ thống bão.
II. Hoàn lưu khí quyển tác động đến nhiệt độ không khí
10
2.1. Hoạt động của các khối khíảnh hưởng đến nhiệt độ không khí
- Chuyển động của các khối khí cùng với bức xạ quyết định nhiệt độ ở Trái

C).
+ Khí hậu ôn đới năm dưới khối khí ôn đới: nhiệt độ ôn hòa, biên độ nhiệt
nhỏ.
+ Khí hậu cực nằm dưới khối khí Bắc cực hay Nam cực: nhiệt độ quanh
năm thấp, nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 0
0
C, mùa đông đặc biệt giá lạnh.
Những khu vực mà hai mùa ở dưới hai khối khí khác nhau tạo thành các đới
khí hậu chuyển tiếp.
+ Khu vực giữa hai đới xích đạo và chí tuyến: mùa hạ ở dưới khối khí xích
đạo, mùa đông dưới khối khí chí tuyến, tạo thành đới khí hậu cận xích đạo hay
gió mùa cận xích đạo với nhiệt độ nhìn chung vẫn cao nhưng bắt đầu có sự phân
11
mùa, biên độ nhiệt năm cao hơn khí hậu xích đạo.
+ Khu vực giữa hai đới khí hậu chí tuyến và ôn hòa: mùa hạ nằm dưới khối
khí chí tuyến, mùa đông dưới khối khí cận cực là đới khí hậu cận chí tuyến hay
cận nhiệt đới. Chế độ nhiệt chia làm hai màu rõ rệt, mùa hạ nóng, mùa đông
lạnh, biên độ nhiệt năm lớn.
+ Khu vực giữa hai đới khí hậu ôn hòa và cực đới: mùa hạ ở dưới khối khí
cận cực, mùa đông dưới khối khí địa cực. Mùa hạ ngắn, mát, mùa đông lạnh và
kéo dài.
2.2. Hoạt động của gióảnh hưởng đến nhiệt độ không khí
- Ở các vĩ độ cao (từ vĩ tuyến 45
0
trở lên), bờ Tây các lục địa nhìn chung ấm
hơn bờ Đông, các đường đẳng nhiệt lên cao về phía cực phía bờ Tây và xuống
thấp về phía xích đạo phía bờ Đông các lục địa. Ngoài ảnh hưởng của dòng
biển, hoạt động của gió cũng góp phần quan trọng. Từ vĩ tuyến 45
0
trở lên thì

sự phân hóa theo mùa. Ở những khu vực vốn dĩ thuộc vành đai nóng như Ấn
Độ, Đông Nam Á, Bắc Phi, cũng có một mùa nhiệt độ xuống dưới 20
0
C do hoạt
động của gió mùa mùa đông. Như vậy, gió mùa góp phần tạo nên nhịp độ mùa
cho chế độ nhiệt.
- Ảnh hưởng của các loại gió địa phươngđến nhiệt độ:
+ Gió phơn: gió phơn là gió ẩm
vượt núi, khi chuyển động đi xuống
nhiệt độ tăng theo tính chất đoạn
nhiệt khô. Hay có thể nói, gió phơn
là gió thổi từ cao xuông thấp, khô và
nóng. Do đó những vùng có gió
phơn hoạt động, nhiệt độ cao, không
khí khô, rất khó chịu.
+ Gió đất – gió biển; gió núi – thung lũng:
Ở những vùng ven biển hay ven các hồ lớn thường có hoạt động của gió
đất, gió biển. Gió đất – gió biển thường làm đất liên mát mẻ hơn vào ban ngày,
chính vì vậy ở những khu vực gần biển, nhiệt độ thường mát mẻ, dễ chịu hơn ở
sâu trong lục địa.
Gió núi – thung lũng cũng góp phần giảm nhiệt cho sườn núi vào ban ngày
và bớt lạnh cho thung lũng vào ban đêm.
Nhìn chung, hoạt động của cả hệ thống gió hành tinh hay gió địa phương
đều góp phần điều hòa nhiệt độ không khí trên Trái Đất. Nếu không có gió,
không khí không được lưu thông, những nơi nóng sẽ rất nóng, lạnh sẽ rất
lạnh, tại những noi đó, sự sống khó tồn tại được.
2.3. Hoạt động của khí xoáyảnh hưởng đến nhiệt độ không khí
13
Hoạt động của khí xoáy làm cho thời tiết và nhiệt độ thay đổi thất thường.
Ôn đới là khu vực mà khí xoáy thường xuyên hoạt động, đặc biệt là khu vực

lại giáng xuống tạo nên sức nén hình thành áp cao; ở các vĩ độ ôn đới không khí
đối lưu nên hình thành áp thấp.
Câu 3:Tại sao ở khu vực Xích đạo, mặc dù nhận được lượng bức xạ Mặt Trời
lớn nhưng nhiệt độ trung bình năm vẫn thấp hơn khu vực Chí tuyến?
Gợi ý trả lời:
- Nhiệt độ là yếu tố khí tượng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: bức xạ
Mặt Trời, địa hình, lục địa – đại dương, hoàn lưu khí quyển,… Trong đó,
nguyên nhân chủ yếu tạo nên sự khác biệt về nhiệt độ trung bình ở Xích đạo và
Chí tuyến là do yếu tố hoàn lưu khí quyển.
-Tại XĐ mặc dù lượng bức xạ lớn song là nơi ngự trị bởi áp thấp nhiệt lực,
quanh nămkhông khí bốc lên cao, dòng thăng mạnh, lại là khu vực gió thổi đến,
mưa nhiều, độ ẩm cao… nhiệt độ không quá cao
- Chí tuyến cũng là nơi có góc nhập xạ và thời gian chiếu sáng lớn…Nơi
đây ngự trị bởi áp cao chí tuyến, dòng giáng phát triển, không khí không bốc lên
cao được, lại là nơi chỉ có gió thổi đi, không có gió thổi đến nên ít mưa, nhiệt độ
vì thế rất cao.
- Ngoài ra khu vực Chí tuyến có tỉ lệ lục địa cao hơn khu vực Xích đạo.
Câu 4:Tại sao lại có sự di chuyển vị trí của dải hội tụ nhiệt đới trong tháng 1 và
tháng 7 ?
Gợi ý trả lời:
- Sự di chuyển của dải hội tụ nhiệt đới có nguyên nhân sâu xa là do sự thay
đổi nhiệt độ của hai bán cầu Bắc và Nam theo mùa.
- Tháng 1, BCB là mùa đông, nhiệt độ lạnh, đai áp cao cận chí tuyến Bắc hoạt
động mạnh, dòng tín phong Bắc vượt qua xích đạo, đẩy dải hội tụ nhiệt đới dịch
chuyển xuống NBC.
15
- Tháng 7, BCN là mùa đông, nhiệt độ lạnh, đai áp cao cận chí tuyến Nam hoạt
động mạnh, dòng tín phong Nam vượt qua xích đạo, đẩy dải hội tụ dịch chuyển lên
BBC.
C. PHẦN KẾT LUẬN

khí hậu.
5. Ngô Đạt Tam (Chủ biên), Nhà xuất bản giáo dụcViệt Nam, năm 2009, Tập
bản đồ Địa lí tự nhiên đại cương.
6. Nguyễn Phi Hạnh, Nhà xuất bản giáo dục, năm 1983, Địa lí tự nhiên các lục
địa.
7. Hoàng Thiếu Sơn, Nhà xuất bản giáo dục, năm 1962, Địa lí tự nhiên đại
cương (Tập 2).
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status